THÀNH TỰU VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH
ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO TRONG
SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ 1991 ĐẾN 2001
2.1. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân
- Thành tựu
Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp là Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng về công tác tôn giáo.
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai mà trước hết là Thường vụ tỉnh ủy đã vận dụng sáng tạo
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với tình hình thực tiễn
của tỉnh. Tập trung lãnh đạo chỉ đạo công tác vận động đồng bào Công giáo, bước
đầu đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực cụ thể như sau.
Một là, công tác vận động tuyên truyền giáo dục các chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo. Tỉnh uỷ xác định, trong
công tác vận động đồng bào Công giáo, vấn đề cơ bản và hết sức quan trọng đó
là phải quán triệt, giáo dục cho đồng bào giáo dân và đội ngũ chức sức, chức
việc... nhận thức sâu sắc về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước, chính vì vậy tỉnh uỷ đã đặc biệt quan tâm tới công tác tuyên
truyền giáo dục. Sau khi có Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị "về tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới". Ngày 16/5/1991 Tỉnh uỷ đã xây
dựng kế hoạch 02-KH/TU để triển khai, quán triệt và bổ sung Nghị quyết 10-
NQ/TU của tỉnh uỷ. Đặc biệt là sau khi có Nghị định 69/HĐBT (nay là Chính
phủ), chỉ thị 379/TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh uỷ đã có kế hoạch tổ chức
triển khai nhiều đợt học tập, trước hết là triển khai trong nội bộ Đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể từ tỉnh xuống cơ sở, đối tượng cụ thể,
trước hết là đội ngũ cán bộ đảng viên, sau đó Tỉnh uỷ đã chỉ đạo cho Ban Tôn
giáo tỉnh ủy phối hợp với Mặt trận Tổ quốc các cấp, tổ chức học tập cho hàng
ngũ chức sắc, chức việc, tu sĩ trong toàn tỉnh. Đối với những địa phương có
đông đồng bào Công giáo như các huyện Thống Nhất, Long Khánh, Long Thành
và thành phố Biên Hoà, tỉnh uỷ đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch với những nhiệm
vụ cụ thể riêng. Hàng năm cấp uỷ, chính quyền, mặt trận, đoàn thể đều kiểm
thiện nâng cao, các hộ gia đình được tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất kinh doanh
phát triển kinh tế. Các tín đồ trong công nhân, nông dân, thợ thủ công tích cực đẩy
mạnh lao động sản xuất, một số tín đồ mạnh dạn bỏ vốn đầu tư phát triển các
ngành nghề góp phần đưa giá trị tổng sản lượng công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
của tỉnh tăng bình quân hàng năm 32,2%, sản xuất nông nghiệp tăng 5,5% năm,
dịch vụ tăng 11,9% năm, xuất khẩu địa phương tăng 30,1% năm, tốc độ tăng
trưởng GDP vùng đồng bào Công giáo hàng năm đạt từ 5-6% so với tốc độ trung
bình của tỉnh là 13,56%, thu nhập bình quân đầu người của bà con Công giáo tăng
3- 4%. Ở các huyện, thành phố có đông đồng bào giáo dân như: huyện Thống Nhất
có 90% là đồng bào Công giáo, theo số liệu điều tra tháng 12/1997, toàn huyện có
32,5% hộ giàu và khá, 57% hộ trung bình, có 9,5% hộ nghèo, ở 3 xã có đạo Thiên
Chúa giáo toàn tòng trong vùng Kiệm Tân (Gia Tân 1, Gia Tân 2, Gia Kiệm) có
30% hộ giàu, 40% hộ khá, 24% hộ trung bình, chỉ có 6% hộ nghèo. Ở thành phố
Biên Hoà, một số phường có đông đồng bào Công giáo như phường Tân Mai có
80% hộ theo đạo Công giáo trong đó hộ giàu có 20%, khá 30% trung bình 40%, hộ
nghèo 10%. Ở phường Tam Hoà có trên 70% giáo dân, trong đó có 30% hộ giàu,
60% hộ khá và trung bình, hộ nghèo 10%. Tại huyện Nhơn Trạch có xã Vĩnh
Thanh đông đồng bào Thiên Chúa giáo, là một xã thuần nông, điều kiện sản xuất
khó khăn, đời sống giáo dân có mức sống thấp nhất trong vùng đồng bào có đạo,
song dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương, với những chủ
trương biện pháp đúng đắn thích hợp đã được bà con giáo dân hưởng ứng, đời sống
của giáo dân từng bước được nâng lên, số hộ giàu và hộ khá đã tăng đáng kể, xoá
được hộ đói, cụ thể là, hộ giàu 17%, hộ khá là 25,6% hộ trung bình là 42,7%,
nghèo là 14,5%.
Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm vùng đồng
bào Công giáo tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong 6 năm
(1991 - 1997) tỉnh đã hỗ trợ mua giống cây trồng, vật nuôi cho bà con giáo dân ở
các xã đặc biệt khó khăn với kinh phí hàng chục tỷ đồng, hỗ trợ đời sống cho trên
1000 hộ đồng bào giáo dân nghèo, giải quyết cho trên 15 ngàn lượt hộ giáo dân
vay vốn với tổng kinh phí lên đến trên 52 tỷ đồng. UBND tỉnh Đồng Nai đã chỉ
luật của Nhà nước. Như vậy được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng
bộ tỉnh và chính quyền các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của bà con giáo dân, do
vậy trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội đạt được những kết quả khá toàn diện và rõ
nét, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của đồng bào giáo dân ngày càng được
nâng cao.
Các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ngày càng được các
tầng lớp nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Tiêu biểu như phong trào "Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hoá" tính đến năm 2001, toàn tỉnh có 65% ấp, khu phố
đạt tiêu chuẩn ấp, khu phố văn hoá (657/971), trong đó có 208 ấp, khu phố có đông
đồng bào theo đạo Công giáo đạt tiêu chuẩn văn hoá, cuộc vận động "Ngày vì
người nghèo" với phong trào xây dựng nhà tình thương đã góp phần tích cực vào
chương trình xoá đói giảm nghèo của tỉnh; phong trào "Phụ nữ tích cực học tập, lao
động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" mỗi năm thu hút trên 170.000 phụ nữ
đăng ký, đạt trên 60% so với tổng số hội viên phụ nữ; phong trào "Nông dân sản
xuất kinh doanh giỏi" hàng năm thu hút hơn 100.000 hộ tham gia; các phong trào
"Thanh niên tình nguyện"; phong trào "Lao động giỏi, cải tiến kỹ thuật, nâng cao
năng suất chất lượng sản phẩm"; "Cựu chiến binh gương mẫu, sáng mãi phẩm chất
Bộ đội cụ Hồ" tiếp tục được mở rộng trong vùng đồng bào Công giáo; hưởng ứng
các phong trào đó, giáo dân đã tự nguyện hiến đất đai, công sức góp phần cùng
Đảng bộ và chính quyền địa phương thực hiện các mục tiêu tiến bộ, công bằng xã
hội. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chống âm mưu "Diễn biến hoà
bình", phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông và
thực hiện 4 giảm đã góp phần tích cực giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Bốn là, cùng với việc tăng cường phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động
hành đạo của đội ngũ chức sắc, chức việc và bà con giáo dân, luôn được cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phương quan tâm đúng mức. Với phương châm chủ đạo là:
"Tôn trọng giáo chủ, tranh thủ giáo sĩ, thực lòng quan tâm đến giáo dân". Các cấp
chính quyền đã giải quyết kịp thời nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của quần chúng giáo
chí. Trong số 180 đảng viên là gốc đạo Thiên Chúa giáo có 122 đảng viên sinh
hoạt ở 54 chi bộ, Đảng bộ xã, phường, thị trấn, 58 đảng viên sinh hoạt ở 35 chi bộ,
Đảng bộ hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước. Phần đông các đồng chí
đảng viên đều có lập trường tư tưởng vững vàng, phát huy được vai trò lãnh đạo
của người đảng viên, nhiều đồng chí đã trưởng thành và đang giữ những cương vị
công tác chủ chốt ở xã, phường như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân... Điển hình là huyện Thống Nhất, tỷ lệ
cán bộ công chức theo đạo Công giáo chiếm 10,7%. Lực lượng công an xã,
phường, huyện, thị trấn có tới 35% là người Công giáo... Phần lớn các đồng chí có
gốc đạo Công giáo sau khi được kết nạp vào Đảng không còn tham gia các nghi lễ
Công giáo. Qua phân tích chất lượng đảng viên và tổ chức đảng (1996). Trong 54
cơ sở Đảng xã, phường thị trấn có đảng viên gốc đạo Thiên Chúa giáo thì có 27 cơ
sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, chiếm tỷ lệ 6,28% so với tổ chức cơ sở Đảng
trong sạch vững mạnh trong toàn tỉnh, cơ sở Đảng khá 26 đạt tỷ lệ 17,21% so với
cơ sở Đảng khá trong tỉnh, cơ sở yếu 1. Đối với đảng viên là người Công giáo,
mức 1 có 1832 đồng chí đạt tỷ lệ 14,81% so với đảng viên mức 1 trong toàn tỉnh.
Đảng viên là người Công giáo, mức 2 có 559 đồng chí, tỷ lệ 43,29% so với đảng
viên mức 2 toàn tỉnh. So với năm 1995 đảng viên Công giáo đạt mức 1 tăng 216
đồng chí, đảng viên mức 2 giảm 117 đồng chí.
Để thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, các chương trình hành động của Tỉnh uỷ về công tác tôn giáo nói chung,
công tác vận động đồng bào Công giáo nói riêng. Tỉnh đã có quyết định củng cố
Ban Tôn giáo tỉnh với 31 biên chế; cấp huyện thành lập phòng tôn giáo ở 11/11
huyện, thị xã, thành phố với định suất từ 3- 4 biên chế; 117/171 xã, phường, thị
trấn có đông đồng bào Công giáo được biên chế 01 cán bộ chuyên trách có năng
lực làm công tác vận động đồng bào Công giáo. Đến nay việc hình thành các
phòng, ban và biên chế cán bộ từ tỉnh đến cơ sở đang được thực hiện khẩn trương
nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Như vậy, trong thời gian qua các cấp ủy Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện
có kết quả Nghị quyết 24/TW - BCT (khoá VI) của Bộ Chính trị về "Tăng cường