PHẤN ĐẤU HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN VÀ LÂU DÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 63

Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là nhiệm vụ cơ bản và
LÂU DàI củA CáC DOANH NGHIệP hoạT Động trong cơ chế
thị trờng
I. Khái niệm và các phơng pháp phân loại chi phí trong giá thành
1. Khái niệm giá thành và các cách phân loại chi phí trong gía thành
a. Khái niệm giá thành
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố cơ
bản:
- T liệu lao động nh nhà xởng, máy móc, thiết bị và những TSCĐ khác.
- Đối tợng lao động nh nguyên vật liệu, nhiên liệu...
- Sức lao động của con ngời.
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá
trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tơng ứng. Tơng ứng với
việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản cố định, tơng ứng
với việc sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu... là những chi phí về nguyên liệu,
vật liệu, nhiên liệu, tơng ứng với việc sử dụng lao động là chi phí tiền công,
tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế... Trong điều kiện nền kinh tế hàng
hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí trên điều đợc biểu hiện bằng
tiền, trong đó chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là
biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, còn chi phí về khấu hao tài
sản cố định, chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền
của hao phí về lao động vật hoá.
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đến hoạt
động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinh doanh
và hoạt động khác không có tính chất sản xuất nh hoạt động bán hàng, hoạt
động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp... chỉ những chi phí để
tiến hành các hoạt động sản xuất mới đợc coi là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong suốt quá

phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhng cha thực tế phát
sinh. Ngợc lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí phải trả trong
kỳ và chi phí trả trớc đợc phân bổ trong kỳ.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất
của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhng lại liên quan đến chi
phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và gía thành có mối quan hệ rất mật thiết
vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí
doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất trong kỳ là
căn cứ là cơ sở để tính gía thành của sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn
thành, sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh
hởng trực tiếp đến gía thành sản phẩm hạ hoặc cao. Quản lý gía thành phải
gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Để làm rõ hơn bản chất của chi phí ta hãy xem xét nó trong mối quan hệ
với giá trị và giá cả hàng hoá.
Quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá trị.
Về kết cấu cả chi phí và giá trị đều bao gồm ba bộ phận C - V và m. Tuy
nhiên chi phí và giá trị có sự khác nhau cả về lợng lẫn chất. Trớc hết, chi phí là
biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà
doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ kinh doanh. Còn giá trị hàng hoá là lợng lao
động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm, trong đo
bằng lợng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá. Chi phí
là một đại lợng cụ thể còn giá trị mang tính trừu tợng.
Mặt khác, chi phí chủ yếu bao gồm hai bộ phận đầu của giá trị sản phẩm.
Các Mác viết : "Về mặt số lợng, chi phí sản xuất TBCN của hàng hoá khác với
giá trị của hàng hoá vì rằng nếu V= K + m thì K = V - m. Hao phí về lao động
trong chi phí chỉ là một phần của toàn bộ lợng lao động kết tinh trong giá trị
hàng hoá. Điều đó có nghĩa là giữa giá trị và chi phí còn một khoản chênh

do đó nó là căn cứ xác định các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp đa ra các phơng án sản xuất, các quyết định
đúng đắn về chính sách sản phẩm, các biện pháp tổ chức sản xuất kinh doanh
sao cho hiệu quả nhằm mục tiêu thu lợi nhuận cao.
- Giá thành sản phẩm là cơ sở chính sách để kiểm soát tình hình, chất l-
ợng các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến chi phí phát sinh không hợp lý để loại trừ.
Mặt khác, các doanh nghiệp thấy rõ sự cần thiết và khả năng của doanh nghiệp
trong việc giảm từng loại chi phí để có hớng đầu t tích cực, hạ thấp tối thiểu
mức chi phí trong từng khoản mục cấu thành giá thành sản phẩm.
- Giá thành sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu khác, nó vừa
là mục tiêu, vừa là kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu khác nh: tăng năng
suất lao động, giảm định mức tiêu hao nguyên vât liệu,nhiên liệu, năng lợng,
chỉ tiêu về chất lợng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị,
nâng cao hiệu quả của bộ máy quản trị.
- Giá thành sản phẩm là một công cụ sắc bén trong việc hạch toán kinh
doanh, tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế nội bộ
doanh nghiệp.
Với vai trò và ý nghĩa nh vậy, chỉ tiêu giá thành sản phẩm đòi hỏi phải đ-
ợc tính toán chính xác. Những chi phí đa vào gía thành sản phẩm phải phản
ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và
các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động
sống. Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị
trong gía thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Chính vì vậy trong công tác quản lý doanh nghiệp, nhất là trong cơ chế thị
trờng hiện nay, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn đợc các
nhà quản lý quan tâm. Thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm, những quản lý doanh nghiệp nắm vững đợc chi phí sản xuất

Bảng 1: Nội dung của yếu tố chi phí sản xuất và khoản mục tính gía
thành sản phẩm
Yếu tố chi phí sản xuất Khoản mục tính gía thành
1. Nguyên vật liệu chính mua ngoài
2. Vật liệu phụ mua ngoài
3. Nhiên liệu mua ngoài
1. Nguyên vật liệu chính
2. Vật liệu phụ
3. Nhiên liệu dùng vào sản xuất
4. Năng lợng mua ngoài
5. Tiền lơng CNVC
6. Bảo hiểm xã hội CNVC
7. Khấu hao TSCĐ
8. Các chi phí khác bằng tiền
4. Năng lợng dùng vào sản xuất
5. Tiền lơng của CNSX
6. BHXH của CNSX
7. Khấu hao TSCĐ dùng vào sản xuất
8. Chi phí phân xởng
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
10.Thiệt hại về ngừng SX và SP hỏng
11. Chi phí ngoài sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp phân bổ chi phí vào giá thành, ngời
ta chia ra: Chi phí trực tiếp và chi phí gián
- Chi phí trực tiếp là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với quá
trình sản xuất ra từng loại sản phẩm và đợc tính trực tiếp vào giá thành của đơn
vị sản phẩm hay loại sản phẩm. Chi phí trực tiếp bao gồm:
+ Tiền lơng và bảo hiểm xã hội của sản xuất.
+ Nguyên vật liệu chính, phụ dùng vào sản xuất.
+ Nguyên liệu, động lực dùng vào sản xuất.

bảo hiểm, tiền thuê đất đai, tiền lơng của những ngời quản lý...
Thông thờng chi phí trực tiếp là chi phí biến đổi, còn một số bộ phận
trong chi phí gián tiếp thuộc chi phí cố định.
Nhờ cách phân loại này ngời ta có thể đánh giá chính xác hơn tính hợp lý
của chi phí sản xuất chi ra. Mặt khác đó là cơ sở quan trọng để xác định sản l-
ợng sản phẩm tối thiểu và xây dựng một chính sách giá cả hợp lý linh hoạt đối
với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng.
Ngoài việc phân loại chi phí theo các cách chủ yếu trên đây, trong thực tế
còn rất nhiều cách phân loại khác nữa, chẳng hạn nh căn cứ vào cấu thành của
chi phí, căn cứ vào quá trình luân chuyển của chi phí... Bằng những tiêu thức
phân loại khác nhau, cho phép nhà quản trị doanh nghiệp với những mục tiêu
cụ thể sẽ vận dụng ý nghĩa của từng phơng pháp vào quá trình phân tích và
quản lý chi phí, nhằm đạt hiệu quả cao hơn.

2. Các nhân tố ảnh hởng đến gía thành sản phẩm
a. Nhân tố công nghệ - kỹ thuật sản xuất
Giá thành sản phẩm phụ thuộc nhiều vào cấu trúc sản phẩm, quá trình
công nghệ sản xuất và máy móc thiết bị. Sản phẩm thiết kế càng hợp lý thì vừa
có chất lợng cao lại vừa giảm đợc chi phí nguyên vât liệu, năng lợng để sản
xuất ra sản phẩm. Với công nghệ tiên tiến, khép kín, máy móc thiết bị hiện đại
càng làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí tiêu hao nguyên vât liệu, nhiên
liệu, năng lợng, là tăng sản lợng sản phẩm ... điều đó cho phép hạ chi phí sản
xuất, góp phần hạ giá thành sản phẩm.
b. Các định mức kinh tế - kỹ thuật
Định mức kinh tế - kỹ thuật là cơ sở cho việc tính các chi phí trong gía
thành. Đồng thời đó là chỉ tiêu để quản lý các chi phí trong sản xuất, đánh giá
kiểm tra chất lợng công tác.
Nếu định mức xây dựng các chi phí cao, không hợp lý sẽ gây nên tình
trạng lãng phí. Các đơn vị sản xuất do thực hiện các định mức dễ dàng nên
không đầu t biện pháp để tiết kiệm các chi phí, sẽ không khuyến khích ngời

là doanh nghiệp tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm, làm cơ sở cho việc doanh nghiệp
tăng năng suất lao động, tăng thời gian sử dụng máy móc... điều đó đồng nghĩa
với việc doanh nghiệp đã giảm đợc chi phí cho một đơn vị sản phẩm.
Đối với thị trờng đầu vào: nơi cung cấp các yếu tố đầu vào nh nguyên vât
liệu, nhiên liệu... để doanh nghiệp tiến hành sản xuất. Sự biến động và tính
chất giá cả thị trờng có ảnh hởng đến giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp phải
luôn chủ động tìm hiểu thị trờng, phán đoán khả năng, diễn biến của thị trờng
về giá cả và khối lợng vật t hàng hoá trên thị trờng, từ đó có những biện pháp
ứng phó thích hợp, nhằm tiết kiệm chi phí, góp phần hạ gía thành.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến giá thành sản phẩm. Các
doanh nghiệp cần xem xét kỹ các nhân tố trên, tù đó xác định cho doanh
nghiệp phơng hớng hạ thấp giá thành sản phẩm, thích ứng với điều kiện và tình
hình của doanh nghiệp mình.

3. Cách phân loại giá thành sản phẩm
a. Phân loại gía thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính gía thành.
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính gía thành, giá thành sản phẩm
chia làm 3 loại:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status