Lời mở đầu
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên phải thực hiện trong bất kỳ một cuộc
kiểm toán nào, là giai đoạn có ý nghĩa định hớng cho các bớc công việc kiểm toán tiếp theo và
chuẩn bị các điều kiện cho cuộc kiểm toán đợc tiến hành. Lập kế hoạch kiểm toán đúng đắn
sẽ là cơ sở để kiểm toán viên thu thập bằng chứng có giá trị góp phần đa ra các nhận xét xác
đáng về thực trạng hoạt động đợc kiểm toán, góp phần giữ vững và nâng cao uy tín và hình
ảnh của công ty kiểm toán đối với khách hàng.
Chính vì tầm quan trọng đó mà ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán các công ty kiểm toán
lớn thờng giao cho những ngời có trình độ chuyên môn cao cũng nh có nhiều kinh nghiệm
trong công tác kiểm toán đảm nhiệm. ở nớc ta do kiểm toán còn khá mới mẻ nên thực tế hoạt
động kiểm toán trong thời gian qua cho thấy giữa yêu cầu đòi hỏi và thực tế lập kế hoạch kiểm
toán vẫn còn khoảng cách lớn. Vì vậy việc nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn công tác lập
kế hoạch kiểm toán để tìm ra các vấn đề tồn tại và đề ra hớng khắc phục là một điều cần thiết.
Cho nên nắm bắt đợc vấn đề này trong thời gian thực tập tại Công ty Kiểm toán Việt Nam, em
đ mạnh dạn chọn đề tài ã
Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm
toán Việt Nam.
Bài viết gồm 3 phần chính:
Phần I: Cơ sở lý luận của việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính.
Phần II: Thực trạng công việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty Kiểm
toán Việt Nam.
Phần III: Bài học kinh nghiệm và phớng hớng hoàn thiện bớc lập kế hoạch kiểm toán báo
cáo tài chính của Công ty Kiểm toán Việt Nam.
1
Phần I. Cơ sở lý luận của việc lập kế hoạch kiểm toán
báo cáo tài chính.
Ch ơng I
đầu t nớc ngoài hoạt động theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, các công ty
TNHH, công ty cổ phần hoạt động theo luật công ty, công việc kiểm toán đợc thực
hiện hàng năm và báo cáo quyết toán năm gửi cho các cơ quan quản lý Nhà nớc
phải kèm theo báo cáo kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp
pháp tại Việt Nam hoặc tổ chức kiểm toán độc lập khác đợc Bộ Tài chính chấp
thuận. Tuy hoạt động kiểm toán tài chính không có tính chất bắt buộc đối với tất
cả các tổ chức kinh tế tài chính ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay song hoạt động
này càng trở nên phổ biến và đợc các tổ chức kinh tế a chuộng nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý, hiệu năng của hoạt động. Theo chuẩn mực quốc tế, BCTC bao
gồm 4 loại báo cáo nh đã đề cập ở trên song ở Việt Nam chủ yếu chỉ có: bảng cân
đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh và bảng thuyết minh BCTC do việc lập báo
cáo lu chuyển tiền tệ cha có tính chất bắt buộc và phổ biến. Do đó kiểm toán
BCTC ở nớc ta chỉ tập trung vào kiểm toán bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả
kinh doanh.
Kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng là một hoạt động khoa
học đợc tổ chức thực hiện theo một quy trình chung gồm 4 giai đoạn chính là giai
đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phơng pháp kiểm toán (goi tắt là giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán), giai đoạn thực hiện khảo sát kiểm soát và khảo sát chi tiết
nghiệp vụ, giai đoạn khảo sát chi tiết số d, giai đoạn hoàn tất cuộc kiểm toán và
công bố báo cáo kiểm toán.
Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV phải thực
hiện trong mễi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng nh các điều
kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã đợc quy định
rõ trong các chuẩn mực kiểm toán (CMKT) hiện hành, CMKT thứ 4 trong 10
CMKT đợc thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi hỏi công tác kiểm toán phải đợc lập
kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải đợc giám sát đúng đắn. Đoạn 2 trong
CMKT quốc tế số 300 (IAS 300) cũng nêu rõ chuyên gia kiểm toán cần lập kế
hoạch cho công tác kiểm toán để có thể đảm bảo đợc rằng cuộc kiểm toán đã đợc
tiến hành một cách có hiệu quả.
Nh vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của
thấy kế hoạch kiểm toán đợc lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng
đầu đa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng nh dẫn sự đến thành công của các
doanh nghiệp.
Ch ơng II
Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
3
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán
cũng nh để thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của
KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC, cuộc kiểm toán thờng đợc
tiến hành theo quy trình bốn giai đoạn nh sau: lập kế hoạch và thiết kế các phơng pháp
kiểm toán, khảo sát các quá trình kiểm soát và nghiệp vụ, khảo sát chi tiết số d, hoàn
thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.
Sơ đồ số 1 - Bốn giai đoạn củacuộc kiểm toán káo cáo tài chính.
Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế các phơng pháp kiểm toán
Giai đoạn II
KHảo sát kiểm soát và khảo sát nghiệp vụ
Giai đoạn III
KHảo sát chi tiết số d
Giai đoạn IV
Hoàn thành công cuộc và công bố Báo cáo kiểm toán
I. Giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phơng pháp kiểm toán
Đây là giai đoạn đầu tiên của một quy trình kiểm toán BCTC và giai đoạn này
gồm sáu bớc công việc nh sau ( Sơ đồ số 2-Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế các
phơng pháp kiểm toán).
Sơ đồ số 2 - Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phơng pháp kiểm
toán.
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán.
Thu thập thông tin cơ sở.
nghiệp khách hàng
1.1.2. Tính liêm chính của Ban quản trị.
Theo CMKT VN số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, tính liên chính của
Ban giám đốc là bộ phận cấu thành then chốt của hệ thống kiểm soát, đây là nền tảng
cho tất cả các bộ phận khác của hệ thống kiểm soát nội bộ. Vì vậy, tính liêm chính của
ban giám đốc rất quan trọng đối với quy trình kiểm toán bởi lẽ ban giám đốc có thể
phản ánh sai các nghiệp vụ hoặc giấu diếm các thông tin dẫn tới các sai sót trọng yếu
trên BCTC. Thêm vào đó CMKT VN số 240, gian lận và sai sót, nhấn mạnh tầm quan
trọng về đặc thù của ban giám đốc và quan hệ của nó tới môi trờng kiểm soát nh là
nhân tố rủi ro ban đầu của việc báo cáo gian lận các thông tin tài chính. Nếu ban giám
5
đốc thiếu liêm chính, KTV không thể dựa vào bất kỳ bản giải trình của ban giám đốc
cũng nh không thể dực vào các sổ sách kế toán. Hơn nữa ban giám đốc là chủ thể có
trách nhiệm chính trong việc tạo ra một môi trờng kiểm soát vững mạnh. Những nghi
ngại về tính liêm chính của ban giám đốc có thể nghiệm trọng đến nỗi KTV kết luận
rằng cuộc kiểm toán không thể tiến hành đợc.
1.1.3. Liên lạc với kiểm toán viên tiềm nhiệm.
Đối với những khách hàng tiềm năng: Nếu khách hàng này trớc đây đã đợc kiểm
toán bởi một công ty kiểm toán khác thì KTV mới (KTV kế nhiệm) phải chủ động liên
lạc với KTV cũ (KTV tiềm nhiệm) vì đây là nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá
khách hàng. CMKT quốc tế số 84 yêu cầu KTV kế nhiệm phải liên lạc với KTV tiềm
nhiệm về những vấn đề liên quan đến việc kiểm toán để quyết định có chấp nhận hợp
đồng kiểm toán hay không. Thông tin đó bao gồm: những thông tin về tính liêm chính
của BGĐ, những bất đồng của KTV tiềm nhiệm với BGĐ về các nguyên tắc kế toán,
thủ tục kiểm toán hoặc các vấn đề có quan trọng khác... và lý do tại sao khách hàng
thay đổi KTV.
Ngoài ra KTV có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của KTV tiềm nhiệm để hỗ trợ cho
KTV kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán.
Tuy nhiên theo quy định của nhiều nớc, việc thiết lập mối quan hệ giữa KTV tiềm
dẫn thực hiện Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân chỉ có các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn đầu t nớc ngoài) và các hợp đồng hợp tác kinh doanh với nớc ngoài là bắt
buộc kiểm toán trớc khi công khai BCTC và gửi các BCTC này tới Bộ, ngành chức
năng, Tổng cục thuế và các cổ đông...
Tuy nhiên trong thực tế, do sự phát triển của nền kinh tế, khi các doanh nghiệp nhà
nớc đợc cổ phần hoá ngày càng rộng rãi và thị trờng chứng khoán phát triển thì số lợng
các khách hàng tìm đến công ty kiểm toán ngày càng đa dạng hơn với nhiều mục đích
khác nhau nh: kiểm toán theo luật định, kiểm toán để vay vốn, kiểm toán liên doanh
liên kết, kiểm toán vì mục đích thuế, kiểm toán trớc cổ phần, kiểm toán hoặc sau trớc
khi giải thể, phá sản, sát nhập... làm cho số lợng ngời sử dụng BCTC tăng lên rất nhiều.
1.3. Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán.
Lựa chọn đội ngũ KTV thích hợp cho hợp đồng không những đản bảo tính hiệu quả
của cuộc kiểm toán mà còn đảm bảo cho các chuẩn mực kiểm toán đợc tuân thủ đầy
đủ. CMKT đầu tiên trong 10 chuẩn mực kiểm toán đợc thừa nhận rộng rãi (GAAS) đã
nêu rõ Quá trình kiểm tra sẽ đợc thực hiện bởi 1 hoặc nhiều ngời đã đợc đào tạo
nghiệp vụ đầy đủ và thành thạo nh 1 KTV. Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân
viên thực hiện kiểm toán công ty kiểm toán cần quan tâm tới 3 vấn đề:
7
Trong đoàn (nhóm) kiểm toán phải có những ngời có khả năng giám sát cuộc
kiểm toán.
Tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều
năm, việc tham gia kiểm toán liên tục cho một khách hàng trong nhiều năm có thể
giúp KTV tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm cũng nh có đợc những hiểu biết sâu sắc hơn
về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Lựa chọn những KTV có kiến thức và có nhiều kinh nghiệm về ngành nghề kinh
doanh của khách hàng.
Việc quan tâm đầy đủ các vấn đề nêu trên khi lựa chọn đội ngũ kiểm toán sẽ góp
phần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lợng và đạt hiệu quả.
Tơng tự th hẹn kiểm toán, hợp đồng kiểm toán bao gồm các nội dung:
Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục đích là cái đích cần đạt tới đồng thời là th-
ớc đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể, trong cuộc kiểm toán BCTC do kiểm
toán độc lập (KTĐL) tiến hành, mục tiêu thờng là xác định tính trung thực và hợp lý
của các thông tin trên BCTC. Còn phạm vi là giới hạn về không gian, thời gian của đối
tợng kiểm toán, thờng đợc xác định cùng với việc xác đinh mục tiêu của cuộc kiểm
toán, trong một cuộc kiểm toán BCTC thờng là toàn bộ các BCTC của năm kết thúc.
Trách nhiệm của BGĐ công ty khách hàng và KTV: BGĐ công ty khách hàng có
trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC, cung cấp
tài liệu, thông tin liên quan đến công việc kiểm toán, KTV có trách nhiệm đa ra ý kiến
độc lập về BCTC dựa trên kết quả cuộc kiểm toán.
Hình thức thông báo kết qủa kiểm toán: Kết quả kiểm toán thờng đợc ban hành
cụ thể dới hình thức một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một th quản lý trong đó có
nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống KSNB và những gợi ý để sửa chữa những
khiếm khuyết này.
Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán: Phần này phải nêu rõ thời gian thực hiện
kiểm toán sơ bộ, kiểm toán chính thức và thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành
báo cáo kiểm toán.
Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán: Lệ phí kiểm toán
thờng đợc xác định căn cứ vào thời gian làm việc của các cấp bậc KTV khác nhau
năng và vị trí của KSNB... để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có
thể tác động đến các BCTC và để thực hiện quá trình so sánh khách hàng này với các
đơn vị khác trong ngành đó.
KTV có thể có đợc hiểu biết này bằng nhiều cách nhng phơng pháp thờng đợc sử
dụng nhiều nhất là trao đổi với các KTV tiềm nhiệm hoặc các KTV đã kiểm toán cho
khách hàng khác trong cùng ngành nghề kinh doanh hoặc trao đổi với nhân viên, ban
giám đốc của khách hàng.
10
Ngoài ra KTV có thể có đợc những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các sách báo,
tạp chí, tạp chí chuyên ngành, và ở Việt Nam, KTV có thể lấy các thông tin từ Niên
giám thống kê do Tổng cục thống kê phát hành hàng năm.
2.1.2. Xem xét lại kết quả kiểm toán trớc và hồ sơ kiểm toán chung.
Các hồ sơ kiểm toán năm trớc thờng chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng,
về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra đa
phần các công ty kiểm toán đều duy trì HSKT thờng xuyên đối với mỗi khách hàng. Hồ
sơ này có các bản sao của các tài liệu nh: sơ đồ tổ chức, điều lệ công ty, các bảng kê,
chính sách tín dụng, chính sách kế toán... Qua đó KTV sẽ tìm thấy những thông tin hữu
ích về công việc kinh doanh của khách hàng.
Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó KTV có
thể xác định đợc liệu các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của nhà
nớc, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp KTV hiểu đợc
bản chất của các số liệu cũng nh sự biến động của chúng trên các BCTC đợc kiểm toán.
2.1.3. Tham quan nhà xởng.
Việc tham quan nhà xởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng sẽ cung cấp cho KTV những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sản xuất
kinh doanh của khách hàng và cho phép KTV gặp các nhân vật chủ chủ chốt và một cái
nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách hàng (đặc biệt là công tác bảo vệ tài
sản). Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn
đề cần quan tâm nh sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu không sử dụng
khách quan của chuyên gia đó.
2.2. Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
Nếu các thông tin cơ sở nêu trên đợc thu thập giúp KTV hiểu đợc về các mặt hoạt
động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập thông tin về pháp lý của khách hàng
giúp KTV nắm bắt đợc những quy trình mang tính chất pháp lý có ảnh hởng đến các
mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng này. Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý bao
gồm:
2.2.1. Giấy phép thành lập và điều lệ công ty.
Việc nghiên cứu những tài liệu này giúp KTV hiểu đợc về quá trình hình thành mục
tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng nh nắm bắt đợc
những vấn đề manh tính nội bộ của doanh nghiệp nh cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm
vụ các phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu...
2.2.2. Các BCTC, BCKT, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hoặc trong vài năm
trớc.
Các BCTC cung cấp dữ liệu về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị,
giúp cho KTV nhận thức đợc tổng quát về vấn đề để có cơ sở áp dụng các kỹ thuật
12
phân tích các báo cáo này và từ đó nhận thức đợc xu hớng phát triển của đơn vị khách
hàng. Đây là tài liệu quan trọng nhất trong một cuộc kiểm toán BCTC. Ngoài ra, việc
xem xét các BCKT, các biên bản kiểm tra, thanh tra (nếu có) sẽ còn giúp KTV nhận
thức rõ hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị khách hàng và dự kiến các phơng hớng
kiểm tra.
2.2.3. Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc .
Đây là những tài liệu chính thức và tóm lợc về những vấn đề quan trọng nhất đã đợc
thảo luận và quyết định cách thức trong các cuộc họp đó. Các biên bản này thờng chứa
đựng những thông tin quan trọng nh: Công bố về tổ chức, phê chuẩn việc hợp nhất hoặc
giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt mua bán, chuyển nhợng những tài liệu quan
trọng...
Qua việc nghiên cứu các biên bản này, KTV sẽ xác định đợc những dự kiện có ảnh
và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trớc.
Tăng cờng sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của khách hàng và giúp
KTV xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng.
Nh vậy qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, KTV có thể xác định đợc nội dung cơ bản cần thực hiện trong cuộc kiểm toán
BCTC. Mức độ, phạm vi và thời gian thực hiện các thủ tục phân tích tại các đơn vị
khách hàng khác nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt động
kinh doanh của khách hàng.
Các thủ tục phân tích đợc KTV sử dụng bao gồm hai loại cơ bản.
Phân tích ngang (phân tích xu hớng) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các
trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC.
Các chỉ tiêu phân tích đợc sử dụng trong phân tích ngang bao gồm:
+ So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trớc hoặc giữa các kỳ với nhau và qua đó
KTV thấy đợc những biến động bất thờng và xác định những vấn đề cần quan tâm.
+ So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ớc tính của KTV
+ So sánh dữ kiện của Công ty khách hàng với dữ liệu chung của ngành.
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ
tơng quan của các chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên BCTC.
Các tỷ suất tài chính thờng dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả
năng thanh toán, các tỷ suất về khả năng sinh lời, ...
2.4. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro.
14
Nếu các bớc trên, KTV chỉ mới thu thập đợc các thông tin mang tính chất khách
quan thì ở bớc này, KTV sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập đợc để đánh giá, nhận
xét nhằm đa ra một chiến lợc, kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Tính trọng yếu và rủi ro rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch kiểm toán và
một công ty lớn hơn. Do vậy việc xác định một giá trị cụ thể bằng tiền trong việc ớc
lợng ban đầu về tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều không thể có.
Yếu tố định lợng của tính trọng yếu: Quy mô sai sót là một yếu tố quan trọng để
xem xét xem các sai sót có trọng yếu không. Tuy nhiên, do trọng yếu mang tính chất t-
ơng đối nên việc có đợc các cơ sở để quyết định xem liệu quy mô của một sản phẩm là
trọng yếu hay không là một điều cần thiết. Thu nhập thuần trớc thuế, tài sản lu động,
tổng tài sản, nợ ngắn hạn... thờng đợc coi là chỉ tiêu gốc. Trong đó thu nhập thuần trớc
thuế là chỉ tiều quan trọng nhất vì nó đợc xem nh một khoản mục thông tin then chốt
đối với ngời sử dụng.
Yếu tố định tính của trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một sai sót là trọng
yếu hay không, KTV phải xem xét đánh giá cả về mặt giá trị (số lợng) và bản chất
(chất lợng) của sai sót đó. Trong đó có một số sai sót luôn là trọng yếu bất kể quy mô
có là bao nhiêu.
Những yếu tố chất lợng cần phải đợc xem xét trớc khi tiến hành ớc lợng ban
đầu về tính trọng yếu là:
Các gian lận thờng đợc xem là quan trọng hơn các sai sót với cùng một quy mô
tiền tệ bởi vì các gian lận thờng làm cho ngời ta nghĩ tới tính trung thực và độ tin
cậy của ban giám đốc hay những ngời có liên quan..
Các sai sót có quy mô nhỏ nhng lại gây tác động dây chuyền làm ảnh hởng
nghiêm trọng đến các thông tin trên BCTC thì luôn đợc xem là sai sót trọng yếu.
Đây là sai sót có tính chất hệ thống.
Các sai sót mà ảnh hởng đến xu hớng về thu nhập thì luôn là sai phạm trọng yếu.
Mặc dù ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu là một xét đoán nghề nghiệp mang tính
chủ quan của KTV song trên thực tế các công ty kiểm toán thờng đề ra những đờng lối
chỉ đạo để hỗ trợ cho các KTV của mình trong việc ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu.
Ví dụ: Ngời ta có thể quy định về mức trọng yếu theo các giới hạn trong bảng sau:
Bảng 1: Bảng quy định về mức trọng yếu.
mục thờng khó dự đoán trớc nên công việc phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu
thờng mang tính chủ quan và đòi hỏi xét đoán nghề nghiệp KTV. Do vậy công ty kiểm
toán thờng phân công các KTV có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm để
thực hiện công việc này.
2.4.2. Đánh giá rủi ro.
Trên cơ sở mức trọng yếu xác định cho toàn bộ BCTC cũng nh đối với từng tài
khoản để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xác định chơng trình kiểm
toán phù hợp. Công việc này gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán.
Theo định nghĩa của nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IAG 25, trọng yếu và rủi
ro kiểm toán, thì rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đa ra
những nhận xét không xứng đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm
trọng.
Những nhận xét không xác đáng chủ yếu theo hớng KTV sẽ kết luận là các BCTC
đợc trình bày trung thực và hợp lý, do đó công bố một ý kiến chấp nhận hoàn toàn
trong khi chúng ta bị sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán gắn liền với rủi ro kinh doanh,
17
rủi ro mà KTV sẽ phải chịu thiệt haị vì mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt trong tr-
ờng hợp các báo cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng đó là sai. Do vậy để giới hạn
rủi ro kinh doanh , KTV phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán.
Đánh giá rủi ro kiểm toán : Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán KTV phải xác
định rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR) cho từng khoản mục. Mức rủi ro này đợc xác
định phụ thuộc vào hai yếu tố:
Yếu tố 1: Mức độ mà theo đó ngời sử dụng thông tin bên ngoài tin tởng vào BCTC.
Cụ thể nếu mức độ tin tởng này càng cao thì KTV sẽ cho rằng những ngời sử dụng
thông tin bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào các BCTC và theo đó mức độ tác hại trên
phạm vi toàn xã hội sẽ ngày càng lớn nếu nh có một sai sót không đợc phát hiện trên
BCTC. Trong trờng hợp này KTV phải xác định một mức rủi ro kiểm toán mong muốn
thấp và qua đó tăng số lợng bằng chứng phải thu thập và tăng độ chính xác trong các
kết luận đa ra của mình .
+ Bản chất công việc kinh doanh của khách hàng: Rủi ro cố hữu thờng bị tăng lên
bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà có thể tạo nên những khó khăn cho
kiểm toán hoặc những sai sót không phát hiện trên BCTC. Ví dụ: khách hàng kinh
doanh trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ đặc biệt khó khăn hơn đối với các xí nghiệp sản
xuất thông thờng.
+ Tính liêm chính của Ban Giám đốc: Ban Giám đốc không thể xem là hoàn toàn
trung thực trong mọi trờng hợp. Khi ban giám đốc bị kiểm soát bởi một hoặc một số ít
cá nhân thiếu trung thực thì khả năng các BCTC bị báo cáo sai nghiêm trọng sẽ tăng
lên rất cao, do vậy rủi ro cố hữu đợc đánh giá ở mức cao.
+ Kết quả của các lần kiểm toán trớc: Đối với những tài khoản đợc phát hiện có sai
phạm trong các lần kiểm toán trớc, rủi ro cố hữu có đợc xác định ở mức cao, Lý do
nhiều loại sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thờng chậm chạp không tiến
hành các biện pháp sữa chữa chúng nên các sai phạm này vẫn còn tồn tại.
+ Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán gia hạn: Trong các hợp đồng
kiểm toán lần đầu, KTV thờng thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của các
đơn vị khách hàng nên họ thờng đánh giá rủi ro cố hữu cao hơn so với hợp đồng kiểm
toán gia hạn.
+ Các nghiệp vụ kinh tế không thờng xuyên: Các nghiệp vụ này có khả năng bị
vào số sai nhiều hơn các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếu kinh
nghiệm trong việc hạch toán các nghiệp vụ đó, do đó rủi ro cố hữu đối với các tài
khoản chứa nghiệp vụ này thờng đợc đánh giá cao.
+ Các ớc tính kế toán: Rủi ro cố hữu các tài khoản phản ánh các ớc tính kế toán (dự
phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho ...) thờng đợc đánh
giá là cao.
+ Số lợng tiền của các số d tài khoản: Các tài khoản có số d bằng tiền lớn thờng đợc
đánh giá là có rủi ro cố hữu có hơn so với những tài khoản có số d bằng tiền nhỏ.
19
Do vậy, KTV cần phải đánh giá lần lợt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro cố
hữu thích hợp đối với từng tài khoản trên mục BCTC.
Rủi ro phát hiện: Là khả năng xảy ra các sai sót học gian lận mà không đợc ngăn
chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ cũng nh không đợc KTV phát hiện.
Trong quá trình kiểm toán có thể có rủi ro phát hiện do ảnh hởng của các nhân tố:
+ Các bớc kiểm toán không thích hợp, điều này thờng xảy ra đối với các KTV mới
vào nghề, trình độ chuyên môn cha cao nên không biết đợc quy trình hợp lý cho mỗi
phần hành.
20
+ Phát hiện ra bằng chứng nhng không nhận thức đợc sai sót, nên thờng đa ra kết
luận sai về phần hành đó cũng nh về BCTC. Điều này thờng xảy ra ở bớc cuối cùng, có
tìm đợc bằng chứng chứng minh song lại không xác định đợc sai sót do kinh nghiệm
của KTV cha nhiều.
+ Hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sự thông đồng, nghĩa là có sự nhất trí
làm sai các chính sách và chế độ do Ban quản trị đề ra nên trong trờng hợp này KTV
rất khó phát hiện ra gian lận và sai sót.
Rủi ro phát hiện đợc xác định từ ba loại rủi ro là rủi ro mong muốn, rủi ro cố hữu
và rủi ro kiểm toán đợc mô hình rủi ro kiểm toán (sẽ đợc trình bày sau). Vì ba loại rủi
ro này thay đổi đối với từng khoản mục trên BCTC nên rủi ro phát hiện và số lợng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập cũng thay đổi theo.
Mô hình rủi ro kiểm toán.
Mối quan hệ giữa rủi ro cố hữu, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện đợc thề hiện qua
mô hình rủi ro kiểm toán nh sau:
DAR = IR * CR * DR (1)
DAR
Hay DR = (2)
IR * CR
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán mong muốn.
IR: Rủi ro cố hữu.
nhiều hơn các bằng chứng kiểm toán có giá trị để giảm rủi ro phát hiện xuống mức có
thể chấp nhận đợc.
Xác định trọng yếu, rủi ro kiểm toán là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng nh
phán đoán kinh nghiệm của KTV. Do vậy trong CMKT Việt Nam, vấn đề này cha đợc
đề cập. Trên thực tế, chỉ một số hãng kiểm toán quốc tế tại Việt Nam mới xây dựng đ-
ợc quy trình ớc lợng trọng yếu và rủi ro, còn nhiều công ty trong nớc vẫn cha xây dựng
quy trình cụ thể. Tại Công ty Kiểm toán Việt nam, quy trình này chủ yếu dựa trên kinh
100%
100%
rủi ro
Bảng chứng kiểm toán (chi phí )
Rủi ro đạt tới
Rủi ro mong muốn
22
nghiêm của KTV và sự hớng dẫn của các chuẩn mực và nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán
quốc tế.
2.5. Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát.
Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là một
phần công việc bắt buộc phải thực hiện trong khi lập kế hoạch kiểm toán và đã đợc quy
định trong chuẩn mực đối với công việc điều tra thứ hai trong 10 CMKT đợc thừa nhận
rộng rãi (GAAS): KTV phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống KSNB để lập kế
hoạch kiểm toán và để xác định bản chất, thời hạn và phạm vi các cuộc khảo sát phải
thực hiện. Và điều này cũng đợc quy định trong CMKT quốc tế 400 (ISA 400), đánh
giá rủi ro KSNB, KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống KSNB và hệ thống kế toán có
ảnh hởng đến cơ sở dẫn liệu cho việc lập BCTC.
2.5.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB)
2.5.1.1. Khái niệm.
KSNB là hệ thống bao gồm chính sách và thủ tục đợc thiết lập tại đơn vị nhằm bảo
đảm hợp lý cho các nhà quản lý đạt đợc các mục đích sau:Bảo vệ tài sản và sổ sách,