Nguồn
Thu thập Lưu trữ và xử lý
Đích
Phân phát
Kho dữ liêu
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI
I - CÁC KHÁI VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN
1. Hệ thống thông tin
Trong bất kỳ một tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị nào cũng đều tồn tại một hệ thống
thông tin. Hệ thống thông tin là tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, phần
mềm, dữ liệu… thực hiện hoạt động thu thập , lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin trong
một tập hợp các dàng buộc được gọi là môi trường. Để có thể nhìn nhận một cách trực quan
về hệ thống thông tin người ta thường tiến hành mô hình hoá hệ thông tin. Nhờ việc mô
hình hoá các hệ thống thông tin mà nhà quản lý có thể thực hiện một cách tốt hơn công việc
quản lý của mình. Trong mỗi tổ chức thì mô hình hệ thống thông tin có một đặc thù riêng,
tuy nhiên chúng vẫn tuân theo một quy tắc nhất định. Sau đây là mô hình hệ thống thông tin
tổng quát.
Mô hình hệ thống thông tin :
Nhằm giúp cho công việc đánh giá phân tích hệ thống thông tin một cách thuận lợi
người phân tích cần tiến hành phân loại hệ thống thông tin. Hiện nay tồn tại nhiều cách
phân loại hệ thống thông tin trong tổ chức, nhưng có hai các phân loại thông dụng nhất là:
- Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra
- Phân loại theo theo lĩnh vực và mức độ ra quyết định
2. Cơ sở dữ liệu
Một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống thông tin đó là cơ sở dữ liệu
của hệ thống. Trong bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào, các nhà doanh nghiệp luôn phải
lưu trữ và xử lý dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý cũng như hoạt động của doanh nghiệp
đó. Dữ liệu có tầm quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp hay tổ chức, do vậy mỗi khi
phân tích, thiết kế một hệ thống thông tin thì yêu cầu đối bắt buộc đối với các phân tích viên
là làm việc với cơ sở dữ liệu
Để thực hiện được nhiệm vụ này ta phải có cách thức nào đó giao tác với cơ sở dữ liệu.
Thông thường là thông qua một dạng nào đó của ngôn ngữ truy vấn.
•
Ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc SQL ( Structured Query Language ). Là ngôn ngữ phổ
dụng nhất dùng để truy vấn các cơ sở dữ liệu hiện nay. Việc viết một lệnh SQL đòi hỏi nhiều
thời gian và kỹ năng, nhất là những truy vấn phức tạp trong một cơ sở dữ liệu lớn có nhiều
thực thể.
•
Truy vấn bằng ví dụ QBE ( Quyre By Example ). Nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu có cách
thức đơn giản hơn để giao tác với cơ sở dữ liệu dựa vào khái niệm QBE. QBE tạo cho người
sở dụng một lưới điền hoặc một mẫu để xây dựng cấu trúc một mẫu hoặc mô tả dữ liệu mà
họ muốn tìm kiếm
Lập các báo cáo ( Report) từ cơ sở dữ liệu. Thường thì các hệ quản trị cơ sở dữ liệu bổ
sung tính năng lập báo cáo cho việc truy vấn dữ liệu. Báo cáo là những dữ liệu được kết
xuất ra từ cơ sở dữ liệu, được tổ chức và đưa ra dưới dạng in ấn. Tuy nhiên báo cáo vẫn có
thể được thể hiện ra trên màn hình. Lập báo cáo là một bộ phận đặc biệt của hệ quản trị cơ
sở dữ liệu được dùng để lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu đẻ xử lý và đưa ra cho người sử dụng
dưới một thể thức sử dụng được.
Cấu trúc tệp và mô hình dữ liệu. Dữ liệu phải tổ chức theo một cách nào đó để không
dư thửa và dễ dàng tìm kiếm, phân tích và hiểu được chúng. Vì vậy cơ sở dữ liệu cần phải
cấu trúc lại. Để lưu trữ dữ liệu chúng ta cần một cơ chế đẻ gắn kết các thực thể mà chúng có
mối quan hệ tự nhiên giữa cái nọ với cái kia. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thường sử dụng 3 mô
hình sau để chế ngự các mối quan hệ nào đó :
•
Mô hình phân cấp ( Hierarchical Model )
•
Mô hình mạng lưới ( Network Model )
•
Mô hình quan hệ ( Relational Model )
3. Phân tích, thiết kế một hệ thống thông tin
b/ Phân tích chi tiết
Mục tiêu của giai đoạn phân tích chi tiết
Mục đích của giai đoạn phân tích chi tiết là đưa ra một chuẩn đoán về hệ thống đang tồn
tại, xác định mục tiêu của hệ thống mới và đề xuất ra các yếu tố giải pháp cho phép đạt
được các mục tiêu trên. Các bước cần thực hiện khi phân tích hệ thống :
- Xác định các yêu cầu. Việc xác định các yêu cầu được thực hiện sau khi đã tiến hành thu
thập thông tin của hệ thống. Được tổng hợp từ kết quả của quá trình ghi chép, phỏng
vấn, khảo sát, quan sát, phân tích các mẫu.
- Bước tiếp theo là phải cấu trúc hoá các yêu cầu của hệ thống
- Tìm lựa chọn giải pháp cho hệ thống mới, đưa ra các chiến lược về hệ thống thông tin
trong tương lai.
Kết quả của các bước này được tổng hợp lại trong hồ sơ của dự án, từ hồ sơ của dự án lại
tác động trở lại các bước này làm cho việc thực hiện nó được hoàn thiện hơn
Các phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin là công việc mà phân tích viên thực hiện nhằm có được các thông tin
về hệ thống nhằm phục vụ cho quá trình phân tích thiết kế và đánh giá hệ thống. Thông
thường người ta sử dụng phương pháp phỏng vấn và nghiên cứu tài liệu để thu thập thông
tin. Hiện nay có các phương pháp thu thập thông tin phổ biến sau :
• Phỏng vấn là phương pháp mà phân tích viên thu thập thông tin thông qua các
cuộc tiếp xúc với khách hàng
• Nghiên cứu tài liệu, cho phép nghiên cứu tỉ mỉ về nhiều khía cạnh
• Sử dụng các phiếu điều tra, được dùng khi phải lấy thông tin từ số lượng lớn các
đối tượng và trên phạm vi địa lý rộng
• Quan sát là phương pháp phân tích viên thu thập các thông tin mà không thể hiện
trong tài liệu hoặc qua phỏng vấn.
Mã hoá dữ liệu
Mã hoá dữ liệu là việc xây dựng một tập hợp các hàm thức mang tính quy ước và gán cho
tập hợp này một ý nghĩa bằng cách cho liên hệ với những đối tượng cần biểu diễn.Khi xây
dựng hệ thống thông tin thì việc mã hoá dữ liệu là rất cần thiết nó giúp cho việc nhận diện
các đối tượng không bị nhầm lẫn, mô tả nhanh chóng các đối tượng, nhận diện các nhóm
Giai đoạn thiết kế logic nhằm mục tiêu xác định một cách chi tiết và chính xác cái gì mà
hệ thống mới phải làm để đạt các mục tiêu đã được thiết lập từ giai đoạn phân tích chi tiết