VẬN DỤNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ ĐÃ ĐỀ XUẤT ĐỂ ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ VÀ
KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY CHẾ TẠO DẦM
THÉP VÀ XÂY DỰNG THĂNG LONG
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHẾ TẠO DẦM THÉP VÀ XÂY DỰNG THĂNG
LONG.
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty chế tạo dầm thép và xây dựng Thăng Long được thành lập ngày 26/8/1974 với
tên gọi Công ty cơ giới 4 thuộc Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng cầu Thăng Long,
nhiệm vụ chủ yếu là: sản xuất, gia công cơ khí phục vụ thi công công trình cầu Thăng
Long. Vốn của công ty chủ yếu là do nhà nước cấp. Khi công trình cầu Thăng Long sắp
hoàn thành và để phù hợp với nhiệm vụ mới, ngày 19/12/1984 Bộ giao thông vận tải
quyết định đổi tên công ty thành Nhà máy cơ khí 4.
Với những nhiệm vụ của từng thời kỳ khác nhau, đến tháng 3/1993 nhà máy đổi tên
thành nhà máy cơ khí Thăng Long.
Năm 1997, lãnh đạo nhà máy thấy rằng tên nhà máy vẫn chưa bao quát được hết chức
năng nhiệm vụ hiện nay, nên ngày 27/3/1997 nhà máy đổi tên thành nhà máy chế tạo
dầm thép và kết cấu thép Thăng Long. Ngày 9/3/1998 Bộ giao thông vận tải đồng ý đổi
tên nhà máy thành công ty chế tạo dầm thép và xây dựng Thăng Long cho phù hợp với
điều kiện hiện nay.
Công ty chế tạo dầm thép và xây dựng Thăng Long là doanh nghiệp nhà nước, tự tổ
chức sản xuất kinh doanh, hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở tài
khoản tại ngân hàng và được sử dụng dấu riêng.
-Vốn kinh doanh của công ty (1/1/1992): 2260 triệu đồng.
Trong đó:+Vốn cố định: 1581 triệu đồng.
+Vốn lưu động: 679 triệu đồng
1
Bao gồm các nguồn vốn:+Vốn ngân sách nhà nước cấp: 1567 triệu đồng.
+Vốn doanh nghiệp tự bổ sung: 471 triệu đồng.
+Vốn vay: 222 triệu đồng.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là: chế tạo kết cấu thép và dầm cầu thép, lắp đặt quản
doanh iu hnh k hoch tỏc nghip hng ngy v cụng tỏc ni chớnh; mt phú giỏm
c ph trỏch vic iu hnh sn xut theo k hoch tỏc nghip, ph trỏch cụng tỏc cht
lng k thut, cụng ngh, o to, bo h lao ng, sỏng kin, tit kim, duyt cỏc lun
chng kinh t u t mua sm v thanh lý ti sn thit b; mt phú giỏm c cú trỏch
nhim gii quyt mi vic v cụng tỏc i ngoi, chun b sn xut t xa, thanh quyt
toỏn cụng n v ụn c kim tra vic thc hin v thanh lý cỏc hp ng kinh t, hot
ng sn xut, xõy dng chin lc sn phm ca cụng ty, ng thi qun lý iu hnh
t chc sn xut v tỡm thờm vic lm cho nh mỏy dm thộp. Di ban giỏm c cú 5
phũng ban, 4 phõn xng v 3 i vi chc nng nh sau:
P h ò n g
t ổ c h ứ c
đ i ề u h à n h
P h ò n g
k i n h d o a n h
P h ò n g
k ỹ t h u ậ t
P h ò n g
t à i c h í n h
k ế t o á n
B a n g i á
N h à m á y
d ầ m t h é p
P h â n x ư ở n g
k ế t c ấ u t h é p
P h â n x ư ở n g
c ơ k h í
P h â n x ư ở n g
c ơ đ i ệ n
Đ ộ i
x â y l ắ p 1
Phòng tài chính kế toán: nhiệm vụ của phòng là chịu trách nhiệm trước giám đốc và
công ty về công tác tài chính của công ty, theo dõi quá trình chi tiêu, tổ chức bộ máy
kế toán và hạch toán toàn bộ quá trình kinh doanh của công ty.
Ban giá: có nhiệm vụ chủ yếu là tiếp cận với các chủ dự án để chuẩn bị các tài liệu
dự thầu gồm lập hồ so tuyển, tổng hợp hồ sơ dự thầu, phối hợp với phòng kế hoạch,
kỹ thuật và các bộ phận có liên qua để tham gia đấu thầu công trình. Biên dịch tài
liệu thầu đồng thời lưu giữ, quản lý hồ sơ có liên quan đến công tác đấu thầu.
Ban giám đốc cùng các phòng ban phối hợp hoạt động nhịp nhàng, mỗi phòng ban có
nhiệm vụ riêng song có sự liên hệ mật thiết với nhau trong phạm vi chức năng quyền
hạn của phòng ban mình. Dưới phòng ban là bộ phận sản xuất gồm 1 nhà máy, 3 phân
xưởng và 3 đội. Quản đốc phân xưởng là người chịu trách nhiệm mọi mặt hoạt động sản
4
4
xuất kinh doanh nội bộ của phân xưởng mình: bố trí công nhân từng tổ sao cho phù hợp
với trình độ khả năng từng người, thường xuyên giám sát kỹ thuật cho công nhân viên.
Như ta đã biết, sự thành bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào
bộ máy quản lý. Bộ máy quản lý là nơi có thể nói đến sự quyết định tồn tại phát triển
hay phá sản của một doanh nghiệp. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty theo mô hình
quản lý trực tuyến chức năng, chỉ có một cấp lãnh đạo, các điểm chức năng có nhiệm vụ
tham mưu cho cấp trên theo lĩnh vực chức năng của mình. Do vậy, mô hình này kết hợp
được ưu điểm của mô hình trực tuyến và mô hình chức năng: mỗi bộ phận chỉ nhận lệnh
từ cấp trên duy nhất, các phòng ban tham mưu cho giám đốc về các nghiệp vụ chức
năng của mình, giám đốc căn cứ vào các đề xuất đó để đưa ra các quyết định. Các
phòng ban có chức năng thực hiện, theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quyết
định đó. Với mô hình này, cơ cấu đơn giản, dễ vận hành, dễ theo dõi và kiểm tra. Đây
cũng là mô hình đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta.
3. Thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian
qua.
Trong những năm qua, do tình hình kinh tế đất nước có nhiều sự chuyển biến lớn nên đã
góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công
hiện luật thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10% nên việc làm và đầu sản phẩm không ổn
định.
Về trình độ năng lực của cán bộ công nhân viên: khả năng giao tiếp và ngoại giao của
một số phòng ban còn kém, nhiều cán bộ còn tránh trách nhiệm, không làm đúng chức
năng của mình, không chủ động trong công việc nên hiệu quả thấp.
Về tổ chức: trong điều hành còn chung chung, hời hợt, chưa sâu sát dẫn đến một số sản
phẩm chất lượng chưa tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
II. VẬN DỤNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG
KÊ ĐÃ ĐỀ XUẤT ĐỂ ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ VÀ KẾT QUẢ SẢN
XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY CHẾ TẠO DẦM THÉP VÀ XÂY DỰNG
THĂNG LONG.
1. Phân tích các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh.
6
6
Kết quả sản xuất kinh doanh là một trong các chỉ tiêu để tính được hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Một doanh nghiệp có đạt được hiệu quả kinh tế cao hay không thì điều
trước tiên là doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh
tăng lên, tiếp đó là xét đến việc sử dụng các chi phí kinh tế như thế nào.
Để thấy được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian qua,
thông qua các báo cáo tổng kết hàng năm ta có các chỉ tiêu giá trị sản xuất, doanh thu,
lợi nhuận, từ đó ta tính được các chỉ tiêu về dãy số thời gian nhằm cho mục đích đánh
giá và phân tích.
Bảng 1: Các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty thời kỳ 1997-1999. (trang
bên).
Qua bảng số liệu trên, ta thấy: trong giai đoạn 1997 đến 1999 các chỉ tiêu về kết quả sản
xuất kinh doanh của công ty đều tăng. Đạt được thành công đó là nhờ công ty có định
hướng đúng đắn mở rộng ngành nghề: vừa sản xuất công nghiệp, vừa thi công các công
trình xây lắp; cộng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên trong
toàn công ty.
Về giá trị sản xuất:
vào.
2. Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2.1. Phân tích hiệu quả sử dụng lao động.
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Việc sử dụng lao động
như thế nào cho hợp lý là điều không dễ. Công ty chế tạo dầm thép và xây dựng Thăng
Long hoạt động trên lĩnh vực công ngiệp và xây dựng nên khối lượng công việc nhiều,
quá trình lao động phức tạp đòi hỏi đội ngũ lao động phải được chuyên môn hoá cao.
Đồng thời, doanh nghiệp phải quản lý lao động cho phù hợp giữa khả năng, nhiệm vụ và
trách nhiệm khi phân công lao động để tạo ra một lực lượng lao động phù hợp về số
lượng, chất lượng, cũng như nâng cao năng suất lao động và chất lượng công việc.
8
8
Theo báo cáo về tình hình sử dụng lao động của công ty trong thời gian qua, tất cả
người lao động đều có đầy đủ công ăn việc làm. Điều này chứng tỏ công ty đã tạo được
việc làm ổn định cho công nhân, khả năng huy động lao động svào sản xuất kinh doanh
của công ty là tốt.
Để thấy được những biến động về số lượng lao động của công ty ta xem bảng sau:
Bảng 2: Lao động của công ty thời kỳ 1997-1999.
Chỉ
tiêu
Năm
Số lao động bình
quân (người)
Lượng tăng tuyệt đối
liên hoàn (người)
Tốc độ phát triển
liên hoàn (%)
Tốc độ
tăng (%)
Tốc độ tăng
2
102,68
5 NSLĐ BQ theo doanh thu (tr.đ/ng) 57,836 69,433 81,6 11,597 12,167 120,0
4
117,53
6 Mức doanh lợi theo lao động (tr.đ/ng) 6,429 6,313 7,235 -0,116 0,922 98,2 114,6
9
9
7 Thu nhập BQ tháng NLĐ (ngàn đồng) 1048,99 1226 1241,67 177,01 15,67 116,8
7
101,2
8
Qua bảng số liệu trên cho thấy: -Năng suất lao động bình quân theo doanh thu đều tăng
qua các năm. Năm 1997 cứ bình quân mỗi người lao động thì tạo ra 57,836 triệu đồng,
năm 1998 tạo ra 69,433 triệu đồng và năm 1999 tạo ra 81,6 triệu đồng. Như vậy, số
doanh thu thuần được tạo ra tính trên một người lao động năm 1998 tăng 20,04% so với
năm 1997 hay tăng 11,597 triệu đồng, năm 1999 tăng 17,53% so với năm 1998 hay tăng
12,167 triệu đồng.
Mức doanh lợi bình quân theo lao động năm 1997 cứ một người lao động thì tạo ra
được 6,429 triệu đồng lợi nhuận, năm 1998 tạo ra 6,313 triệu đồng lợi nhuận và năm
1999 tạo ra được 7,235 triệu đồng lợi nhuận. Như vậy, số lợi nhuận được tạo ra tính
trên một người lao động năm 1998 giảm 1,8% so với năm 1997 hay giảm 0,116 triệu
đồng và số lợi nhuận được tạo ra tính trên một người lao động năm 1999 tăng 14,6%
so với năm 1998 hay tăng 0,922 triệu đồng.
Thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 1998 đạt 1226 ngàn đồng tăng
16,87% so với năm 1997 (đạt 1048,99 ngàn đồng); năm 1999 đạt 1241,67 ngàn đồng
tăng 1,28% so với năm 1998. Như vậy, nhờ sự đầu tư đổi mới thêm dây chuyền sản
xuất hiện đại, cùng với việc mở rộng ngành nghề sản xuất nên công ty đã tìm kiếm
được nhiều việc làm cho người lao động, do đó thu nhập bình quân tháng của cán bộ
công nhân viên trong công ty năm 1998 so với năm 1997 tăng 177,01 ngàn đồng và
suất lao động, tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Công ty đã xây dựng nhà
xưởng, mua sắm máy móc móc thiết bị với nguồn vốn vay của ODA và thành lập thêm
một xưởng có tên gọi là nhà máy dầm thép thăng long. Với hướng đi đầu tư theo chiều
rộng của công ty là đúng, nhưng sử dụng chúng như thế nào cho hợp lý và có hiệu quả
là điều rất khó. Để biết được công ty sử dụng có hiệu quả hay không yếu tố tài sản cố
định, ta cần phải phân tích để từ đó đưa ra được những đánh giá xác đáng.
Ở phần phân tích dưới đây, tài sản cố định được dùng để phân tích là những tài sản
được tính theo giá trị còn lại.
11
11
Bảng 4: Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định bình quân.
ST
T
Chỉ tiêu Năm Tốc độ phát triển (%)
1997 1998 1999 98/97 99/98
1 Doanh thu thuần (tr.đ) 24696 31106 37536 125,96 120,67
2 Lợi nhuận (tr.đ) 2745 2828 3328 103,02 117,68
3 Tài sản cố định BQ (tr.đ)
(theo nguyên giá TSCĐ)
13867 15280 50269 110,19 328,99
4 Hiệu suất TSCĐ 1,781 2,036 0,747 114,32 36,69
5 Suất hao phí TSCĐ 0,562 0,491 1,339 87,37 272,71
6 Mức doanh lợi TSCĐ 0,198 0,185 0,066 93,43 35,68
Từ kết quả tính toán cho thấy:
Về hiệu suất sử dụng vốn cố định: năm 1997 cứ 1 triệu đồng tài sản cố định bình
quân bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được 1,781 triệu đồng doanh thu
thuần, năm 1998 thì tạo ra được 2,036 triệu đồng tăng 14,32% so với năm 1997 và
năm 1999 tạo ra được 0,747 triệu đồng giảm 63,31% so với năm 1998. Như vậy, số
doanh thu thuần tạo ra tính trên 1 triệu đồng tài sản cố định năm 1998 tăng so với
năm 1997 là 0,255 triệu đồng, còn năm 1999 so với năm 1998 giảm đi 1,289 triệu
Về hiệu suất TSLĐ: năm 1997 cứ 1 triệu đồng tài sản lưu động tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được 1,422 triệu đồng doanh thu thuần,
năm 1998 tạo ra được 1,136 triệu đồng và năm 1999 chỉ tạo ra được 0,96 triệu đồng.
Như vậy số doanh thu thuần được tạo ra tính trên 1 triệu đồng giá trị TSLĐ năm
1998 giảm so với năm 1997 là 0,286 triệu đồng và năm 1999 giảm so với năm 1998
là 0,176 triệu đồng.
Về mức doanh lợi tài sản lưu động: năm 1997 cứ 1 triệu đồng vốn lưu động tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được 0,158 triệu đồng lợi
nhuận, năm 1998 thì tạo ra được 0,103 triệu đồng và năm 1999 thì chỉ tạo ra được
0,085 triệu đồng. Như vậy, số lợi nhuận tạo ra tính trên 1 triệu đồng tài sản lưu động
năm 1998 giảm so với năm 1997 là 0,055 triệu đồng, còn năm 1999 giảm so với năm
1998 là 0,018 triệu đồng.
13
13
2.3.2. Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động.
Bảng 6: Các chỉ tiêu phản ánh tốc độ chu chuyển vốn lưu động bình quân.
ST
T
Chỉ tiêu Năm Lượng tăng (giảm)
1997 1998 1999 98 so 97 99 so 98
1 Doanh thu thuần (tr.đ) 24696 31106 37536 6410 6430
2 Lợi nhuận (tr.đ) 2745 2828 3328 83 500
3 Vốn lưu động BQ (tr.đ) 17369,5 27375,5 39091 10006 11715,5
4 Số vòng quay của VLĐ (lần) 1,422 1,136 0,96 -0,286 -0,176
5 Độ dài BQ 1 vòng quay VLĐ (ngày) 253 317 375 64 58
6 Hệ số đảm nhiệm của VLĐ 0,703 0,88 1,041 0,177 0,161
7 Số VLĐ tiết kiệm (hay lãng phí) tr.đ) - 5529,96 6047,47 - -
Qua bảng số liệu trên cho thấy:
Về số vòng quay của vốn lưu động: năm 1997 cứ 1 triệu đồng vốn lưu động thì quay
được 1,422 lần, năm 1998 quay được 1,136 lần và năm 1999 quay được 0,96 lần.
mức doanh lợi của công ty tăng lên và tiết kiệm được nguồn vốn lưu động.
2.4. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Trong sản xuất kinh doanh, vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu của mọi quá trình sản
xuất. Vốn phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để biết được tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như việc sử dụng vốn có hiệu quả hay
không, trước tiên ta cần nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn theo nguồn hình thành và theo
tính chất hoạt động, sau đó xem xét đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó.
Theo báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng năm, ta có được các
số liệu phục vụ cho việc tính toán và phân tích.
Bảng 7: Vốn sản xuất kinh doanh theo nguồn hình thành tính đến 31/12 hàng năm
Chỉ tiêu Tổng vốn sản xuất Trong đó
kinh doanh toàn Vốn ngân sách Vốn tự bổ sung Vốn huy động khác
Năm
doanh nghiệp
(trđ)
Tuyệt đối
(trđ)
% so với
tổng vốn
Tuyệt đối
(trđ)
% so với
tổng vốn
Tuyệt đối
(trđ)
% so với
tổng vốn
15
15
1997 26453 3778 14,28 2683 10,14 19992 75,58
(trđ)
% so với
tổng vốn
(tr.đ)
1996 19104 5276 27,62 13828 72,38 -
1997 26453 5542 20,95 20911 79,05 5409
1998 41023 7183 17,51 33840 82,49 6362,5
1999 118696 74354 62,64 44342 37,36 40768,5
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Vốn cố định của doanh nghiệp có đến ngày 31/12/1996 chiếm 27,62% so với tổng
vốn; năm 1997 chiếm 20,95%; năm 1998 chiếm 17,51% và năm 1999 chiếm
62,64%.
Vốn lưu động của doanh nghiệp năm 1996 chiếm 72,38% so với tổng vốn; năm 1997
chiếm 79,05%; năm 1998 chiếm 82,49% và năm 1999 chiếm 37,36%.
16
16
Năm 1999 do công ty đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất bằng nguồn vốn vay của
ODA, nên khối lượng vốn cố định tăng nhanh và chiếm tỷ trọng hơn vốn lưu động năm
1999.
Nhìn chung, vốn lưu động của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn và khối
lượng vốn tăng dần qua các năm. Vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao như vậy là do đặc
điểm hoạt động của doanh nghiệp vừa trên lĩnh vực công nghiệp và xây dựng nên khối
lượng vốn bị ứ đọng và số phải thu của khách hàng nhiều.
Bảng 9: Vốn sản xuất kinh doanh của công ty.
Chỉ tiêu
Năm
Vốn cố định bình quân
(tr.đ)
Vốn lưu động bình quân
(tr.đ)