XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ ĐỂ ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU.
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, các mối
quan hệ xã hội và sự ràng buộc giữa các bên trong hoạt động sản xuất kinh doanh bị
xoá nhoà, tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả là hoàn thành các
chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước giao. Do vậy, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hầu như
không tồn tại, không thúc đẩy được doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của đơn vị mình. Với thực trạng hoạt động như vậy, công tác báo cáo thống kê là
không cấp thiết, mang tính hình thức, các cơ quan chức năng khó nắm bắt được chính
xác tình hình sản xuất kinh doanh.
Cùng với sự mở cửa nền kinh tế là sự thay đổi lớn lao trong tư duy kinh tế của nhà
nước, mọi thành phần kinh tế đều có điều kiện tham gia vào các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Họ hoạt động với phương thức tự chủ về tài chính và tự thực hiện hạch
toán thu chi. Do đó, hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũ không còn hợp lý, đòi hỏi phải có sự
thay đổi trong hệ thống chỉ tiêu nói chung và thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh nói
riêng.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo bao quát được
mọi mặt của các yếu tố cấu thành hiệu quả, phải mang tính tổng hợp bao gồm các chỉ
tiêu hiệu quả bộ phận và phản ánh các khía cạnh khác nhau của hiệu quả chung.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh cần bảo đảm các yêu cầu sau:
Số lượng các chỉ tiêu phải đủ lớn để bao quát hết những mặt cơ bản có liên quan tới
hiệu quả chung.
Các chỉ tiêu được chọn phải là những chỉ tiêu đặc trưng nhất, đồng thời phải phản
ánh và phân tích được mối quan hệ tồn tại khách quan giữa các mặt, các bộ phận.
Các chỉ tiêu được chọn phải đảm bảo có nội dung, phạm vi và đơn vị tính phù hợp
với yêu cầu đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu hiệu quả, lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh được chia thành hai phần:
hiệu quả sử dụng nguồn lực và hiệu quả chi phí thường xuyên, trong đó mỗi loại lại
C
= =
¶
Chỉ tiêu H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu ra.
Chỉ tiêu H được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi
phí thường xuyên đến kết quả kinh tế.
b) Dạng nghịch
E
Chi phÝ kinh tÕ
KÕt qu kinh tÕ
C
Q
= =
¶
Chỉ tiêu E cho biết để có được một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào.
Chỉ tiêu E là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực và chi phí
thường xuyên.
2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế (Q) và chi phí kinh tế (C).
2.1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế (Q).
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những sản phẩm mang lại lợi ích tiêu
dùng xã hội được thể hiện là sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm dịch vụ. Những sản
phẩm này phải phù hợp với lợi ích kinh tế và trình độ văn minh của tiêu dùng xã hội.
Nó phải được người tiêu dùng chấp nhận. Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được biểu thị bằng các chỉ tiêu hiện vật và các chỉ tiêu giá trị. Kết quả kinh
doanh có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, phân tích kết quả cùng với phân
tích điều kiện sản xuất kinh doanh sẽ giúp ta đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Vì thế, việc phân tích kết quả sản xuất kinh doanh là vô cùng quan trọng và cần
thiết.
a) Các chỉ tiêu tính bằng đơn vị hiện vật.
Nửa thành phẩm là chỉ tiêu theo dõi kết quả sản xuất của một sản phẩm hoặc một
• Nội dung kinh tế: Tuỳ từng điều kiện mỗi doanh nghiệp có thể tính GO theo hai
loại giá.
- Chỉ tiêu GO tính theo giá so sánh (cố định) bao gồm:
+ Giá trị thành phẩm làm bằng nguyên vật liệu của xí nghiệp gồm cả thành phẩm bán
ra, tồn kho và gửi bán.
+ Giá trị thành phẩm làm bằng nguyên vật liệu của khách hàng (kể cả giá trị vật tư và
giá trị chế biến). Trong thực tế nếu doanh nghiệp nào không có giá trị thành phẩm làm
bằng nguyên vật liệu của khách hàng thì không phải tính nội dung này.
+ Giá trị phế liệu, phế phẩm, thứ phẩm, phụ phẩm thu hồi đã tiêu thụ được.
Phụ phẩm: là những sản phụ phát sinh khi sản xuất sản phẩm chính.
+ Giá trị dịch vụ công nghiệp đã hoàn thành cho bên ngoài như: sửa chữa máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải cho khách hàng, gia công ngắn và hoàn chỉnh sản phẩm cho
khách hàng.
+ .Những chênh lệch giữa cuối và đầu kỳ của sản phẩm trung gian (sản phẩm dở dang
và nửa thành phẩm). Có hai loại dấu: dương (+) và (-). Đầu kỳ dùng nhiều hơn so với
cuối kỳ mang dấu âm và ngược lại.
+ Giá trị cho thuê máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất chính.
- Chỉ tiêu GO tính theo giá hiện hành bao gồm:
+ Doanh thu tiêu thụ sản phẩm chính.
+ Doanh thu tiêu thụ sản phẩm phụ.
+ Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm, thứ phẩm, phụ phẩm thu hồi trong kỳ.
+ Doanh thu cho thuê máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất chính.
+ Chênh lệch cuối và đầu kỳ thành phẩm tồn kho.
+ Chênh lệch cuối và đầu kỳ thành phẩm gửi bán.
+ Chênh lệch giữa cuối và đầu kỳ sản phẩm trung gian.
+ Giá trị công việc dịch vụ công nghiệp.
• Ý nghĩa: Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất được sử dụng để tính toán hàng loạt các
chỉ tiêu kinh tế khác như: năng suất lao động, giá thành tổng hợp, hiệu năng sử
dụng lao động, tài sản,...Muốn tính được phần giá trị tăng thêm, trước hết phải
tính được chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất.
kinh doanh và thu nhập của doanh nghiệp.
Thuế VAT là thuế gián thu, người tiêu dùng phải chịu nhưng lại thông qua kết quả sản
xuất của doanh nghiệp nên không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh và thu
nhập của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu VA được tính theo phương pháp SNA, là một bộ phận của giá trị sản xuất của
doanh nghiệp, là cơ sở để tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc
dân (GNP) của nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh phần giá trị mới sáng tạo của từng
doanh nghiệp đóng góp vào chỉ tiêu chung của nền kinh tế.
Chỉ tiêu giá trị gia tăng thuần (NVA).
• Khái niệm: Giá trị gia tăng thuần là chỉ tiêu biểu hiện toàn bộ giá trị mới được sáng
tạo trong năm của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của doanh nghiệp.
• Nội dung kinh tế: Chỉ tiêu giá trị gia tăng thuần bao gồm:
+Thu nhập lần đầu của người lao động.
+Thuế sản xuất.
+Lãi (lỗ) của doanh nghiệp.
• Ý nghĩa: Chỉ tiêu NVA phản ánh kết quả tổng hợp nhất những cố gắng của
doanh nghiệp trong quản lý và tổ chức sản xuất. Đối với mọi doanh nghiệp,
điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển là giá trị gia tăng thuần phải không
ngừng tăng lên. Giá trị gia tăng thuần là nguồn gốc cho việc cải thiện mức sống
cho người lao động. Một phần của nó đóng góp cho xã hội, phần còn lại được
sử dụng để trích lập các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ
phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất
việc làm, quỹ khen thưởng,...
Chỉ tiêu doanh thu:
• Khái niệm: Doanh thu là chỉ tiêu tổng hợp tính bằng tiền bao gồm toàn bộ
giá trị sản phẩm mà doanh nghiệp đã tiêu thụ và thu tiền về trong một thời
kỳ dưới dạng tiền mặt hay thông qua chuyển khoản ở ngân hàng.
• Nội dung kinh tế: Chỉ tiêu doanh thu được tính theo giá hiện hành bao gồm:
- Giá trị sản phẩm vật chất và các dịch vụ đã hoàn thành được tiêu thụ ngay
trong kỳ báo cáo.