Mục lục
Mục lục............................................................................................1
Lời mở đầu .....................................................................................3
Chơng I................................................................................4
Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế và đối với doanh nghiệp
nhà nớc.......................................................................................................4
I. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế .............................4
1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng...................................4
2. Tín dụng đối với nền kinh tế thị trờng............................9
II. Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhà nớc...11
1. Doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng......11
2. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nớc ......................19
Chơng II............................................................................25
thực trạng đầu t tín dụng đối với doanh nghiệp quốc doanh ở ngân
hàng công thơng hoàn kiếm.....................................................................25
I. Sơ lợc về ngân hàng công thơng hoàn kiếm......................25
1. Hoàn cảnh ra đời và sự phát triển.................................25
2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ các phòng ban và hoạt động
cơ bản của ngân hàng..................................................................27
II. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng mại
nói chung và của ngân hàng công thơng Hoàn kiếm nói riêng trong
thời gian qua....................................................................................31
1. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng mại.
.....................................................................................................31
2. Hoạt động của ngân hàng công thơng Hoàn kiếm.......32
III . Thực trạng đầu t tín dụng đối với doanh nghiệp quốc
doanh ở ngân hàng công thơng Hoàn kiếm ....................................42
1
1. Về mặt số lợng, cơ cấu..................................................43
2. Về mặt chất lợng...........................................................47
3. Nhận định chung và xu hớng phát triển tín dụng đối với
Trên thực tế, trong thời gian gần đây hoạt động đầu t tín dụng đối với các
doanh nghiệp quốc doanh cha đợc hệ thống ngân hàng thơng mại quan tâm
thích đáng cả về mặt số lợng cả về chất lợng. Hơn nữa vốn tín dụng của các
ngân hàng cho vay trong khu vực kinh tế quốc doanh cha đợc sử dụng hợp
lý, hiệu quả cha cao và thậm chí còn có nhiều rủi ro. Vì vậy mở rộng qui
mô cũng nh nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp
quốc doanh đang là vấn đề cần đợc quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Giải
quyết vấn đề này không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp nâng cao hiệu quả trong hoạt động, giúp khu vực kinh tế quốc
doanh giữ vững vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế mà còn góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thơng mại.
Qua kiến thức học đợc ở trờng, qua quá trình thực tập ở ngân hàng công th-
ơng Hoàn kiếm tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: Tín dụng ngân hàng đối với
việc phát triển của các doanh nghiệp ở ngân hàng công thơng Hoàn kiếm .
3
Ngoài phần mở đầu mở đầu và kết luận bài luận văn của tôi đợc viết thành
3 chơng chính:
Chơng I: Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế và đối với các doanh
nghiệp quốc doanh.
Chơng II: Thực trạng đầu t tín dụng đối với các doanh nghiệp quốc doanh ở
ngân hàng công thơng Hoàn kiếm.
Chơng III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu t tín
dụng đối với doanh nghiệp quốc doanh ở ngân hàng công thơng Hoàn
kiếm.
Chơng I
Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế và đối
với doanh nghiệp nhà nớc
I. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế
1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng
định có thời gian sử dụng lâu dài, để đầu t xây dựng các công trình có
thời hạn thu hồi vốn dới 10 năm.
+ Tín dụng dài hạn, có thời hạn trên 10 năm, thờng đợc sử dụng
để tài trợ cho quá trình đầu t xây dựng các công trình lớn, có thời gian
thu hồi vốn dài.
Theo ngành kinh tế, tín dụng đợc phân thành tín dụng cấp cho
ngành công nghiệp, tín dụng cấp cho ngành thơng nghiệp dịch vụ, ngành
nông nghiệp...
5
Theo thành phần kinh tế tín dụng đợc phân thành tín dụng cấp
cho khu vực kinh tế quốc doanh, và tín dụng cấp cho khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh.
Theo kỹ thuật cung cấp, tín dụng đợc phân thành:
+ Tín dụng chiết khấu. Tín dụng chiết khấu là hình thức tín dụng
qua đó ngời vay vốn đem các loại trái phiếu, thơng phiếu, giấy nhận nợ,
hoá đơn cha thanh toán... đến ngân hàng để làm vật cầm cố cho một
khoản vay. Khoản vốn vay này bằng mệnh giá của giấy nợ trừ đi phần lãi
chiết khấu và hoa hồng chiết khấu. Ngân hàng sau khi đã cung cấp vốn
cho khách hàng có quyền giữ các loại giấy nợ đó và có quyền thu hồi nợ
khi đến hạn nếu khách hàng vẫn cha hoàn trả tiền vay. Hình thức tín
dụng này rất phù hợp với nền kinh tế hiện đại khi thanh toán chậm trả,
thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh.
+ Thấu chi. Thấu chi là một hình thức tín dụng trong đó khách
hàng là chủ tài khoản ở ngân hàng đợc phép chi vợt trội số d có của tài
khoản mình ở một mức nhất định, hay nói cách khác tài khoản khách
hàng đợc phép d nợ. Loại tín dụng này rất thích hợp cho các khách hàng
thờng có các khoản chi bất thờng.
+ Tín dụng thời vụ: là tín dụng cấp cho khách hàng khi nhu cầu
vốn của họ lớn do đến thời vụ sản xuất.
Thời vụ sản xuất ở doanh nghiệp có thể là thời vụ đầu vào hoặc
Có thể nói đây là một dịch vụ của ngân hàng vì ngân hàng không
trực tiếp xuất quỹ cho khách hàng sử dụng mà chỉ đa ra các cam kết bảo
lãnh cho các khoản nợ của khách hàng, tạo điều kiện cho các khách hàng
vay vốn ở đối tác thứ ba. Ngân hàng cam kết sẽ trả thay các khoản nợ
cho khách hàng nếu khách hàng mất khả năng thanh toán.
Theo phơng thức thanh toán tín dụng có thể đợc chia thành tín
dụng hoàn trả một lần, tín dụng trả góp, cho vay luân chuyển...Trong đó
7
cho vay luân chuyển rất thích hợp với các doanh nghiệp có các khoản chi
phí và thu nhập không ổn định.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tín dụng ngân hàng xuất
hiện ngày càng nhiều loại khác nhau phù hợp với các hình thức thanh
toán trong nền kinh tế hiện đại, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày
càng cao của nền kinh tế.
c. Sự tồn tại khách quan của tín dụng.
Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại nhu cầu đi vay và cho vay
vốn. Các doanh nghiệp, cá nhân có những khoản tiền nhàn rỗi luôn có
mong muốn cho vay để hởng lãi các doanh nghiệp, cá nhân có cơ hội
đầu t hay nhu cầu tiêu dùng mà không có tiền sẽ cố gắng tìm vay những
khoản tiền của ngời có cho vay. Đối với ngời đi vay, họ luôn sẵn sàng
chi trả một khoản chi phí để có đợc quyền sử dụng vốn để đầu t vào mục
đích của họ với hi vọng khoản lợi thu đợc sẽ lớn hơn phần chi phí phải
bỏ ra. Hai nhu cầu vay và cho vay này gặp nhau sẽ phát sinh quan hệ tín
dụng.
Tuy nhiên ngời có tiền và ngời có nhu cầu vay tiền sẽ không thể
tìm gặp nhau trên thị trờng. Sự gặp nhau giữa hai nhu cầu này phải thông
qua ngời thứ ba với t cách là ngời trung gian, đó là ngân hàng và tổ chức
tín dụng.
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đứng ra nhận các khoản tiền
gửi dới nhiều hình thức khác nhau, chi trả các khoản lãi cho khách hàng
hoá và các khoản chí phí khác phát sinh trong quá trình kinh doanh.
Trong tiêu dùng nhờ các khoản tín dụng mà mong muốn mua
sắm của ngời tiêu dùng trở thành nhu cầu thực sự, tín dụng tạo ra khả
năng chi trả cho ngời tiêu dùng.
Nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu vốn cho sản
xuất, tiêu dùng ngày càng cao do vậy vai trò của tín dụng ngân hàng cho
sự phát triển kinh tế xã hội rất to lớn.
9
Đối với nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ bao cấp, các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nớc và các hợp tác
xã đợc nhà nớc bao cấp toàn bộ vốn cho sản xuất kinh doanh, nhà nớc
chỉ định nguồn mua nguyên vật liệu, bao tiêu sản phẩm và bù lỗ khi làm
ăn không hiệu quả do đó quan hệ tín dụng đã mất đi tính thực chất của
nó.
Bớc sang nền kinh tế thị trờng, nhà nớc xoá bỏ bao cấp, các
doanh nghiệp tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động sản
xuất của mình. Với các khoản vốn ban đầu do nhà nớc cấp, doanh
nghiệp, phải tự tìm kiếm các nguồn vốn để tài trợ cho chi phí. Điều này
buộc họ phải tự tìm đến ngân hàng để vay vốn.
Không chỉ đối với các doanh nghiệp nhà nớc mà tất cả các thành
phần kinh tế khác, vốn tự có không thể tài trợ đầy đủ cho chí phí sản
xuất. Họ luôn luôn ở trong tình trạng thừa hoặc thiếu vốn, hay nói cách
khác luôn có nhu cầu đi vay và cho vay.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp, công ty có thể có thể huy động
nhiều vốn từ nhiều nguồn khác nhau thông qua thị trờng vốn. Nhng chỉ
các doanh nghiệp, công ty lớn làm ăn hiệu quả, có uy tín trên thị trờng
mới có thể huy động đợc vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
ở nớc ta các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn, hơn
nữa thị trờng tài chính cha phát triển, thị trờng cổ phiếu cha hoạt động
thực sự cho nên sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn bằng cách phát
pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trớc pháp luật.
Ngoài doanh nghiệp 100% vốn đầu t của nhà nớc còn có các
doanh nghiệp cổ phần, trong đó nhà nớc chiếm nột tỷ lệ vốn cao, đủ để
chi phối hoạt động của nó khi cần thiết.
b. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc.
11
Doanh nghiệp nhà nớc, ngoài vai trò tạo ra sản phẩm xã hội,
nguồn thu của ngân sách,còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của
nhà nớc. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc gắn liền với vai trò điều tiết
vĩ mô nền kinh tế của nhà nớc.
Thứ nhất doanh nghiệp nhà nớc là đơn vị tạo ra sản phẩm xã
hội. Cung cấp sản phẩm dịch vụ ,đáp ứng nhu cầu xã hội là vai trò của
bất kỳ một doạnh nghiệp nào.Với cơ sở vật chất, nguồn nhân lực của
mình, doanh nghiệp nhà nớc cũng tiến hành sản xuất kinh doanh nh các
doanh nghiệp khác. Không những vậy, do nắm giữ các nghành kinh tế
then chốt, quy mô lớn, nguồn nhân lực dồi dào nên lợng hàng hoá tạo ra
bởi các doanh nghiệp nhà nớc chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản
phẩm xã hội.
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nớc là công cụ quản lý vĩ mô nền
kinh tế của nhà nớc. Vai trò này là rất quan trọng, đợc biểu hiện ở những
vấn đề sau:
+ Doanh nghiệp nhà nớc giữ các vị trí then chốt của nền kinh tế
và tạo ra lợng hàng hoá dự trữ lớn cho nhà nớc sử dụng để điều hoà cung
cầu, khống chế giá cả thị trờng, khắc phục các cơn sốt giá (cả sốt giá
nóng và sốt giá lạnh) thờng xảy ra trong nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trờng. Vấn đề có tính nguyên tắc của nền kinh tế thị trờng hiện
đại là nhà nớc có vai trò điều tiết, uốn nắn những lệch lạc của sự phát
triển do cơ chế thị trờng chi phối, chứ không thay thế thị trờng. Do vậy,
sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế cơ bản và chủ yếu là bằng các
biện pháp kinh tế chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính. Thông
cụ thể, doanh nghiệp nhà nớc tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trờng thuận
lợi để các thành phần kinh tế khác phát triển. Hơn nữa, doanh nghiệp nhà
nớc tạo ra sự an toàn, hiệu quả cho sản xuất kinh doanh, cho sự phát triển
kinh tế xã hội.
13
Ngoài vai trò trên, doanh nghiệp nhà nớc còn là đơn vị thực
hiện các mục tiêu xã hội, đó là tạo sự công bằng, hỗ trợ cho các ngành
kinh tế kém phát triển, ít sinh lãi, làm tăng công ăn việc làm cho nền
kinh tế. Doanh nghiệp nhà nớc còn là ngời đầu t cho quá trình nghiên
cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, công nghệ sản xuất hiện đại,
doanh nghiệp nhà nớc còn tham gia vào quá trình đào tạo cán bộ khoa
học kỹ thuật, cán bộ quản lý, đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, là nền tảng
cho sự phát triển.
ở nớc ta, đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đờng lối đổi mới nền
kinh tế theo hớng phát triển của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, chúng ta đã khuyến khích mạnh
mẽ phát triển của các thành phần kinh tế khác cùng với việc củng cố, đổi
mới hoạt động của khu vực kinh tế quốc doanh, tạp thể, bảo đảm cho khu
vực kinh tế quốc doanh thực hiện tốt vai trò chỉ đạo của mình.
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá đa thành
phần, Đảng và Nhà nớc ta luôn luôn nhận thức rõ cần thiết có một khu
vực kinh tế quốc doanh hùng mạnh, hoạt động có hiệu quả để giữ vững
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tạo chỗ dựa vật chất cho Nhà nớc trong
quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế .
Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, kinh tế nớc ta
cần có sự lớn mạnh thực sự của khu vực kinh tế Nhà nớc, đủ sức mạnh để
làm đối trọng với các thành phần kinh tế khác. Mà sức mạnh đó phải là
sức mạnh thực sự về thực lực kinh tế chứ không phải là dựa vào quyền
lực của Nhà nóc. Khu vực kinh tế nhà nớc phải tự mình vơn lên dành
LN/DT(%)
2850
142
450
4.98
3458
193
322
5,58
2805
112
320
4,0
3234
97
317
3,0
15
+ Cơ cấu của khu vực kinh tế quốc doanh nói riêng, của nền kinh
tế nói chung đang tiếp tục chuyển biến có lợi cho sự phát triển các ngành
công nghiệp,dịch vụ.
+ Tỷ trọng sản phẩm sản xuất của khu vực kinh tế quốc doanh so
với tổng sản phẩm sản xuất trong nớc đã tăng từ 45% năm 1995 lên
51.4% năm 1999.
Mặc dù có sự phát triển tơng đối mạnh mẽ của khu vực kinh tế
quốc doanh trong nhiều năm qua, nhng hệ thống doanh nghiệp nhà nớc
vẫn còn có nhiều điểm yếu, những tồn tại cần phải khắc phục:
Tuy có sự tăng trởng mạnh mẽ trong những năm 1995-1999
nhng đến năm 2000, 2001 tốc độ tăng trởng của các doanh nghiệp nhà n-
ớc có chững lại. Năm 2001 mặc dù doanh thu tăng, nhng tổng lợi nhuân
nghiệp nhà nớc. Hiệu quả kinh tế thấp, mức sinh lời của đồng vốn thấp,
đặc biệt là các doanh nghiệp do địa phơng quản lý. Nguyên nhân chính
của tình trạng này là trình độ quản lý của cán bộ còn non yếu, thiếu vốn,
thiếu máy móc trang thiết bị, cơ sở vật chất nói chung quá cũ, phần lớn
đợc đầu t mua sắm từ những năm 80.
Tình trạng thua lỗ nặng, mất khả năng thanh toán vẫn xảy ra ở
một số doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản,
nhng không tuyên bố phá sản do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó
có vấn đề giải quyết chính sách, chế độ cho ngời lao động.
Tình hình hiện nay của doanh nghiệp nhà nớc là kết quả của
nhiều nguyên nhân khách quan cũng nh chủ quan..
Thứ nhất, tiềm năng khai thác của thời kỳ bao cấp đã phát huy
gần hết trong khi đó năng lực mới đợc đầu t cha có nhiều và cha kịp phát
huy tác dụng. Động lực phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nớc
sau một thời gian có tác dụng tích cực nhng đến nay đã có những hạn
chế mới.
17
Thứ hai, sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu, hàng nhập
lậu và sản phẩm của các doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài đã gây
ra những khó khăn nhất định cho các doanh nghiệp nhà nớc. Nhiều
doanh nghiệp nhà nớc có vốn đầu t nớc ngoài đã không thực hiện đúng
cam kết là tài sản sản xuất chủ yếu để xuất khẩu. Hàng hoá sản phẩm do
doanh nghiệp nhà nớc làm ra khó cạnh tranh bình đẳng với chất lợng,
mẫu mã, giá cả và khả năng tiếp thị.
Thứ ba, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ còn có hạn, đội ngũ
công nhân lành nghề, kỹ s giỏi cha nhiều, cha đáp ứng đợc nhu cầu của
nền kinh tế thị trờng, không đủ sức đa doanh nghiệp đứng vững và phát
triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh những nhà
quản lý làm việc quên mình vì doanh nghiệp thì đã và đang xuất hiện
những cán bộ chỉ lo thu lợi cá nhân, bán rẻ quyền lợi của nhà nớc, của
Vai trò của tín dụng trong việc huy động và tập trung vốn.
Ngân hàng đã huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi cha sử
dụng trong các doanh nghiệp, dân c để cho vay đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Quá trình kinh doanh tín dụng ngân hàng bắt đầu từ việc huy
động vốn và trên cơ sở có nguồn vốn đó đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày
càng cao của nền kinh tế. Cũng nh các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp
nhà nớc trong quá trình hoạt động luôn ở trong tình trạng tồn tại những
nguồn vốn tạm thời cha sử dụng, có nhu cầu gửi vào ngân hàng để hởng
lãi hoặc ở trong tình trạng thiếu vốn, có nhu cầu vay vốn từ ngân hàng để
trang trải các chi phí trong hoạt động. Ngân hàng là ngời đứng ra tiếp
nhận những khoản vốn nhàn rỗi, tập trung các khoản này thành những
khoản vốn lớn, đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp khi doanh
nghiệp đòi hỏi.
Trong nền kinh tế thị trờnghoạt động kinh doanh luôn gắn liền
với lợi nhuận cao. Do vậy ngân hàng luôn nỗ lực huy động tối đa nguồn
19
vốn từ nền kinh tế nói chung và từ các doanh nghiệp nhà nớc nói riêng.
Qua đó, cùng với chính sách tiền tệ của nhà nớc, cùng với hoạt động của
thị trờng tài chính, thị trờng tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã góp phần tích
cực vào quá trình vận động liên tục của vốn.
Vai trò của tín dụng trong việc cung cấp vốn.
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp
nhằm duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời góp phần đầu
t vào nền kinh tế tạo nên sự tăng trởng phát triển.
Vốn là yếu tố không thể thiếu cho quá trình sản xuất kinh doanh,
tuy vậy hiện tợng thừa, thiếu vốn luôn xảy ra giữa các doanh nghiệp,
giữa các ngành. bằng nguồn vốn huy động đợc, ngân hàng đã thực hiện
các nghiệp vụ cho vay, đầu t, tài trợ cho sự thiếu hụt vốn của một bộ
phận kinh tế. Ngân hàng đáp ứng nhu càu vốn cho các doanh nghiệp đã
bên cùng có lợi giữa các nớc trên thế giới và khu vực đang đợc phát triển
đa dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đó
là nhân tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự hoà nhập vào nền kinh
tế thế giới và cho sự phát triển kinh tế của mỗi nớc, đặc biệt là các nớc
đang phát triển, trong đó có nớc ta. Tín dụng ngân hàng đã trở thành một
trong các phơng tiện nối liền kinh tế các nớc với nhau qua việc đầu t vốn
ra nớc ngoài và tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ.
Để thực hiện đợc quá trình đầu t ra nớc ngoài hay các hoạt động thơng
mại giữa các nớc, yếu tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định là vốn bằng tiền.
Lợng vốn cần cho các hoạt động này là rất lớn và doanh nghiệp thờng
không thể có đủ. Do vậy tín dụng là nguồn vốn tài trợ đắc lực cho các
doanh nghiệp thực hiện quá trình đầu t, xuất nhập khẩu hàng hoá.
ở nớc ta trong thời gian qua tín dụng ngân hàng đã góp phần
đáng kể vào quá trình hợp tác kinh tế với các nớc mà chủ yếu là tài trợ
cho hoạt động ngoại thơng, hoạt động đầu t theo các hiệp định giữa
chính phủ nớc ta với chính phủ các nớc khác, đồng thời nhờ nguồn vốn
21
tín dụng từ bên ngoài để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-
ớc.
c. Tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta
trong thời gian qua
Ngân hàng thơng mại cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nớc
vừa đáp ứng đợc các nhu cầu vốn của doanh nghiệp, vừa đáp ứng đợc
mục tiêu chung của nền kinh tế.
Trong thời gian qua ngân hàng đã rất coi trọng đầu t vốn cho các
doanh nghiệp nhà nớc đặc biệt là doanh nghiệp chủ lực nhà nớc, đồng
thời phối hợp chặt chẽ với các ngành, các doanh nghiệp để khai thác mọi
tiềm năng kinh tế trên cơ sở xác định rõ các mục tiêu và định hớng đầu t.
Kể từ khi sắp xếp lại, tính đến nay cả nớc ta có 74 doanh nghiệp
chủ lực của nhà nớc trong đó có 56 doanh nghiệp là các tổng công ty
trở ngại nhất định:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nớc có số vốn lu động đợc cấp quá
nhỏ, với quy chế hiện hành doanh nghiệp không thể vay vốn ngân hàng
gấp nhiều lần vốn tự có. Do đó, trong nhiều trờng hợp đã cố gắng hết khả
năng, doanh nghiệp vẫn không có đủ vốn hoạt động và đó cũng là vấn đề
khó khăn cho các ngân hàng thơng mại trong việc cung cấp tín dụng, nó
đã hạn chế lợng tín dụng cấp cho mỗi doanh nghiệp. Tuy vậy, thực tế
hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp nợ ngân hàng những khoản lớn gấp
ba bốn lần so với vốn tự có.
Thứ hai, sự yếu kém về quản lý, về tình hình tài chính và sự lạc
hậu của công nghệ sản xuất đã đẫn đến sự thua lỗ ở một số doanh nghiệp
làm cho ngân hàng không giám tiếp tục cho các doanh nghiệp này vay
vốn. Điều này không những trực tiếp tác động tới hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp mà còn gây khó khăn cho ngân hàng trong
hoạt động tín dụng.
23
Thứ ba, các vấn đề về tài sản thế chấp, lãi suất cho vay, về nợ quá
hạn, nợ khó đòi trong ngân hàng đã làm suy giảm mức độ tin cậy lẫn
nhau và quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thơng mại và các doanh nghiệp
nhà nớc.
Măc dù đứng trớc những khó khăn đó, nhng ngành ngân hàng
vẫn xác định tiếp tục tập trung đầu t vốn cho các doanh nghiệp chủ lực
của nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp nhà nớc địa phơng, đặc biệt là
vốn trung dài hạn để các doanh nghiệp này thực hiện tốt mục tiêu kinh tế
đợc nhà nớc giao cho. Đồng thời ngân hàng sẽ nỗ lực khai thác thêm
nguồn vốn từ bên ngoài qua việc thực hiện các dịch vụ bảo lãnh cho các
doanh nghiệp vay vốn để đầu t vào các dự án kinh tế trọng yếu của nhà
nớc hoặc tạo điều kiện cho các ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liên
doanh đầu t vốn chấp nhận bảo lãnh, ngân hàng thơng mại sẽ cùng với
doanh nghiệp xây dựng những dự án kinh tế để bảo đảm việc đầu t có