VỊ THẾ CỦA COBIT GIỮA NHỮNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN NAY - Pdf 64

VỊ THẾ CỦA COBIT GIỮA NHỮNG PHƯƠNG PHÁP
QUẢN TRỊ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN NAY
Một hệ thống thông tin tốt, phù hợp với tổ chức, doanh nghiệp của mình là
điều cần thiết. Nhưng với những khó khăn tồn tại như đã phân tích trong một
vài hệ thống thông tin cho thấy chúng ta cần một phương pháp quản trị và
đánh giá hệ thống thông tin đó. Đề tài này tập trung nghiên cứu phương pháp
quản trị và đánh giá COBIT, và trước tiên chúng ta cùng đánh giá vị trí và ưu
thế của phương pháp này trong ngôi nhà quản trị (Governance). Phương pháp
COBIT có tốt không? Phương pháp COBIT có hữu dụng không?
CMM/RUP
ITIL
IT StrategyCMM/PMI
Các hoạt động CNTT
Quản
lý chất
lượng
(Quanlit
y
System)
An toàn
an ninh
(secunit
y)
Hoạch
định
chiến
lược
CNTT
Quản
trị dự
án

cong-nghe-thong-tin-quoc-gia-den-2015.htm.
Bốn mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin quốc gia đến 2015 là:
“Thứ nhất là, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật phục vụ ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước trên quy mô quốc gia. Kết nối được
vào mạng truyền dẫn tốc độ cao, an toàn, bảo mật của Đảng và Nhà nước.
Được cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và xác thực quốc gia; bảo đảm
hạ tầng kết nối các hệ thống thông tin có quy mô quốc gia của các cơ quan nhà
nước theo mô hình thống nhất.
Thứ hai, xây dựng các hệ thống thông tin nền tảng quy mô quốc gia nhằm
tạo môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước. Trong đó, 70% các
văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan nhà nước được trao đổi
hoàn toàn dưới dạng điện tử; bảo đảm 100% các cuộc họp của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ với các bộ, các tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương,
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể được thực hiện trên môi
trường mạng.
Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô
quốc gia thiết yếu, phục vụ cung cấp dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp.
Trong đó, 80% người dân và doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế qua mạng;
90% Cục hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thủ tục hải quan điện tử; 30%
các đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn cho các cơ quan
nhà nước được thực hiện qua mạng; 100% hộ chiếu được cấp cho công dân
Việt Nam phục vụ công tác xuất, nhập cảnh là hộ chiếu điện tử…
Cuối cùng là bảo đảm ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước
các cấp được hiệu quả, đồng bộ và thống nhất theo định hướng chung của
quốc gia, với mục tiêu: tỷ lệ trung bình cán bộ, công chức được cung cấp hộp
thư điện tử và thường xuyên sử dụng trong công việc là 90%; tỷ lệ trung bình
cơ quan nhà nước các cấp sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và
điều hành trên môi trường mạng là 90%; tỷ lệ trung bình máy tính trên cán bộ,
công chức tại các cơ quan nhà nước là 90%. Ngoài ra, cũng sẽ đẩy mạnh triển
khai cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 hoặc 4 cho người dân và

Để thực hiện một hệ thống thông tin tốt để đạt được lợi ích mong muốn của
doanh nghiệp chúng ta cần thực hiện những giải pháp như ở trên. Một hệ
thống thông tin thống nhất và đảm bảo các hoạt động dịch vụ, cơ sở hạ tầng
hiện đại, đồng bộ, đảm bảo an toàn thông tin… bên cạch đó người quản trị cần
có cái nhìn chiến lược tất cả đều cần thiết để đạt được lợi ích kinh doanh và có
sự bền vững lâu dài.
Xét về quy trình dịch vụ trong kinh doanh thì phương pháp ITIL rất mạnh có
khả năng ứng dụng cao. Tuy vậy phải nhìn nhận lâu dài và bền vững hơn cho
hoạt động chiến lược CNTT của doanh nghiệp. Một dịch vụ tốt thì hệ thống
thông tin tốt có thể đáp ứng được, nhưng để có cái nhìn chiến lược lâu dài
chúng ta cần phương pháp Cobit. Đồng bộ về cơ sở hạ tầng, dịch vụ và hướng
dẫn quản trị, đánh giá là ưu điểm của Cobit. Phương pháp Cobit là phương
pháp bền vững mà vẫn đem lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp.
Dù là doanh nghiệp hay tổ chức nào cũng cần có một chiến lược phát triển
hệ thống thông tin nhằm nâng cao khả năng quản lý và rút ngắn thủ tục đem lại
hiệu quả cao cho công việc. Phương pháp quản trị và đánh giá Cobit đã thể
hiện rõ sự hữu dụng của mình trên 2 linh vực chính là tổ chức và kinh doanh.
1.3 Phương pháp nào có ưu thế trong tiếp cận và lập chiến
lược CNTT?
Có một chiến lược thì phải tiếp cận và xây dựng chiến lược ấy. Sử dụng
phương pháp quản trị, đánh giá là cần thiết vậy cần thiết thế nào? Nó có ý
nghĩa gì ở giai đoạn tiếp cận chiến lược này?
Một số cấp độ ứng dụng CNTT:

Hình 2. Cấp độ CNTT
Trong 5 cấp độ này thì tổ chức, doanh nghiệp của bạn đang đứng ở cấp độ
nào? Mức độ tổ chức và doanh nghiệp bạn muốn tiến đến? Là điều quan trọng
nhất trong việc tiếp cận mục tiêu và hoạch định chiến lược.
Giả sử bạn bị lạc giữa sa mạc Sahara bạn sẽ cần những gì để thoát ra khỏi
đó?

Chúng ta đến đó
bằng cách nào?
Chúng ta muốn
gì?
Chúng ta đang ở
đâu?
Kiểm soát và
đánh giá
(metrisc)
Lộ trình (kế
hoạch hành
động)
Đặt ra các mục
tiêu cụ thể
Tiêu chí đánh
giá
Tầm nhìn và
mục tiêu
Kiểm soát và đánh giá
so với kế hoạch
COBIT Guidelines
Lập chiến lược: tái cơ cấu và nâng
cao quy trình nghiệp vụ, quản lý
thay đổi và đào tạo.
ITIL/ COBIT/ ISO 17799
Đánh giá hiện trạng
COBIT/ ISO 17799
Hình 2. Sơ đồ tiếp cận chiến lược CNTT
lược đặt ra. Những phương pháp phổ biến hiện nay trên thế giới : ITTL,
COBIT, CMMs, COSO, ISO 17799…

trường hợp, chúng còn tệ hơn?
Một vấn đề khác là sự mất liên lạc giữa bộ phận IT và các chủ doanh
nghiệp, người tài trợ cho các dự án IT. Hai bên thường có các ý tưởng rất khác
nhau như điều mà họ muốn. Đứng ở phương diện doanh nghiệp, họ thường
ham mê những thứ giới thiệu hơn công nghệ. Điều này đôi khi tốt nhưng
thường là tồi tệ. Một khách hàng đã phải trì hoãn triển khai một dự án một năm
bởi dự án ba tháng với một sản phẩm thích đáng cần phải mất đến hơn 15
tháng. Phần mềm thích hợp mà IT đang cố triển khai trông khá được khi chạy
giới thiệu nhưng là một đống việc vặt khi triển khai.
Còn trong nhiều trường hợp khác, phòng IT với sự hiểu biết về công nghệ
lại không thèm để ý đến các yêu cầu của doanh nghiệp. Có khách hàng nỗ lực
triển khai sản phẩm mà thiếu thiết bị thích ứng... và chủ doanh nghiệp cuối
cùng từ chối dự án.
Không rõ là giải pháp nào dành cho sự rời rạc này giữa IT và doanh nghiệp
nhưng chắc chắn, đó là nguyên nhân gây ra nhiều dự án IT thất bại hơn bất cứ
lý do gì. (Theo ICTnews)
Còn nguyên nhân ở Việt Nam?
Năm nguyên nhân thường làm các dự án ứng dụng CNTT thất bại do nước
ngoài tổng kết cũng khá đúng ở Việt Nam. Luật sư Wayne Bennett ở Boston
nói: “Rất khó tính toán thiệt hại do các dự án CNTT không thành công gây ra
bởi phạm vi ảnh hưởng của chúng rất sâu rộng. Chúng thường động chạm đến
nhiều thành phần của tổ chức đến mức khó có thể đánh giá được sự lan toả
của chúng”.
5. Ứng dụng CNTT mức thương mại điện tử
4. Ứng dụng CNTT mức chiến lược
3. Ứng dụng CNTT mức nghiệp vụ
2. Ứng dụng CNTT mức cơ bản
1. Đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT
Từ nhận định trên, các nhà lãnh đạo, quản lý Việt Nam cần suy nghĩ xem:
Các dự án ứng dụng CNTT dự định triển khai có tác động thật sự hay đụng

ISO 17799
Iso/Six
Sigma
sox
ITIL
CMM/RUP
COSO
COBIT
Nhắc lại hình 2.1 mô hình đưa ra 6 hoạt động CNTT, tương ứng với từng
giai đoạn là những giải pháp phù hợp với từng giai đoạn và hoạt động CNTT
đó. Ví dụ như hoạt động quản trị dịch vụ thì giải pháp ITIL hỗ trợ chuẩn và
chính xác nhất hoặc việc an toàn an ninh thì giải pháp quản trị bằng ISO 17799
lại là hợp lý nhất… Ngoài ra, phương pháp quản trị đánh giá COBIT lại được
coi như là mái nhà bao trùm mọi hoạt động CNTT. Mong muốn tìm hiểu
phương pháp Cobit và áp dụng Cobit vào các hoạt động CNTT ở nước ta vì
vậy sau đây chúng ta phân tích và đánh giá một số phương pháp quản trị và
đánh giá trên thế giới hiện nay để hiểu rõ hơn ưu điểm nổi trội của Cobit. Ở
trên ta thấy Cobit thể hiện ưu thế trong việc giải quyết các bài toán chiến lược
của nhà nước và doanh nghiệp ở nước ta; có thực Cobit có nhiều ưu điểm hơn
các phương pháp khác? Cobit phải chăng có vị trí hàng đầu trong sự lựa chọn
giữa những phương pháp rất tốt trên thế giới như ITIL, ISO, CMM…
2.1 Phương pháp quản trị và đánh giá ITIL
The Information Technology Infrastructure Library (ITIL) là một tập hợp các
khái niệm và các chính sách để điều hành công nghệ thông tin. ITIL mô tả chi
tiết về một số điểm quan trọng CNTT với bảng kiểm mục toàn diện, chức năng
và các thủ tục mà bất kỳ tổ chức, kinh doanh đều có thể thích ứng với nhu cầu
của nó. ITIL được xuất bản ra một loạt các cuốn sách, mỗi cuốn trong đó bao
gồm một chủ đề quản lý CNTT.
2.1.1 Lịch sử ITIL
Được phát triển bởi văn phòng thương mại chính phủ Anh, 1980. Sau khi công

N
G
H

Thực hiện kế hoạch quản lý dịch vụ
ICT
Quản lý cơ sở
hạ tầng
Quản lý dịch vụ
Toàn cảnh
các doanh
nghiệp
Dịch vụ hỗ trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status