THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM - Pdf 63

Thực trạng công nghệ và hoạt động chuyển giao
công nghệ tại Việt Nam
I. thực trạng công nghệ và hoạt động chuyển giao công nghệ
tại Việt Nam.
1. Khái quát chung về thực trạng công nghệ Việt Nam hiện nay.
1.1. Mức độ tiên tiến của công nghệ
Về toàn cảnh công nghệ Việt Nam có thể khái quát nh sau: "Công nghệ
Việt Nam ở mức trung bình kém, cố gắng đến 2005 đạt trình độ trung bình khá
của khu vực"
[1]
Theo đánh giá của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng đăng trên tạp chí
" Kinh tế Việt Nam và thế giới "số 71 xuất bản tháng 6/1999, và cũng theo báo
cáo của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng trình Chính phủ cho thấy một tổng
quan về Công nghệ Việt Nam. Công nghệ Việt Nam lạc hậu so với các nớc trên
thế giới khoảng 50 đến 100 năm. So với mức trung bình của thế giới thì thiết bị
của ta hiện nay lạc hậu từ 2-3 thế hệ hoặc 4- 5 thế hệ tuỳ từng lĩnh vực chuyên
ngành cụ thể. Kết quả điều tra thực trạng máy móc thiết bị và công nghệ ở 2292
Doanh nghiệp nhà nớc cho thấy hiện có 1217 doanh nghiệp có các loại máy móc
thiết bị hỗn tạp, có xuất xứ từ gần 20 nớc trên thế giới khác nhau. Trên 11000 doang
nghiệp có 50% máy móc thiết bị đã quá cũ.
Theo một báo cáo khác của Bộ công nghiệp cũng cho hay qua khảo sát ở 727
thiết bị và dây chuyền công nghệ tại 42 nhà máy thì có tới 70% thiết bị mới nhập
thuộc thế hệ những năm 50 - 60 thế kỷ 20, trên 70% thiết bị đã hết khấu hao, 50%
thiết bị đợc tân trang lại. Trình độ công nghệ kỹ thuật và thiết bị máy móc ở các
doanh nghiệp nhỏ còn yếu kém hơn. Trên 1/2 doanh nghiệp này mua máy móc cũ
điều này dẫn đến sản phẩm kém chất lợng, doanh nghiệp không có khả năng đổi
mới và sáng tạo ra sản phẩm mới. Trong 2733 doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế đóng trên điạ bàn Hà Nội có 90- 92% thuộc loại này
[2]
.
[1]

3,8 2,6 3,0 2,6 2,8 2,2 1,9 1,8 1,5 1,3
Nguồn: Danh Sơn. Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà Nớc ở Việt Nam
- thực trạng, vấn đề và giải pháp -T/c Nghiên cứu kinh tế số 264-5/2000, tr 4.
Việc huy động và khai thác công nghệ- thiết bị lạc hậu đã qua sử dụng làm
cho khoảng cách tụt hậu về công nghệ so với thế giới ngày càng xa. Trong các
lĩnh vực: lắp ráp điện, lắp ráp xây dựng, thuỷ sản đông lạnh lạc hậu 1-2 thế hệ;
điện, giấy sửa chữa, máy lâm nghiệp, đờng mía lạc hậu 2-3 thế hệ; đờng sắt đờng
bộ, đóng tàu cơ khí là 3-5 thế hệ. So với các nớc trong khu vực công nghệ của ta
lùi xa về thế hệ khoảng 15 - 20 năm trong ngành điện tử, 20 năm trong ngành cơ
khí; 3-5 thập kỉ đối với công nghiệp sản xuất giấy in, giấy bao bì. 70% công nghệ
dệt, sợi, nhuộm đã sử dụng trên 20 năm; công nghệ sản xuất phân bón đã sử dụng
từ 25 - 30 năm
[4]
.
Do công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất ở Việt Nam rất thấp, mức hao phí
năng lợng nguyên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm ở mức cao từ đó làm hạn chế
tính cạnh tranh hàng hoá Việt Nam. Cụ thể năng suất ở Việt Nam chỉ bằng 30%
[2]
[2]
Đoàn Châu Thanh - Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam trong công cuộc CNH - HĐH nền
kinh tế - Luận văn thạc sĩ - Trờng Đại học Ngoại thơng
[3]
[3]
Nguyễn Mạng Hùng - Thực trạng đầu t đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc - Tạp chí
kinh tế và dự báo số 11/2002
[4]
[4]
Nguyễn Mạnh Hùng - Giảm chi phí sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt
Nam - Tạp chí kinh tế và dự báo số 11/2002
mức trung bình của thế giới. Tiêu hao phí năng lợng so với các nớc trên thế giới ở

[5]
[5]
Nguyễn Mạnh Hùng - Giảm chi phí sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt
Nam - Tạp chí kinh tế và dự báo số 11/2000
[6]
Hiện nay chỉ có khoảng 2% (gần 3000 doanh nghiệp) trong tổng số doanh
nghiệp Việt Nam có Website riêng, và khoảng 8% số doanh nghiệp tham gia có
tính phong trào hoặc mới bắt đầu đi vào thử nghiệm. Đã thế số doanh nghiệp
tham gia "thơng mại điện tử" chủ yếu dừng lại ở giai đoạn 1 và 2 của quy trình
giao dịch "thơng mại điện tử" nên hiệu quả còn thấp. Có tới 97% số doanh nghiệp
cha thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Với 90% số doanh nghiệp cha tham gia
"thơng mại điện tử", đây thực sự là một vấn đề đáng lo ngại
[7]
.
Cho đến nay mới có khoảng chục sản phẩm điện tử - tin học mang thơng hiệu Việt
Nam do các công ty trong nớc thiết kế, chế tạo nh (Vietronics, Gvec, VTB, VTD,
Setro, Jec..), máy tính cá nhân (CMT,Genpacific...) số doanh nghiệp tham gia tăng
nhanh, nhng doanh số thanh toán không lớn, không đứng vững trên thị trờng và
không có sức mạnh cạnh tranh ngay cả với các sản phẩm điện tử nớc ngoài sản
xuất tại Việt Nam.
Ngành sinh học
Dựa trên công nghệ sinh học để thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá là một
bớc quan trọng để thúc đẩy công nghiệp hoá ở nông thôn. Vì nớc ta là một nớc
nông nghiệp, 80% số dân ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp chiếm 27,2%
[8]
.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với công nghiệp hiện đại hoá nông thôn
đúng theo tinh thần văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành sinh học.
Công nghệ sinh học bao gồm từ kỹ thuật chọn, lai tạo giống truyền giống,

vật liệu. Các loại vật liệu này chỉ là vật liệu của giai đoạn tiền công nghiệp hoá.
Trong khi đó công nghiệp chế biến và sử dụng nguyên liệu khoáng sản truyền
thống lạc hậu so với thế giới từ 30-100 năm.

Ngành cơ khí chế tạo
Ngành cơ khí chế tạo của Việt Nam lạc hậu từ 3-5 thế hệ (khoảng 50-100
năm) so với thế giới. Hệ số cơ giới hoá trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp
của Việt Nam đạt khoảng 50% (còn ở giai đoạn đầu của cơ khí hoá), tỷ lệ tự động
hoá không đáng kể, nhiều khâu lao động còn thủ công.
Cả nớc hiện nay có khoảng 39000 máy công cụ thì trong đó hơn 10000
chiếc là do Việt Nam tự chế tạo từ những năm 50 của thế kỷ 20, số còn lại nhập từ
Liên Xô (cũ) và Đông Âu đã lạc hậu ngay từ lúc lắp đặt, chỉ có 1% là máy hiện
đại mới nhập gần đây. Những minh chứng sau cho thấy sự yếu kém của ngành cơ

khí nớc ta: Việt Nam mới chỉ đóng đợc tàu đi biển trọng tải lớn nhất là 6,5 vạn tấn
song động cơ chủ yếu là nhập khẩu (tàu Vĩnh Thuận do nhà máy đóng tàu Bạch
Đằng thực hiện).Trong khi đó các nớc trên thế giới đã đóng tàu chở hàng có trọng
tải 20 vạn tấn, tàu chở dầu 1 triệu tấn.
Theo ông Nguyễn Xuân Chuẩn Thứ trởng Bộ công nghiệp chủ tịch hội kỹ s ô
tô Việt Nam cho biết: ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới đợc hình thành
song công nghệ không tơng xứng với trình độ thế giới, công nghệ còn nghèo nàn
lạc hậu, 70% số lợng công nghệ cần phải đợc thay thế tính từ năm 1995 đến năm
2000 .. Chúng ta mới chế tạo hoàn chỉnh động cơ diezel 50 ml còn các nớc tiên
tiến khác đã chế tạo hoàn chỉnh động cơ diezel 20000 - 30000 ml.
Trong ngành đờng sắt tổng sức kéo sử dụng trong đờng sắt Việt Nam không
lớn (250.000 CV) gồm 11 chủng loại khác nhau do hơn 20 nớc chế tạo. Đặc biệt
loại đầu máy TY- 7 do Liên Xô (cũ) chế tạo chiếm quá nửa số lợng đầu máy hiện

.
Việt Nam đang chế tạo lò điện luyện thép 40 tấn/mẻ, trong khi thế giới có lò
sản suất 500 tấn/ mẻ. Dung tích của lò cao Thái Nguyên, con chim đầu đàn của
ngành luyện kim Việt Nam là 100m
3
tức là bằng 1/20 lần so với thế giới (2000-
5000m
3
). Công nghệ cũ nát này đã ngốn rất nhiều nguyên liệu. Lò điện ở Việt
Nam tiêu hao điện năng 900- 1000 kw/ tấn thép so với 400- 500 kw / tấn của thế
giới.

Theo ông Nguyễn Hữu Thơ - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty thép Việt
Nam cho biết: hiện nay nớc ta có 35 doanh nghiệp sản xuất thép, 40 cơ sở cán
thép. Nếu tính tổng sản lợng thép sản xuất ra của các nhà máy sản xuất thép
(Công ty thép Đà Nẵng, Công ty thép Miền Nam, Công ty gang thép Thái
[10]
[10]
Lê Huy Khôi - Hớng đi nào cho ngành thép Việt Nam - Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2002, Tr.18.

Nguyên) hiện nay sản lợng thép của cả nớc ớc khoảng 3,454 triệu tấn thép
năm
[11]
.
Ngành sản xuất xi măng
Hiện cả nớc có tất cả 65 nhà máy xi măng, trong đó chỉ có 10 nhà máy lò
quay hiện đại với tổng công xuất thiết kế là 15,2 triệu tấn / năm, 55 nhà máy xi
măng lò đứng công nghệ lạc hậu với công suất thiết kế 3 triệu tấn / năm. Ngoài ra
còn có 40 trạm nghiền xi măng với tổng công suất thiết kế 43,35 triệu tấn / năm.
Do công nghệ lạc hậu nên chủng loại xi măng sản xuất hiện nay còn nghèo, chủ

Thách thức phát triển ngành dệt - Báo công nghiệp và Thơng mại số 27 - 2002, Tr.10
Chất lợng vải của ngành dệt Việt Nam còn nhiều hạn chế. Trong một lô hàng
đa vào may thì khổ vải phải đồng đều, màu sắc phải đúng mẫu, các lỗi chỉ cho
phép bình quân 30 - 40 m một lỗi. Tuy nhiên các công ty dệt trong nớc cha đáp
ứng đợc yêu cầu này, nguyên nhân chính là do công nghệ trong ngành dệt của ta
còn nhiều lạc hậu.
1.2. Giá cả của công nghệ.
Giá cả của công nghệ đợc biểu hiện bằng tiền của giá trị công nghệ. Thông
thờng với những công nghệ có trình độ kỹ thuật hiện đại,có hiệu quả thơng mại
cao sẽ có giá cao. Tuy nhiên điều này lại không hoàn toàn đúng với thực tế của
các vụ CGCN nớc ngoài vào Việt Nam.
Do thiếu những thông tin về thị trờng CGCN trên thế giới, cũng nh các thông
tin có liên quan tới đối tợng công nghệ chuyển giao vì vậy phía Việt Nam gặp rất
nhiều khó khăn trong việc xác định đúng giá cả công nghệ. Mặt khác do thiếu
kinh nghiệm, kiến thức liên quan đến CGCN cùng với những biểu hiện yếu kém
về phẩm chất của một số cán bộ thực hiện CGCN đã làm cho phía Việt Nam chịu
thua thiệt lớn về giá cả khi CGCN. Giá cả của công nghệ đợc chuyển giao trong
các dự án thờng bị khai khống rất nhiều so với giá trị thực có của nó, và đặc biệt
là đối với các dự án liên doanh. Song vì các lý do khác nhau, mà rất ít ngời và các
cơ quan ban hành có thể biết đợc những thua thiệt về giá cả của các công nghệ n-
ớc ngoài chuyển giào vào trong nớc.
Để minh chứng cho những nhận định trên, ngời viết xin đa ra một số ví dụ
điển hình về các trờng hợp khai khống giá công nghệ đợc chuyển giao.
Trong dự án liên doanh gia cầm giữa Việt Nam và Thái Lan, phía Thái Lan
thực hiện góp vốn bằng dây chuyền giết mổ gia súc, tuy nhiên qua thẩm định cho
thấy phía Thái Lan đã khai khống giá của dây chuyền này lên tới 600.000 USD.
Trong dự án liên doanh giữa công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh và
Vinagroup, phía Vinagroup thực hiện góp vốn bằng giá trị thiết bị. Tổng trị giá
của số dây chuyền thiết bị đợc hai bên quyết toán là 4.340.000 USD nhng sau khi
đợc một công ty quốc tế giám định lại thì giá trị thực còn lại là 2.990.000 USD.

3
nớc thải xả trực tiếp vào
sông Đồng Nai (cung cấp 90%, lợng nớc cho 3 khu vực dân c : Thành phố Hồ Chí
Minh, Đồng Nai và một phần tỉnh Bình Dơng). Nớc tại đây thải nhiều chất hữu cơ,
nhiều dầu mỡ, kim loại nặng và vợt quá mức cho phép. Tải lợng nhiễm BODS lên
đến 15.091 kg ngày đêm. Nồng độ bụi Oxi- Ni tơ trong khu công nghiệp cao hơn
nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Đặc biệt là tại các nhà máy hoá chất
ở Biên Hoà nồng độ khí Clo cao gấp 15- 30 lần so với mức cho phép.
[14]
[14]
Tạp chí công nghiệp số quý I/2002
Tại nhà máy phân lân Văn Điển lợng bụi lên tới 1100mg/m
3
chiếm trên
90% lợng thải vào không khí. Xí nghiệp hoá chất sơn Hà Nội bụi chì vợt nồng độ
cho phép tới hàng ngàn lần. Nhà máy cao su Hà Nội có nồng độ ô nhiễm cao , vợt
quá TCCP 40 lần. Qua điều tra nồng độ khí độc trong các liên doanh về hoá chất
vợt quá 11 lần so với tiêu chuẩn quy định; nồng độ bụi vợt quá 28 lần cho phép và
có tới 10 % dây chuyền thiết bị gây ô nhiễm quá mức quy định.
[15]

Nhà máy xi măng Hà Tiên 1, nhập máy nghiền 90 tấn của Pháp: Nồng độ
bụi vợt quá TCCP từ 3 - 138 lần, Nhà máy luyện kim cán thép VICASA Biên Hoà
nhập lò hồ quang của Trung Quốc và dây chuyền đúc thép liên tục của ấn Độ có
độ bụi vợt quá 3,4 lần so với TCCP và tiếng ồn vợt cao nhất 10d BA, nhà máy cao
su Việt Hng với toàn bộ dây chuyền nhập của ITALIA có nồng độ bụi vợt TCCP
18 lần.
Công ty dệt Việt Thắng với máy dệt thế hệ mới nhất của Nhật Bản song
tiếng ồn vẫn vợt quá TCCP từ 6,7 - 12dBA. Nhà máy bột ngọt Vedan do không có
hệ thống xử lý nớc thải công nghiệp nên đã thải nớc thải công nghiệp không xử lý

vừa giảng dạy trong 105 trờng đại học, cao đẳng, có 12 trờng và viện đào tạo cao
học, 74 viện và trờng đào tạo nghiên cứu sinh
[17]
. Chất lợng đào tạo cán bộ khoa
học công nghệ còn thấp, cha đợc cập nhật tri thức hiện đại của thế giới, bị hổng
nhiều về hiểu biết công nghệ, quản trị kinh doanh, tiếp thị, ngoại ngữ, thiếu cán
bộ đầu đàn có khả năng tổ chức thực hiện những chơng trình nghiên cứu có tính
đột phá cao. Lực lợng chuyên gia giỏi ở các ngành rất mỏng, phần đông chỉ nắm
lý thuyết thiếu kinh nghiệm thực tế .
Trong các cơ quan nghiên cứu và triển khai số lợng cán bộ nghiên cứu bậc
cao còn quá thấp, số tiến sĩ khoa học mới chiếm 0,4%, số phó tiến sĩ (tiến sĩ
chuyên ngành khoa học) mới có 5,1%. Mục đích đào tạo trên đại học là phục vụ
cho công tác nghiên cứu và triển khai nhng hiện nay lực lợng đó trong khu vực
nghiên cứu và triển khai chỉ có 25% trong tổng số chung trong cả nớc. Trong
những năm vừa qua lực lợng nghiên cứu khoa học có tăng, song so với tốc độ gia
tăng của các nớc khác thì ở Việt Nam tỷ lệ cán bộ nghiên cứu trên 1 triệu dân còn
quá thấp, mới trên 300 ngời. Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của chúng ta so
với trớc có phát triển, nhng so với số dân hiện nay có khoản 4 cán bộ khoa học
công nghệ trên 10.000 dân ( chỉ tiêu này ở Singapo là 40, Hàn Quốc là 47, Nhật
Bản là 81) vào loại thấp trên thế giới nhng thuộc mức trung bình khá so với các n-
[17]
[17]
Nguyễn Hoàng Giáp - Khai thác môi trờng kinh tế quốc tế cho CNH - HĐH - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
267 tháng 8/2000
ớc đang phát triển (ấn Độ: 1,1, Thái Lan: 2,5, Malaysia:4, Trung Quốc 2,5). Đội
ngũ cán bộ khoa học công nghệ thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, những chuyên gia
giỏi, đặc biệt là những chuyên gia về công nghệ. Tỷ trọng cán bộ khoa học công
nghệ hoạt động nghiên cứu và triển khai trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam
còn thấp khoảng 32% (Thái Lan con số này là 58,2%, Sigapo :44% , Hàn
Quốc:48%). Số cán bộ đợc đào tạo về ngành công nghệ còn thấp, chỉ chiếm

,[19]
Nguyễn Thanh Thịnh - Đào Duy Tính - Lê Dũng - Quy hoạch hệ thống nghiên cứu khoa học và triển
khai công nghệ ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia 1999, Tr.126, 128,129.

Trích đoạn Những hạn chế và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status