thực trạng đầu tư tín dụng đối với doanh nghiệp quốc doanh
ở ngân hàng công thương hoàn kiếm
I. SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM
1. Hoàn cảnh ra đời và sự phát triển.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm ra đời từ ngân hàng Nhà nước
quận Hoàn Kiếm, trực thuộc ngân hàng Nhà nước thành phố Hà nội- ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 theo sắc
lệnh của chủ tịch nước Hồ Chí Minh.Trước tháng 3 năm 1988, tức trước
nghị định 53/HĐBT: “Đổi mới hoạt động ngân hàng”, nhiệm vụ của ngân
hàng là phục vụ công tác tiền tệ, tín dụng, thanh toán trên địa bàn quận
Hoàn Kiếm, vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa thực hiện chức năng ngân
hàng hoạt động theo kế hoạch của Nhà nước và được Nhà nước bao cấp, do
đó có sự đầu tư tín dụng tràn lan kém hiệu quả.
Cùng với sự đổi mới nền kinh tế, hệ thống ngân hàng với vai trò là
động lực cho sự phát triển, cũng được đổi mới bắt đầu từ Nghị định
53/HĐBT ngày 26/3/1988 của hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ), đặc
biệt là sự ra đời của hai pháp lệnh ngân hàng năm 1994 (pháp lệnh ngân
hàng nhà nước và pháp lệnh về ngân hàng công ty tài chính và tổ chức tín
dụng). Hệ thống ngân hàng Việt nam đã có sự chuyển biến căn bản. Đó là
việc chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng
hai cấp, trong đó:
+ Ngân hàng nhà nước Việt nam với tư cách là ngân hàng của các
ngân hàng, cùng với hệ thống chi nhánh ở các tỉnh thành phố trực thuộc
trung ương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước thông qua các chính
sách về tiền tệ, về tín dụng...
+ Các ngân hàng thương mại bao gồm ngân hàng thương mại quốc
doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, các hợp tác xã tín dụng... chuyên doanh theo từng
lĩnh vực và hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh độc lập.
Như vậy trong hệ thống ngân hàng hai cấp đã phân chia rõ vai trò,
nhiệm vụ của các ngân hàng. Đó là nhiệm vụ quản lý hệ thống tài chính, tiền
làm cho một số doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, cá nhân
kinh doanh, hộ gia đình thua lỗ trong kinh doanh, mất khả năng thanh toán,
không trả được nợ, gây ra sự mất mát cho ngân hàng.
Tuy vậy trong thời gian gần đây, ngân hàng đã từng bước đi vào ổn
định và hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ các phòng ban và hoạt động cơ
bản của ngân hàng
a. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
Ngân hàng có đến 175 cán bộ công nhân viên, hầu hết cán bộ trong
ngân hàng đều có trên 5 năm công tác, số cán bộ đạt trình độ đại học và trên
đại học chiếm trên 80% tổng số cán bộ công nhân viên. Đội ngũ cán bộ ngân
hàng nhìn chung trẻ tuổi, có trình độ nghiệp vụ khá, năng động và đoàn kết
trong công tác, thường xuyên chú trọng đến việc đổi mới công tác tổ chức
cán bộ, chú ý bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ của bản thân và tận tình trong
việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ.
Ngân hàng công thương Hoàn kiếm được tổ chức thành 8 phòng ban
tại trụ sở chính và các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm nằm rải rác trên địa
bàn quận.
Ban giám đốc
Phòng kế toánPhòng t.toánq.tếPhòng ngânquỹPhòng nguồn vốnPhòng kiểm soátPhòng vitínhPhòng hànhchínhPhòng giao dịchPhòng kinh doanh
Các quỹTK
Hệ thống tổ chức của chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn kiếm
có thể được minh hoạ bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng công thương Hoàn kiếm
+ Ban giám đốc: Ban giám đốc gồm một phó giám đốc và hai phó
giám đốc. Trong hai phó giám đốc, một phó quản lý hoạt động kinh doanh
của chi nhánh, một phó phụ trách công tác hành chính. Ban giám đốc trực
tiếp đề ra các quết định, hướng dẫn thi hành, quản lý hoạt động của tất cả
các phòng ban trong chi nhánh trong phạm vi quyền hạn của mình. Ban
giám đốc là người thông qua các quyết định kinh doanh, ký các văn bản hợp
trực tiếp với khách hàng đến giao dịch với ngân hàng. Mọi nghiệp vụ phát
sinh ở phòng phải được cân đối, lên sổ quỹ cuối ngày.
+ Phòng nguồn vốn: Nhiệm vụ của phòng nguồn vốn là huy động vốn
và quản lý tất cả các nguồn vốn của ngân hàng, đó là các khoản tiền gửi,
tiền vay, vốn điều chuyển... Công việc chủ yếu của phòng là quản lý các quỹ
tiết kiệm (gồm 10 quỹ nằm rải rác khắp quận).
+ Phòng kiểm soát: phòng kiểm soát có thể thường xuyên hoặc định
kỳ kiểm tra hoạt động của tất cả các phòng ban về tính hợp pháp, hợp lệ
trong hoạt động, đồng thời phối hợp kiểm soát với đoàn kiểm soát trung
ương khi cần thiết.
+ Phòng vi tính: phòng vi tính chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật máy
tính của ngân hàng liên quan đến các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, thanh
toán bù trừ, thanh toán liên ngân hàng..., đồng thời lập các báo cáo, lên cân
đối định kỳ...
+ Phòng giao dịch: Chi nhánh có tới ba phòng giao dịch ở Đồng xuân,
Hàng da và ở Hàng gai. Mỗi phòng giao dịch gần giống như một ngân hàng
thu nhỏ, cũng có các nghiệp vụ cho vay, thu nợ, nhận tiền gửi... nhưng chỉ
trong phạm vi quyền hạn cho phép (Trưởng phòng chỉ được phép ký khế
ước cho vay trị giá dưới 10 triệu đồng) mọi phát sinh ở phòng được đưa về
trung tâm vào cuối ngày.
Trong hoạt động, giữa các phòng ban luôn có mối quan hệ mật thiết
với nhau, hỗ trợ cho nhau để cùng thực hiện mục tiêu chung của ngân hàng.
Các phòng kinh doanh, phòng nguồn vốn, phòng kế toán thường xuyên giao
dịch trực tiếp với khách hàng, nắm bắt các thông tin, nhu cầu của khách
hàng và tập hợp, gửi lên ban giám đốc để ban giám đốc đề ra những quyết
định đúng đắn trong hoạt động.
b.Hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Ngân hàng công thương chi nhánh Hoàn kiếm thực hiện đầy đủ các
nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại: huy động, cho vay, trung gian
thanh toán... Các khoản huy động là tiền tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của
mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra tiềm năng về vốn cho các hoạt động của
ngân hàng thương mại. Ngược lại với hàng ngàn tỷ đồng vốn đầu tư, cho
vay, ngân hàng thương mại đã tạo ra khả năng phát triển mới cho nền kinh
tế.
Chúng ta có thể thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của hệ thống ngân
hàng thương mại qua sự hoạt động của chi nhánh ngân hàng công thương
Hoàn kiếm trong thời gian qua.
2. Hoạt động của ngân hàng công thương Hoàn kiếm
Quá trình đổi mới và phát triển của ngân hàng công thương Hoàn
Kiếm gắn liền với sự đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt nam, là hệ quả
của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước do Đảng và Nhà nước
ta khởi xướng và tổ chức thực hiện.
Chuyển từ một chi nhánh ngân hàng nhà nước sang một chi nhánh
ngân hàng thương mại, ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã hoà nhập kịp
thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tập thể lãnh đạo và cán bộ
công nhân viên chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã phấn đấu
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao với mục tiêu kinh tế then chốt
“phát triển an toàn vốn, tôn trọng pháp luật trong hoạt động và có lợi nhuận
cao”.
Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ngân hàng luôn chú trọng đổi mới
trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Trong hoạt động, ngân hàng đã từng bước thoát khỏi
từ những nghiệp vụ tiền tệ tín dụng cổ truyền, phát huy mở rộng các nghiệp
vụ mới như kinh doanh mua bán vàng bạc, ngoại tệ thực hiện nghiệp vụ tín
dụng thuê mua, chiết khấu chứng từ, nghiệp vụ bảo lãnh mua bán hàng hoá,
dịch vụ chuyển tiền nhanh trong nước, nghiệp vụ thanh toán quốc tế... Ngân
hàng ý thức được rằng một nền kinh tế thị trường đang phát triển hàm
chứa một sự canh tranh khốc liệt. Với thị trường Hà nội, bao gồm nhều
thành phần kinh tế hoạt động, từ các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng cổ
phần đến các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài thì chỉ có ngân
hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại càng khó khăn hơn, nhất là trong
bối cảnh của ngân hàng công thương Hoàn kiếm với sự thua lỗ nặng trong
năm 2000, sự thay đổi cơ bản về mặt nhân sự và thay đổi trong định hướng
hoạt động, chiến lược kinh doanh.
Mặc dù vậy, ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã từng bước khắc
phục hậu quả, nỗ lực trong hoạt động, dần dần cải thiện được tình hình kinh
doanh, đạt được những thành tựu lớn trong nhiều lĩnh vực trong năm qua.
a. Công tác huy động vốn.
Nguồn vốn huy động là điều kiện tiên quyết, là tiền đề của mọi hoạt
động kinh doanh tiền tệ trong ngân hàng. Ngân hàng thực hiện phương
châm đi vay để cho vay, ngân hàng chỉ có thể cho vay khi đã có nguồn vốn
dồi dào. Trong năm qua ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã nỗ lực trong
việc huy động vốn bằng việc mở rộng mạng lưới giao dịch đến các cơ sở,
đến các trung tâm thương mại qua các quầy giao dịch, quỹ tiết kiệm bố trí
rải rác khắp quận. Đồng thời kết hợp với đổi mới phong cách lề lối làm việc,
đa dạng hoá phương thức huy động vốn, tạo điều kiện cho khách hàng gửi
tiền, mua kì phiếu... Qua quá trình hoạt động , ngân hàng đã củng cố đựơc
lòng tin của khách hàng trong quận, khách hàng đến giao dịch với ngân
hàng ngày càng đông, điều đó được thể hiện ở sự tăng lên không ngừng của
nguồn vốn huy động trong thời gian qua.
Bảng 1: Nguồn vốn huy động của ngân hàng công thương
Hoàn kiếm
(Đơn vị: 1.000.000 đồng)
Chỉ tiêu 2000 Tỷ
trọng
96
2001 Tỷ
trọng
97
Tỷ lệ
nguồn này chiếm đến 38,7% tổng nguồn vốn, tăng từ 46.947 năm 2000 lên
207.579 triệu đồng năm 2001. Đây là một bước tăng mà nguyên nhân chính
của nó là sang năm 2001, ngân hàng đã lấy lại được lòng tin của khách
hàng và hoạt động của dịch vụ thanh toán trong ngân hàng tăng lên mạnh
mẽ.
+ Tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn huy động chủ
yếu của ngân hàng chiếm tới 86% tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng
năm 1999, 80% năm 2000 và 61% năm 2001. Tuy gảm về tỷ trọng, nhưng so
với năm 2000, nguồn vốn này tăng 38.237 triệu đồng hay tăng 13%.
Ngoài hai nguồn vốn chủ yếu trên, ngân hàng còn huy động bằng
nhiều nguồn vốn khác nhau như: bán kỳ phiếu, vay các tổ chức tín dụng,
ngân hàng thương mại khác... và một nguồn vốn tương đối lớn , đáp ứng
cho nhu cầu vốn cấp bách của ngân hàng là vốn điều chuyển từ ngân hàng
công thương trung ương hay từ các ngân hàng thương mại khác. Đây là
nguồn vốn phụ bổ trợ cho nguồn vốn của ngân hàng khi cần thiết nên không
xuất hiện thường xuyên trong các khoản mục vốn.
Năm 2000, với sự biến động trong nọi bộ ngân hàng, cùng với sự
biến động của nền kinh tế , nguồn vốn ngân hàng huy động được giảm đi so
với năm 1999, chỉ đạt được 337.826 triệu đồng, hay đạt mức 81% so với
năm 1999. Sang năm 2001, ngân hàng đã lấy lại được sự thăng bằng, ổn
định. Nguồn vốn tăng lên nhanh chóng, từ 337,826 triệu đồng năm 2000 lên
536.695 triệu đồng năm 2001, tăng 55,9% so với năm 2000, và tăng 28,5%
so với năm 1999.
So với năm 1999, 2000, nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân
hàng đã tăng lên một cách mạnh mẽ. Năm 1999, nguồn ngoại tệ huy động
chỉ đạt 106 triệu đồng hay 0,025% tổng nguồn vốn huy động, năm 2000,
nguồn ngoại tệ đã tăng lên 811 triệu đồng, đạt 0,24% nguồn vốn, đến năm
2001, nguồn ngoại tệ huy động được đạt 24,4% tổng vốn huy động hay
131.105 triệu đồng. Năm 2001 nguồn vốn băng ngoại tệ của ngân hàng rất
dồi dào, đây là điều kiên hết sức thuận lợi cho ngân hàng trong hoạt động