Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty Đá Quý Việt Nhật
I. THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
ĐÁ QUÝ VIỆT NHẬT
1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm
Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý
điều hành sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời cũng là một công cụ đắc lực của
Nhà nước trong việc quản lý chỉ đạo nền kinh tế quốc dân. Với chức năng quản
lý và giám sát mọi hoạt động kinh tế tài chính, hạch toán kế toán cung cấp
những thông tin hiện thực và toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh
doanh và kết quả hoạt động của từng đơn vị, từng ngành.
Hiện nay, đứng trước sự cạnh tranh đầy khó khăn và gay gắt, một doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải là một doanh nghiệp có hoạt động sản
xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế xã hội, nghĩa là thu phải bù đắp đủ
các chi phí bỏ ra và có lợi nhuận, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ đầy đủ với
Nhà nước. Đây là vấn đề bao trùm, xuyên suốt hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp, nó thể hiện chất lượng của công tác quản lý kinh tế.
Do đó việc hạch toán đầy đủ và chính xác các khoản chi phí đã bỏ ra trong
quá trình sản xuất không những cần thiết mà còn mang tính nguyên tắc theo
quy định của Nhà nước. Các doanh nghiệp phải hạch toán kinh doanh theo đúng
quy định của Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích hạ thấp
giá thành tăng lợi nhuận. Muốn có lãi cao thì một trong những biện pháp hàng
đầu là tối thiểu hoá một cách hợp lý chi phí sản xuất chi ra. Mặt khác, chi phí sản
xuất lại cấu thành lên giá trị sản phẩm. Bởi vậy, việc phấn đấu hạ giá thành sản
phẩm chỉ thực hiện được trên cơ sở tiết kiệm chi phí.
Phần hành kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là
phần hành quan trọng nhất trong doanh nghiệp sản xuất khi thực hiện tự chủ
trong kinh doanh. Vì vậy nâng cao và hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản
xuất, tính giá thành sản phẩm cũng chính là nâng cao và hoàn thiện công tác kế
toán sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong chiến lược sản
điều kiện phân công lao động chuyên môn hoá các phần hành kế toán, nâng cao
nghiệp vụ của cán bộ kế toán.
Về hiện đại hoá công tác kế toán
Đáp ứng yêu cầu quản lý của công tác kế toán các nhà sản xuất đã cho ra
đời rất nhiều các loại phần mềm kế toán, tuy nhiên mỗi phần mềm chỉ có thể đáp
ứng yêu cầu của một số lĩnh vực kinh doanh nhất định. Công ty Đá Quý Việt Nhật
hiện đang sử dụng phần mềm kế toán Fast được thiết kế riêng, đáp ứng được
yêu cầu đặc thù của lĩnh vực kinh doanh nhằm giảm bớt gánh nặng của công tác
kế toán cũng như đáp ứng yêu cầu về cung cấp thông tin kế toán.
Kế toán hàng tồn kho
Hàng tồn kho của công ty được hạch toán theo giá gốc, bao gồm thành
phẩm, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và chi phí kinh doanh dở dang. Hàng tồn
kho được hạnh toán theo phương pháp kê khai thường xuyên và được tính giá
theo phương pháp nhập trước xuất trước. Đối với đá quý, đồ trang sức được
tính theo giá thực tế đích danh.
Lĩnh vực kinh doanh của công ty là chế tác đá quý, đồ trang sức có gắn đá
quý là lĩnh vực kinh doanh có tính đặc thù rất cao, NVL có thể có khối lượng nhỏ,
số lượng ít nhưng lại có giá trị rất lớn. NVL của công ty chủ yếu là vàng, bạc, đá
quý, đá bán quý, ngọc trai, vỏ ốc... có rất sẵn trên thị trường nên công ty chỉ mua
NVL khi có yêu cầu của các phân xưởng sản xuất. Chính vì vậy công ty sử dụng
phương pháp đích danh để tính giá trị NVL xuất.
Kế toán tiền lương
Công ty áp dụng phương pháp tính lương thời gian và lương sản phẩm để
tính lương cho công nhân sản xuất là phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh
của công ty. Lương thời gian được áp dụng để tính lương những ngày nghỉ (lễ,
tết, phép) và tính lương cho những công nhân thử việc. Lương sản phẩm của
công ty được tính cho công nhân trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm thông qua
số lượng sản phẩm hoàn thành và mức độ phức tạp của sản phẩm hoàn thành.
Những sản phẩm có độ phức tạp cao (sản phẩm xuất khẩu) sẽ được trả tiền
công cao và ngược lại những sản phẩm có độ phức tạp thấp (sản phẩm bán
+ Tiền điện thoại di động
+ Tiền điện thoại, Fax
Cũng như chi phí trích trước để tránh việc chi phí một kỳ nào đó khi chi
phí phải trả phát sinh tăng đột ngột ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và việc
xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Công ty Đá Quý Việt Nhật đã tổ chức hạch
toán tốt các khoản chi phí thuộc chi phí phải trả theo quy định trong chế độ kế
toán hiện hành.
1.2.2 Tồn tại chủ yếu
Cung cấp các yếu tố đầu vào
Hiện tại công ty Đá Quý Việt Nhật nhập NVL chủ yếu dựa vào yêu cầu của sản
xuất của công ty chứ không có một kế hoạch cụ thể nào. Nguyên vật liệu chỉ
được mua vào khi phân xưởng có yêu cầu, sau khi mua vào thì phần lớn xuất
ngay cho phân xưởng. Mặc dù NVL của công ty có rất sẵn trên thị trường nên
việc mua vào là dễ dàng, song do giá của NVL liên tục biến động nên việc nhập
NVL của công ty phụ thuộc nhiều vào thị trường đầu vào.
Tổ chức lao động kế toán trong bộ máy kế toán
Mô hình bộ máy kế toán của công ty Đá Quý Việt Nhật là mô hình kế toán tập
trung, bộ máy kế toán gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ kế toán có chuyên môn, hoạt động
khá hiệu quả. Nhưng do lực lượng quá mỏng, kế toán tổng hợp kiêm kế toán
nhiều phần hành, kế toán trưởng nhiều khi phải làm công việc của một kế toán
viên nên quá trình hạch toán kế toán chưa thực sự tuân thủ tính đúng kỳ.
Phương pháp tính lương cho lao động sản xuất, kinh doanh
Kế toán tiền lương tại công ty Đá Quý Việt Nhật thực hiện khá tốt, tuy nhiên
phần tính lương sản phẩm cho công nhân trực tiếp sản xuất còn phụ thuộc rất
nhiều vào đánh giá chủ quan của các chuyên gia đánh giá chất lượng sản phẩm.
Căn cứ xác định tiền công cho mỗi sản phẩm hoàn thành là thời gian chế tác,
mức độ phức tạp của sản phẩm theo đánh giá của chuyên gia. Mức độ phức tạp
của sản phẩm không có tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá, đây là một hạn chế
cần phải khắc phục.
Xác định đối tượng hạch toán chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành
thụ trong nước
=
DDĐK
(SP tiêu thụ
trong nước)
+
PSTK
(SP tiêu thụ
trong nước)
+
DDCK
(SP tiêu thụ
trong nước)
PSTK
(SP tiêu thụ trong
nước)
=
CPNVLTT
(SP tiêu thụ trong nước)
+
CPNCTT
(SP tiêu thụ trong
nước)
Tổng giá thành
sản phẩm XK
=
DDĐK
(SP Xuất khẩu)
+
PSTK
phẩm tiêu thụ trong nước và sản phẩm xuất khẩu. Tuy nhiên kế toán công ty
không tiến hành hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành chi tiết cho hai loại
sản phẩm đó. Chính vì vậy hệ thống tài khoản của công ty cũng không được chi
tiết để theo dõi cho phù hợp.
Tổ chức sổ hạch toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm chưa đầy đủ và
thiếu khoa học
Công ty Đá Quý Việt Nhật sử dụng hệ thống sổ "Nhật ký chung" là phù hợp,
tuy nhiên công ty vẫn chưa khai thác được hết hiệu quả thông tin của hệ thống
sổ đó.
- Mặc dù các nghiệp vụ thu, chi, mua hàng của công ty phát sinh là khá
nhiều nhưng loại sổ "Nhật ký chuyên dùng" để theo dõi chưa được công ty sử
dụng "Nhật ký thu ", "Nhật ký chi", "Nhật ký mua hàng".
- Kế toán của công ty cũng không tiến hành hạch toán chi tiết chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trên hệ thống sổ chi tiết.
- Mẫu sổ "Nhật ký chung" và "Sổ cái" được thiết kế chưa thực sự hợp lý,
cột "Ngày tháng ghi sổ" và cột "Đã ghi sổ cái" chưa được đưa vào.
Việc vi tính hoá công tác kế toán chưa thực hiện đều khắp theo yêu cầu
của tổ chức hạch toán kế toán.
Công tác kế toán của công ty Đá Quý Việt Nhật đã được giảm nhẹ rất nhiều
khi công ty sử dụng phần mềm kế toán, song do chưa được trang bị đồng bộ
giữa hệ thống máy tính và phần mềm kế toán nên hiệu quả sử dụng chưa cao.
Hệ thống máy tính của công ty đã quá cũ, số lượng máy không đáp ứng được
yêu cầu của công tác kế toán cũng như công tác văn phòng, đội ngũ kế toán sử
dụng phần mềm kế toán còn quá mỏng.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CHUNG
2.1 Phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán kế toán nói chung
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của công tác hạch toán kế toán nói
chung và phần hành hạch toán chi phí và giá thành sản phẩm nói riêng đối với
hoạt động quản trị doanh nghiệp đó là giám sát chi phí và cung cấp thông tin chi
phí và giá thành sản phẩm cho cán bộ quản lý. Bộ phận kế toán của mọi doanh
Việc xây dựng phương án hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường phải đáp ứng
yêu cầu
Yêu cầu kiểm tra của nhà nước
Để phục vụ tốt cho việc kiểm tra của Nhà nước đối với các yếu tố, khoản
mục chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua đó xác định đúng đắn kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp, thì việc xác định nội dung kinh tế của các khoản
chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất là điều hết
sức cần thiết và quan trọng. Hơn nữa đối với công tác quản lý chi phí ở từng
doanh nghiệp bao gồm việc lập dự toán chi phí và kiểm tra, đánh giá quá trình
thực hiện dự toán cũng đặt ra yêu cầu phải xác định đúng đắn và cụ thể nội
dung kinh tế của các khoản chi phí.
Yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Trong giác độ quản lý của từng doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là một
chỉ tiêu quan trọng được sử dụng làm căn cứ để bù đắp chi phí sản xuất kinh
doanh và tính toán kết quả kinh doanh. Ngoài ra chỉ tiêu giá thành còn là căn cứ
để đánh giá hiệu quả các biện pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với yêu cầu quản lý doanh
nghiệp giá thành sản phẩm phải thoả mãn yêu cầu:
- Yêu cầu bù đắp chi phí và tính toán kết quả kinh doanh
Giá thành sản phẩm là cắn cứ để bù đắp chi phí và tính toán kết quả kinh
doanh, giá thành sản phẩm phải phản ánh đầy đủ các khoản chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất kinh daonh cho dù đó là loại chi
phí trực tiếp hay gián tiếp, phát sinh trước trong, sau quá trình sản xuất và phát
sinh ở bất kỳ địa điểm nào, phục vụ cho bất kỳ mục đích sản xuất kinh doanh
nào.
- Yêu cầu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
Giá thành sản phẩm là căn cứ để đánh giá hiệu qủa các biện pháp kinh tế -
tổ chức - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh
doanh và phục vụ cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế nội bộ thì giá
- Phương án hạch toán giá thành phục vụ cho yêu cầu kiểm tra của Nhà
nước
Hạch toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước, hạn chế tối đa các
nghĩa vụ phải thực hiện với nhà nước là mục tiêu hạch toán của phương án .
- Phương án hạch toán giá thành phục vụ cho công tác quản lý của doanh
nghiệp
Cung cấp các thông tin chính xác giúp cho nhà quản trị ra quyết định
đúng đắn là mục tiêu của phương án hạch toán. Thông tin kế toán có được từ
phương án hạch toán chỉ được cung cấp nội bộ, không được cung cấp ra bên
ngoài để tránh những thiệt hại.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY ĐÁ QUÝ VIỆT NHẬT
3.1 Giải pháp về quản lý
Quản lý yếu tố chi phí nguyên vật liệu
Chi phí NVL của công ty chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, điều đó đặt
ra yêu cầu quản lý phải chặt chẽ từ khâu mua NVL, đến lúc xuất NVL cho từng
đơn hàng. Trong quá trình chế tác cũng phải có sự giám sát, kiểm tra kịp thời