Thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn bò sữa tại trang trại bò sữa TH true milk tỉnh nghệ an - Pdf 63

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM VĂN HỌC
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂM SÓC VÀ PHÒNG,
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRANG TRẠI BÒ SỮA
TH TRUE MILK TỈNH NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành: Thú y
Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2015 - 2020

Thái Nguyên, năm 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM VĂN HỌC


i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn
thể các thầy, cô giáo Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em
những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn, ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã chỉ bảo và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Thị Thùy
Dương, cô đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực
tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp…
Em xin chân thành cảm ơn tới Công ty cổ phần Sữa TH True – Milk, trang
trại số 8, cùng toàn thể kỹ sư, bác sĩ thú y và công nhân trang trại đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới anh Hoàng Văn Định
trưởng thú y trang trại số 8 cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại
về sự hợp tác giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn các công tác
kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã
tạo điều kiện, giúp đỡ và luôn động viên em trong suốt quá trình học tập cũng
như trong thời gian thực tập.
Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót,
kính mong được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô để em được trưởng thành
hơn trong công tác sau này.
Cuối cùng, em xin kính chúc toàn thể các Thầy, Cô giáo trong khoa Chăn
nuôi Thú y cùng gia đình và bạn bè luôn luôn mạnh khỏe, công tác tốt.
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 12 năm 2019
Sinh viên

: Cộng sự

NCKH

: Nghiên cứu khoa học

NXB

: Nhà xuất bản

Vsv

: Vi sinh vật


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu .................................................................................. 2
1.2.1. Mục đích.................................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập............................................................................. 3
2.1.1. Ví trí địa lí ............................................................................................... 3

trại.................................................................................................................... 37
4.4.2. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh viêm móng cho đàn bò sữa nuôi tại
trang trại .......................................................................................................... 38
4.4.3. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn bò sữa nuôi tại
trang trại .......................................................................................................... 39
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 41
5.1. Kết luận .................................................................................................... 41
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển nhanh số lượng đàn bò trong nước, đàn bò sữa
nước ta trong những năm gần đây tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Các
đàn bò lai F1, F2 dần được thay thế bằng đàn bò lai F3 và bò cao sản được nhập
từ Mỹ, Úc... và vì thế sản lượng sữa tươi trong nước cũng tăng, đáp ứng được
một phần nhu cầu sữa tươi trong nước.
Theo Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp, tính đến hết năm 2014, số lượng
bò sữa cả nước năm 2014 là 227.000 con (tăng 22,1% so với năm 2013). Sản
lượng sữa trong nước sản xuất ước tính là 549.533 tấn. Năm 2015 cả nước sản
xuất 1,9 tỷ lít quy ra sữa tươi. Mục tiêu đến năm 2020 tăng lên là 2,6 tỷ lít sữa
và đến năm 2025 là 3,4 tỷ lít sữa.
Tuy nhiên song hành với ngành chăn nuôi luôn tồn tại các vấn đề như
con giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc, dịch bệnh và rác thải chăn nuôi.
Trong đó dịch bệnh là khâu khó giải quyết nhất, gây thiệt hại lớn nhất, và người

nuôi tại trang trại.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Ví trí địa lí
Trại bò sữa của Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH True Mik được xây
dựng tại xã Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Huyện Nghĩa Đàn là
huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của của tỉnh Nghệ An có tọa độ 105018’
- 105035’ kinh độ Đông và 19013’ - 19033’ vĩ độ Bắc giáp ranh với các huyện:
Phía Bắc giáp huyện Như Xuân (Thanh Hoá), phía Nam giáp huyện Tân Kỳ,
phía Đông giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp.
Huyện có thị xã Thái Hòa và thị trấn Nghĩa Đàn vừa mới thành lập nằm ở
vị trí trung tâm của huyện. Với vị trí địa lý như vậy, huyện giữ vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An.
2.1.2. Điều kiện khí hậu
Nghĩa Đàn chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây
Bắc Nghệ An, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, theo trạm khí tượng Tây Hiếu,
Nghĩa Đàn có những đặc trưng khí hậu sau:
Nhiệt độ trung bình năm 23,3°C, trung bình tháng cao nhất 28 - 29°C ở
các tháng 6, 7; trung bình dưới 20°C chỉ xuất hiện ở 3 tháng 12, 1, 2. Có 6 tháng
(từ tháng 4 - 10) nhiệt độ trung bình vượt quá 25°C. Tháng có nhiệt độ trung
bình thấp nhất 18°C (tháng 1). Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm các tháng mùa
hè 8 - 11°C, mùa đông 6 - 8°C.
Trong các tháng mùa đông do nhiệt độ xuống thấp nên thường xuất hiện
sương mù, có năm bị sương muối nhưng ít ảnh hưởng đến sản xuất.
Lượng mưa trung bình 1.633mm, trong đó có trên 70% lượng mưa tập

- 63 công nhân


5

2.1.4. Cơ sở vật chất của trang trại
- Cơ sở vật chất của trang trại.
Trang trại của tập đoàn TH True Milk tại Nghĩa Đàn (Nghệ An) đạt kỷ lục
với cánh đồng trồng nguyên liệu nuôi bò và một nhà máy sản xuất chế biến sữa
tươi sạch cho ra 500 triệu lít sữa/năm.
Nơi đây hiện có 45.000 con bò sữa với hơn 22.000 con cho sữa, cho năng
suất sữa bình quân 40 lít/ con/ ngày được nuôi trong trang trại tập trung và khép
kín. Để cung cấp thức ăn cho bò, TH còn có một cánh đồng nguyên liệu hơn
2.000 ha với các loại ngô, cao lương, hướng dương, cỏ Mombasa (Mỹ).... trần
nhà của chuồng bò sữa được lợp tôn lạnh 3 lớp, có quạt gió, hệ thống phun
sương làm mát cho bò... Chúng được nghe các bản nhạc cổ điển, dân ca mỗi
ngày. Bò sữa tại trang trại TH chủ yếu được nhập khẩu từ các nước có nguồn
giống tốt, cho năng suất sữa cao, chất lượng như New Zealand, Australia....
Trang trại có chế độ ăn riêng cho từng cá thể bò với các chế độ dinh dưỡng
khác nhau: bò đang vắt sữa, bò cạn sữa, bò đang dưỡng bệnh, bê con.... Nước
uống của chúng được lọc qua hệ thống máy móc hiện đại nhập từ Hà Lan. Mỗi
cụm trại đều có một nhà máy xử lý nước sạch Amiad để cung cấp nước uống, tắm mát
cho bò sữa. Từng con bò được gắn chíp điện tử dưới chân để theo một số chỉ
tiêu của bò như số bước chân trong một ngày, độ dẫn điện của sữa,....
Trường hợp nào bị bệnh sẽ tự động loại ra khỏi khu vực vắt sữa và đảm
bảo chất lượng sữa tốt nhất. Nhà máy sản xuất chế biến sữa tươi sạch có công
suất thiết kế hơn 500 triệu lít sữa/năm, lớn nhất và hiện đại nhất châu Á cả về
quy mô lẫn công nghệ. Toàn bộ sản phẩm làm hoàn toàn từ sữa bò tươi nguyên
chất qua các quy trình được kiểm tra hàm lượng dinh dưỡng như protein, chất
béo, test kháng sinh, các chỉ tiêu lý hóa, vi sinh. TH True Milk vừa nhận danh

lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn
bò sữa.
Trong thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng ảnh
hưởng đến công tác chăn nuôi.


7

Số lượng bò sữa nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử
lý nước thải của trung tâm gặp nhiều khó khăn.
2.2. Tình hình chăn nuôi trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình Chăn nuôi bò sữa trong nước
Giai đoạn 2011 - 2016, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta đạt kết quả khá
khả quan, với đàn bò sữa gần 284 nghìn con, cho sản lượng sữa tươi đạt hơn
795 nghìn tấn. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng cao của người dân,
phấn đấu đến năm 2020 có 500 nghìn con bò và đạt một triệu tấn sữa, chúng ta
cần thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong thời gian tới.
Theo Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành
chăn nuôi bò hiện nay của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thịt và
sữa cho hơn 90 triệu người dân. Một số tỉnh, thành phố có số lượng bò sữa lớn
như: TP Hồ Chí Minh (nhiều nhất cả nước với hơn 90 nghìn con), Nghệ An
(hơn 62 nghìn con), Sơn La, Lâm Đồng (khoảng 20 nghìn con), Hà Nội (hơn
15 nghìn con)… nhưng chủ yếu vẫn ở quy mô nhỏ, chưa có sự gắn kết chặt chẽ
giữa doanh nghiệp (DN) và nông dân, quy trình chăn nuôi chưa khép kín, khiến
các hộ nuôi cá thể gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, một số công ty, tập đoàn như:
TH True Milk, Vinamilk, Mộc Châu, Hoàng Anh Gia Lai, FrieslandCampina
Vietnam... mặc dù có sự đầu tư lớn cho bò sữa, sản lượng sữa tươi nguyên liệu
cũng mới chỉ đáp ứng 35% nhu cầu thị trường
Để đáp ứng cung - cầu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người chăn nuôi
bò sữa, nhiều chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu trong chăn

lệ viêm vú phi lâm sàng là 24,8%.
Bạch Đằng Phong (1995) [12], cho rằng ở Việt Nam có thể có tới 50%
số bò đang cho sữa mắc bệnh viêm vú thể tiềm tàng.
Trịnh Quang Phong và cs (1998) [13], nghiên cứu phương pháp chẩn
đoán nhanh bệnh viêm vú ở bò sữa và biện pháp phòng ngừa thấy 3 dung dịch


9

thử nhanh là: Deterol, Teenol và LSS (Lauril Sulfata Sodium) có thể thay thế
nhau để tiến hành chẩn đoán nhanh bệnh này.
Theo Phạm Hồ Hải (2012) [4]: Nguyên nhân gây bệnh chân móng trên
đàn bò sữa phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố qui mô chăn nuôi, độ
khô thoáng của nền chuồng, sát trùng chuồng trại và phương thức cho ăn là
những nguyên nhân chính gây bệnh chân móng trên đàn bò sữa hiện nay.
Theo Lê Đăng Đảnh (2013) [3], việc vệ sinh, giữ khô chuồng nuôi và cải
thiện khẩu phần ăn, phương thức nuôi dưỡng là vô cùng quan trọng để phòng
bệnh viêm móng cho bò sữa.
Theo Phan Việt Thành (2010) [15], cải thiện chăm sóc nuôi dưỡng bằng
cách cho bò vận động đi lại tự do trong chuồng và cho ăn khẩu phần cân đối
dinh dưỡng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh chân móng, kéo dài thời gian xuất hiện
bệnh chân móng (thời gian giữ cho bò không bị bệnh chân móng được lâu hơn),
tăng lượng thức ăn thu nhận được, tăng năng xuất sữa.
Theo Phạm Quang Phúc (2005) [14] dùng dao, nạo móng cắt gọt, nạo
hết tổ chức bị hoại tử, đáy móng cắt gọt thật bằng phẳng để không còn lồi lõm,
sau đó bôi cồn lốt 5% lên chỗ bị bệnh. Nếu vết thương sâu, phải rắc
oxytetracylin hoặc mỡ penicillin, bên ngoài bôi Ichthyol. Trong thời gian điều
trị chuồng nuôi phải sạch sẽ, độn nhiều cỏ, rơm khô, không để tích tụ phân,
nước tiểu trên nền chuồng.
* Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Nghĩa Đàn, Nghệ An

và viêm vú lâm sàng của bò đều tăng theo tuổi và thời kỳ tiết sữa.
Poutrel (1983) [29], chứng minh chất keratin trong ống dẫn sữa ở đầu vú
được coi là yếu tố quan trọng giúp bà chống lại hoạt động của vi khuẩn gây
bệnh.
Theo Anri Akita và cs (2002) [2], keratin là chất ức chế vi khuẩn, nhăn
quá trình xâm nhập của vi khuẩn qua kênh núm vú đến tuyến sữa.
+ Về vi khuẩn gây bệnh.


11

Schalm và cs (1976) [34], cho rằng thành phần độc tố chính gây viêm vú
hoại thư của Staphylococcus aureus là toxin.
Macdoland và cs (1976) [26], cho biết: Các loại vi khuẩn gây bệnh viêm
vú chủ yếu là Streptococcus agalactiac và Streptococcus tuberis.
Các tác giả Heidrick và cs (1976) [23], cho rằng các vi khuẩn dạng E.coli
có thể gây viêm vú cata mãn tính ở đàn bò sữa.
Theo Wenz và cs (2001) [35], thì Coliforms có vai trò lớn trong các
nguyên nhân gây viêm vú thể cấp tính bò sữa ở Mỹ.
- Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa ở Việt Nam
Bệnh viêm vú bò sữa là vấn đề được toàn thế giới quan tâm. Tình trạng
bệnh có thể khác nhau ở mỗi quốc gia nhưng chương trình kiểm soát dịch bệnh
ở các nước thì cơ bản giống nhau (Anri Akita và cs, 2002) [2].
Ở Việt Nam, bệnh viêm vú bò sữa đã được nghiên cứu từ lâu. Nguyễn
Ngọc Nhiên (1986) [7], tiến hành phân lập vi khuẩn từ các mẫu sữa bò nghi bị
viêm vú. Đã phát hiện thấy các vi khuẩn Streptococcus agalactiac (21,3%):
Staphylococcus aureus (27,2%): E.coli (12,5%): Streptococcus uberis (13,7%)
và Klebsilla (5,1%).

 Điều trị:

Ngoài ra, móng chân bò luôn chịu áp lực rất lớn khối lượng cơ thể khi đi
đứng nên gây vỡ mạch máu nhỏ trong móng chân, vành móng, tạo điều kiện
cho vi khuẩn đi lên phía trên gây viêm khớp.
* Triệu chứng:
Bệnh thường xảy ra ở hai chân sau. Nếu nhẹ, bò vẫn đi lại nhưng chậm
chạp, dáng đi khập khiễn, các chân bị đau thẳng đơ không gấp lại khi bước đi,
sống lưng cong lên, bò đứng lên nằm xuống khó khăn, mệt mỏi, các cơ bắp thịt
chân sau bị run, bò có trọng lượng càng lớn hiện tượng bị run càng rõ. Bệnh
nặng bò ít đi lại, thích nằm, giảm ăn uống nên sản lượng sữa cũng như khả năng
sinh sản giảm nhanh. Nếu cả hai chân đều bị bệnh, con vật sẽ nằm không dậy


13

được. Do nằm lâu con vật dễ bị trướng hơi dạ cỏ, liệt dạ cỏ hoặc bị loét toàn
thân. Kiểm tra đế móng chân thấy lõm đều, dùng dao cạo vết lõm, có màu đen
như than bùn nát, mùi thối đặc biệt; quan sát rõ ở giữa đế móng, thành móng bị
nhô ra.
* Biện pháp phòng bệnh:
- Nền chuồng phải có độ dốc khoảng 3 đến 5% hướng ra hai bên nền đất
chung quanh; tráng xi măng ở những chỗ nền bị lõm, đọng nước, nhất là chỗ
bò đứng.
- Có một khoảng nền đất cao ở gần chuồng, không bị đọng nước để bò
đi lại vài giờ trong ngày sau khi vắt sữa. Bò được đi lại nhiều dưới ánh nắng
mặt trời giúp cơ thể hấp thu canxi hiệu quả, làm cho móng chân và cẳng chân
được khỏe mạnh, vững chắc hơn.
- Nên sử dụng đệm lót cao su chỗ bò nằm hoặc xây chuồng theo kiểu đi
lại tự do, có chỗ ăn riêng, chỗ vắt sữa riêng, chỗ nằm riêng. Dùng cát hoặc mùn
cưa đổ vào khu vực dành cho bò nằm nhằm làm giảm bớt thời gian bò phải
đứng trên nền xi măng cứng.

- Móng chân bị viêm (người chăn nuôi thường gọi là hà ăn chân) thì phần
móng thường bị khuyết (lõm), có khi xuất huyết hoặc mưng mủ nên có màu
nâu, đen; bò đi lại khập khiểng, đứng lên nằm xuống khó khăn, sống lưng bị
võng xuống khi viêm móng nặng ở 2 chân sau. Trong trường hợp này phải gọt
móng cho bò. Gọt sạch chỗ bị viêm, nạo hết tổ chức bị hoại tử, đáy móng cắt
gọt thật bằng phẳng để không còn lồi lõm, sau đó bôi cồn lốt 5% lên chỗ bị
bệnh. Sau đó cho bò mang guốc để tránh bị phân nhét vào. Nếu không có guốc,
nhốt bò bệnh ở một chỗ riêng, lót rơm khô và thay rơm thường xuyên. Trong
thời gian điều trị chuồng nuôi phải sạch sẽ, không để tích tụ phân, nước tiểu
trên nền chuồng. Trong trường hợp bệnh nặng, bò có biểu hiện triệu chứng toàn
thân như sốt, bỏ ăn thì chúng ta cần phải điều trị toàn thân bằng tiêm kháng
sinh (pen-strep, lincomycin, gentamycin) kết hợp thuốc giảm đau (analgine),


15

giảm viêm (dexa). Đồng thời ngâm móng chân bò trong CuSO4 5% mỗi ngày
khoảng 5 - 10 phút. Tuy nhiên, khi điều trị bằng kháng sinh thì người chăn nuôi
phải vắt bỏ sữa.
2.3. Một số bệnh thường gặp ở bò sữa
2.3.1. Bệnh viêm vú bò sữa
* Nguyên nhân: Gồm ba nguyên nhân chính
Do bản thân bò
Nguyên nhân xuất phát do chính bản thân bò sữa: tuỳ thuộc vào cá thể
của bò như giống bò, bò có bầu vú quá to và dài dễ gây xây xát, lỗ thông đầu
vú to dễ rò rỉ. Bò cao sản, sức đề kháng của bò giảm là điều kiện thuận lợi để
bệnh viêm vú xảy ra.
Do vi sinh vật
Có nhiều loại vi trùng gây bệnh viêm vú
Liên cầu khuẩn (Streptococcus): Trong các loại vi khuẩn gây bệnh viêm

bò sữa. Mặt khác nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện thuận lợi cho các
vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mang tác nhân gây bệnh phát triển và từ đó
gián tiếp gây bệnh. Tại một số nước có khí hậu theo 4 mùa, thường có một dạng
viêm vú gọi là “viêm vú mùa hè” gây ra bởi các côn trùng chích cắn truyền vi
khuẩn Corynebacterium pyogenes và một số vi khuẩn kỵ khí khác. Bệnh này
thường xuất hiện ở vùng khí hậu có độ ẩm cao (thường ở các vùng thấp, các
thung lũng). Nguyên nhân stress (tiếng ồn, thái độ chăm sóc bò, mật độ nuôi
quá cao...) làm suy giảm hệ thống miễn dịch của bò sữa, từ đó cũng làm gia
tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm vú. Đặc biệt nhiệt độ, ẩm độ cao gây ra stress nhiệt
trên bò sữa.
Chuồng trại: Chăn nuôi với hình thức hiện nay chủ yếu là nuôi nhốt, bò
ít được vận động, nền chuồng thường xuyên ẩm ướt sẽ khiến cho bệnh chân
móng của bò phát triển, cộng thêm khi bò nằm nghỉ, bầu vú bò sẽ tiếp xúc với
nền và chất lót (một ngày bò có thể nằm nghỉ tới 14 giờ) nên nguy cơ vi khuẩn


17

xâm nhập vào bầu vú là rất cao. Tuy nhiên, khi chăn thả ngoài đồng cỏ, không
kiểm soát được hoàn toàn, thì cần phải chú ý đến các tổn thương trên bầu vú từ
đó cũng dễ mắc bệnh. Tóm lại, chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng
và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao, chăm sóc quản lý không đúng kỹ thuật,
dinh dưỡng không phù hợp là nguyên nhân làm tỷ lệ bệnh viêm vú tăng cao.
Nguồn thức ăn, nước uống: Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất đối
với sự phát triển của bò. Người ta nhận thấy cũng có mối liên hệ giữa khẩu
phần ăn và bệnh viêm vú, trong đó chú ý đến mức cân bằng dưỡng chất trong
khẩu phần và việc thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn quá dư thừa nitơ đặc
biệt là nitơ phi protein là một trong những yếu tố gây ra bệnh viêm vú. Việc
sử dụng quá nhiều nitơ phi protein trong khẩu phần sẽ tác động đến hệ thống

sàng
Viêm vú lâm sàng
Viêm vú lâm sàng là sự nhiễm trùng của bầu vú thể hiện rõ triệu chứng
lâm sàng như sự thay đổi tính chất của sữa (sữa bị vón, loãng, màu sắc và mùi
khác thường), hình dạng bầu vú (bầu vú sung huyết, sưng to...) và một số trường
hợp có triệu chứng toàn thân (sốt, kém hay bỏ ăn...)
Viêm vú lâm sàng được phân chia thành các loại sau:
- Theo thời gian
Viêm vú thể quá cấp tính: Viêm vú thể quá cấp tính có đặc điểm là bệnh
xảy ra đột ngột, bầu vú viêm sưng lớn, cứng, nóng, đỏ, đau. Sữa có các chất tiết
bất thường. Viêm vú quá cấp tính có thể dẫn đến mất sữa. Sự viêm là kết quả
tác động của vi khuẩn và độc tố của chúng hay những sản phẩm của bạch cầu
(Menzies và cs, 2001) [27].
Viêm vú quá cấp tính thường kèm theo triệu chứng toàn thân do nhiễm
trùng huyết hoặc nhiễm độc huyết bao gồm: rối loạn hô hấp, tuần hoàn, sốt,
biếng ăn, suy nhược, giảm nhu động dạ cỏ, tiêu chảy, mất nước, trường hợp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status