PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HỮU NGHỊ - Pdf 64

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HỮU NGHỊ
2.1. Tổng quan về Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị
Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị là một doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân, là một đơn vị hạch toán độc lập với hoạt động sản xuất kinh doanh chính
là chuyên sản xuất các loại bánh kẹo và tiêu thụ các sản phẩm bánh kẹo do
công ty sản xuất ra.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tiền thân là cơ sở sản xuất bánh kẹo ra đời trước năm 1945 tại 96 Phố
Trần Hưng Đạo do một Hoa kiều làm chủ để cung cấp bánh kẹo cho sở mật
thám Pháp. Đến tháng 9 năm 1945 cơ sở này được Nhà nước thu hồi và
chuyển thành xưởng bánh kẹo 96 Trần Hưng Đạo. Xưởng có nhiệm vụ sản xuất
các mặt hàng bánh kẹo phục vụ Trung ương Đảng và các cơ quan nhà nước
theo đơn đặt hàng với số lao động của xưởng chỉ có 35 người. Đến năm 1960
để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển, xưởng bánh kẹo này chuyển thành
xí nghiệp bánh kẹo 96 Trần Hưng Đạo với số lượng công nhân lên đến 75
người.
Trước tình hình biến động của cơ chế quản lý cũng như có nhu cầu mở
rộng sản xuất kinh doanh, năm 1981 Bộ nội thương quyết định cấp cho xí
nghiệp 7200 m
2
đất thuộc phường Thanh Lương quận Hai Bà Trưng-Hà Nội để
xí nghiệp làm cơ sở sản xuất và chuyển xí nghiệp thành đơn vị trực thuộc công
ty Hữu Nghị (Bộ nội thương). Đến năm 1982 công ty Hữu Nghị quyết định đổi
tên xí nghiệp bánh kẹo 96 Trần Hưng Đạo thành xí nghiệp bánh kẹo Hữu Nghị-
Hà Nội và cho ra đời thương hiệu “Hữu Nghị” cho các sản phẩm bánh kẹo của
xí nghiệp.
Đến năm 1996, xí nghiệp bánh kẹo Hữu Nghị lại trở thành đơn vị trực
thuộc công ty thực phẩm miền Bắc (Bộ thương mại). Kể từ khi đổi mới nền
kinh tế cho đến năm 1996 xí nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập
nhưng đến tháng 11 năm 1996 Giám đốc công ty thực phẩm miền Bắc (đơn vị
chủ quản) đã quyết định chuyển xí nghiệp từ đơn vị hạch toán độc lập sang

- Tổ chức quản lý các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo một cách
có hiệu quả nhất.
- Tạo ra công ăn việc làm cho người lao động với mức thu nhập ổn định và phấn
đấu thu nhập ngày càng tăng.
- Tổ chức thực hiện hạch toán kinh doanh nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực của công ty và đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của ba chủ thể là nhà nước,
công ty và người lao động.
2.1.3. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý và lao động của công ty
2.1.3.1.1. Bộ máy tổ chức quản lý
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Là một doanh nghiệp mới chuyển thành công ty Cổ phần từ một xí nghiệp.
Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị là một doanh nghiệp hạch toán độc lập,
quản lý theo một cấp. Bộ máy được tổ chức theo trực tuyến chức năng gọn nhẹ
phù hợp với yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bộ máy lãnh đạo cao nhất của công ty là Hội đồng quản trị gồm 3 thành
viên do cổ đông bầu ra để thực hiện hoạch định chiến lược và điều hành sự
hoạt động chung của công ty.
Ban giám đốc có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các kế hoạch, lãnh đạo điều
hành, chỉ đạo và kiểm soát hoạt động của các phòng ban, phân xưởng sản xuất.
Hội
đồng
Ban
giám
Phòng
kế toán
Phòng
nghiệp vụ
Phòng tổ chức
h nhà chính

xưởng
sản
xuất
bánh
xốp
Các phòng ban chức năng thực hiện nhiệm vụ của mình dưới sự chỉ đạo
của ban giám đốc và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về hoạt động của
mình.
2.1.3.1.2. Cơ cấu và đặc điểm lao động của công ty
Lực lượng lao động của công ty phần lớn trưởng thành từ hoạt động sản
xuất và có đủ kinh nghiệm để sản xuất các loại bánh kẹo. Nhìn qua bảng 2.1 về
cơ cấu lao động cho thấy tình hình lao động của công ty rất ít có sự thay đổi,
cơ cấu cán bộ quản lý không thay đổi qua các năm với số lượng là 22 người,
chỉ có tăng thêm lực lượng lao động trực tiếp. Lực lượng lao động có trình độ
cao cũng không thay đổi, lao động có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở
lên có 25 người, công nhân kỹ thuật có 20 người và công nhân có tay nghề bậc
cao là 35 người-Họ đã gắn bó, làm việc cho công ty từ lâu và là những người
trụ cột trong công ty. Xét về trình độ tay nghề của công nhân sản xuất trực tiếp
thì lực lượng công nhân có tay nghề cao và lao động kỹ thuật chiếm gần 50 %
tổng số lao động của công ty. Số công nhân sản xuất phổ thông của công ty
ngày một tăng vì hàng năm công ty cũng tuyển thêm lao động nhằm đáp ứng
cho mở rộng sản xuất kinh doanh. Còn lực lượng lao động gián tiếp, chủ yếu là
những người quản lý công ty, hầu hết đều có trình độ cao đẳng trở lên và lực
lượng này tương đối ổn định qua các năm và chiếm khoảng 1/5 tổng số lao
động trong công ty.
Ngoài ra do hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có tính chất thời
vụ nên ngoài lực lượng lao động thường xuyên trên, vào các dịp tết trung thu,
tết nguyên đán công ty còn phải thuê thêm một lực lượng lao động thời vụ
tương đối lớn khoảng từ 100-150 người để sản xuất và bán hàng cho công ty.
Nhưng lực lượng lao động thời vụ này thường tay nghề không cao nên công ty

tiếp
93 80.8
7
101 82.1
1
103 82.4
0
Cán bộ kỹ thuật
3 2.61 3 2.44 3 2.4
Công nhân sản xuất
90 78.2
6
98 79.6
7
100 80.0
0
2. Lao động gián
tiếp
22 19.1
3
22 17.8
9
22 17.6
0
Ban giám đốc
2 1.74 2 1.63 2 1.60
Phòng TC-HC 9 7.83 9 7.32 9 7.20
Phòng KT-TC 4 3.48 4 3.25 4 3.20
thống nhà xưởng sản xuất, kho bãi lớn. Đây là nguồn vốn tài sản quan trọng
đối với công ty nhưng hệ thống máy móc, thiết bị của công ty được xem là lạc

Là một xí nghiệp trực thuộc doanh nghiệp nhà nước mới chuyển sang cổ
phần hoá nên quy mô sản xuất còn nhỏ so với các doanh nghiệp khác trong
ngành và chưa có điều kiện để thay đổi thiết bị công nghệ nhằm thích ứng với
đòi hỏi và phát triển trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo. Quy mô sản xuất bánh
kẹo của công ty trong những năm qua được thể hiện ở bảng sau.
Qua bảng 2.2 cho thấy quy mô sản xuất của công ty có sự tăng lên qua các
năm, tổng sản lượng bánh kẹo sản xuất ra năm sau cao hơn năm trước. Với số
liệu trên cho biết tổng sản lượng sản xuất ra năm 1998 đạt 847.16 tấn; tổng
sản lượng sản xuất ra năm 1999 đạt 865.81 tấn tăng 18.65 tấn hay tăng 2,20
% so với năm 1998; tổng sản lượng sản xuất năm 2000 đạt 907.65 tấn tăng
41.84 tấn hay tăng 4,83 % so với năm 1999 và năm 2001 tổng sản lượng sản
xuất ra đạt 1068.49 tấn tăng 160.84 tấn hay tăng 17,72 % so với năm 2000.
Qua phân tích số liệu ta thấy tốc độ tăng trưởng sản xuất của công ty qua các
năm tăng thấp và không ổn định. Trong 3 năm từ 1998-2000 tốc độ tăng
trưởng bình quân chỉ đạt 2,33%/năm. Đây là giai đoạn công ty gặp nhiều khó
khăn trong sản xuất và kinh doanh bởi trong giai đoạn này mọi hoạt động của
xí nghiệp (khi còn là xí nghiệp sản xuất bánh kẹo Hữu Nghị trực thuộc công ty
thực phẩm miền Bắc) đều chịu sự chi phối của công ty chủ quản từ hoạt động
sản xuất cho đến hoạt động tiêu thụ. Bắt đầu từ năm 2001, xí nghiệp trở thành
công ty cổ phần có tính độc lập, được tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Công ty bước sang một giai đoạn phát triển mới, phát huy
được năng động sáng tạo và năng lực của từng cán bộ công nhân viên trong
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao trách nhiệm của mỗi người
vì quuyền lợi của họ trong công ty, từ đó đẩy mạnh được hoạt động sản xuất
kinh doanh. Vì vậy mà ngay năm đầu khi trở thành công ty cổ phần sản lượng
sản xuất ra của công ty đã tăng trưởng đạt 17,72 % so với năm trước. Đó là
một sự khởi đầu tốt đẹp cho giai đoạn phát triển mới trong quá trình phát
triển của công ty.
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất của công ty trong 5 năm 1997-2001
Năm

trọn
g
(%)
I. Tổng sản
lượng sản
xuất
847.16 100 865.81 100 907.65 100 1068.49 100
1. Bánh các
loại
- Bánh kem
xốp
- Bánh quy các
loại
- Bánh trung
thu
196.
50
89.2
7
77.5
2
29.7
1
23.1
9
45.4
3
39.4
5
15.1

0
15.6
2
248.6
3
126.5
8
85.23
36.82
23.2
7
50.9
1
34.2
8
14.8
1
Xét về cơ cấu mặt hàng sản xuất, các sản phẩm chủ yếu của công ty là
bánh, kẹo và mứt tết với khối lượng sản xuất ngày càng tăng.
Trong đó kẹo là sản phẩm chủ yếu của công ty với sản lượng sản xuất ngày
càng tăng, năm 1998 đạt 486.59 tấn, năm 1999 đạt 497.18 tấn tăng 10.59 tấn
hay tăng 2,18% so với năm 1998, năm 2000 sản lượng kẹo sản xuất ra đạt
531.95 tấn tăng 34.77 tấn hay tăng 6,99% so với năm 1999 và năm 2001 sản
lượng này đạt 637.59 tấn tăng 105.64 tấn hay tăng 19,86% so với năm 2000.
Trong các sản phẩm kẹo thì kẹo sữa và kẹo cân tổng hợp chiếm một tỷ trọng
lớn nhất trong cơ cấu sản phẩm kẹo. Xét về quy mô khối lượng sản xuất thì cả
hai mặt hàng này đều tăng lên qua từng năm nhưng xét về tỷ trọng trong sản
lượng kẹo sản xuất ra thì kẹo sữa các loại chiếm ngày càng tăng. Sản lượng
kẹo sữa sản xuất ra năm 1998 là 133.74 tấn chiếm 27,49%, năm 1999 là
138.52 tấn chiếm 27,86%, năm 2000 là 149.62 tấn chiếm 28,13% và năm 2001

tương đối ít trong sản lượng bánh,năm 1998 chiếm 15,12%, năm 1999 chiếm
15,32%, năm 2000 chiếm 16,08% và năm 2001 chỉ chiếm 14,81%. Có sự thay
đổi này là do sự tăng mạnh của các sản phẩm bánh kem xốp. Bánh trung thu là
sản phẩm ít được các doanh nghiệp sản xuất mà chủ yếu là tư nhân làm theo
tính chất cổ truyền và mang tính thủ công. Còn công ty là một đơn vị là bánh
trung thu chuyên nghiệp và từ lâu trên thị trường Hà Nội, vượt qua những khó
khăn, thử thách và thăng trầm đến nay bánh trung thu của công ty đã và đang
từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường và thu hút
được một lượng khách hàng lớn bằng chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn và
ngày càng nâng cao.
Bên cạnh những sản phẩm bánh kẹo, công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị
còn sản xuất các sản phẩm mứt tết để phục vụ nhu cầu của nhân dân trong dịp
tết cổ truyền của dân tộc. Đây là sản phẩm cũng ít được các doanh nghiệp sản
xuất bánh kẹo sản xuất, còn với công ty thì đây là sản phẩm có tính truyền
thống và hàng năm cứ đến những ngày gần đến tết cổ truyền là mọi người
trong công ty bận rộn để sản xuất mứt tết phục vụ nhân dân. Khối lượng mứt
tết các loại công ty sản xuất ra tăng tương đối ổn định với khối lượng năm
1998 đạt 164.07 tấn, năm 1999 đạt 167.62 tấn tăng 3.55 tấn hay tăng 2,16%
so với năm 1998, năm 2000 đạt 172.38 tấn tăng 4.76 tấn hay tăng 2,84% so
với năm 1999 và năm 2001 đạt 182.27 tấn tăng 9.89 tấn hay tăng 5,74% so với
năm 2000.
2.1.4.2. Kt qu kinh doanh ca cụng ty trong nhng nm qua
Bng 2.3: Kt qu kinh doanh ca cụng ty t 1998-2001
Ngun: Phũng nghip v-kinh doanh
Hot ng sn xut kinh doanh ca cụng ty hng nm u cú s phỏt trin
c quy mụ sn xut ln lng tiờu th, do ú doanh thu tng u hng nm v
nm trc luụn cao hn nm sau: nm 1998 t 13096.15 triu ng tng
6.09% so vi nm 1997, nm 1999 t 13498.00 triu ng tng 3.07% so vi
nm 1998, nm 2000 t 14205.84 triu ng tng 5.24% so vi nm 1999.
õy l nhng nm cụng ty cũn hot ng ph thuc s iu hnh ca cụng ty

Tr.đồng
13096.15 13498 14205.84 16890.73
Tốc độ tăng của DT
%
6.09 3.07 5.26 18.9
Lợi nhuận
Tr.đồng
301.65 307.54 312.21 361.76
Tốc độ tăng của LN
%
2.42 1.95 1.52 15.87
Nộp ngân sách Nhà nước
Tr.đồng
365.51 378.79 399.77 447.56
Bánh kẹo là sản phẩm tiêu dùng được sản xuất ra từ nhiều nguyên vật liệu
của các ngành thực phẩm khác như đường kính, bột mỳ, bơ,sữa, pho mát, dầu
ăn nhiều hương liệu và yếu tố vi lượng khác. Do đó bánh kẹo có một số đặc
điểm ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm.
Thứ nhất bánh kẹo là nhóm sản phẩm có những đặc trưng riêng trong
nhóm hàng tiêu dùng vừa được sử dụng trong gia đình hoặc làm quà biếu tặng
nhân các dịp lễ tết nên nó vừa đòi hỏi chất lượng cao, vừa đòi hỏi phải đẹp
mắt, sang trọng. Do đó để thuyết phục người tiêu dùng mua bánh kẹo thì sản
phẩm cần phải đảm bảo chất lượng, nhãn hiệu, bao gói phải đa dạng phong
phú với nhiều chủng loại phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.
Thứ hai bánh kẹo dễ sản xuất, vận chuyển và chịu sự ảnh hưởng nhiều của
yếu tố thiết bị công nghệ. Bánh kẹo được sản xuất ra bởi sự kết hợp của nhiều
nguyên vật liệu sẵn có trên thị trường, thời gian hoàn thành sản phẩm thường
ngắn khoảng chỉ 3-4 giờ. Bánh kẹo dễ dàng được sản xuất bởi cả tư nhân lẫn
doanh nghiệp. Tư nhân cũng sản xuất ra các loại bánh kẹo mang tính chất đặc
sản của một vùng, miền, khu vực nhất định như bánh đậu xanh, bánh cáy, bánh

nghiệp này là những công ty sản xuất đường cùng tham gia vào việc sản xuất
bánh kẹo như công ty đường Lam Sơn, Quảng Ngãi, Biên Hoà,…Họ là những
công ty có lợi thế về nguyên vật liệu và lợi thế về khoảng cách thị trường. Đặc
biệt là công ty TNHH chế biến thực phẩm Kinh Đô- là công ty mới tham gia và
thị trường bánh kẹo Việt Nam đầu những năm 90s, song phần nào đã chứng tỏ
được sức mạnh cạnh tranh của mình với các loại sản phẩm bánh kẹo tương
đối đa dạng về chất lượng, mẫu mã chủng loại. Trong đó có loại bánh trung
thu là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với bánh trung thu của công ty cổ phần
bánh kẹo Hữu Nghị đã thu hút được nhiều người tiêu dùng ở Hà Nội.
Quy mô thị phần trên thị trường thì công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị
chiếm một phần rất nhỏ và được xem là kém lợi thế hơn về quy mô so với các
công ty khác trong ngành. Chiếm chưa đầy 2% tổng khối lượng bánh kẹo tiêu
thụ trên thị trường và có xu hướng giảm xuống trong 3 năm 1998-2000 nhưng
năm 2001 đã bắt đầu tăng lên. Đối thủ chiếm thị phần lớn nhất là công ty bánh
kẹo Hải Hà chiếm trên 20% và cũng đang có xu hướng giảm xuống về thị phần.
Bên cạnh đó, sản phẩm của công ty còn chịu sự cạnh tranh của các sản
phẩm nhập từ nước ngoài. Các sản phẩm nhập ngoại thường đa dạng, phong
phú về chủng loại, mẫu mã cũng như chất lượng sản phẩm, trong đó có cả các
Bảng 2.4: Quy mô tiêu thụ v thà ị phần của một số công ty trên thị
trường
Năm
1998 1999 2000 2001
Công ty
Sản
lượn
g
(tấn)
Thị
phầ
n

22.9
9
1084
0
21.4
0
1133
6
20.5
9
1150
0
19.5
5
Hải Châu
5678 12.2 5859 11.5
6
6982 12.6
8
7500 12.7
5
Tr ng Anà 2054 4.41 2307 4.55 2465 4.48 2565 4.36
Hải H -à
Kotobuki
1995 4.29 2267 4.47 2610 4.74 2718 4.62
Kinh Đô
2210 4.75 2553 5.04 2870 5.21 3012 5.12
Biên Hoà 3028 6.51 3377 6.67 3540 6.43 3869 6.58
Quảng Ngãi
3005 6.46 3024 5.97 3206 5.82 3672 6.24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status