KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 1 -
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh hiện nay, xu thế hội nhập và tự do hoá thương mại đang diễn
ra mạnh mẽ trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới. Cùng với xu thế đó,
trong những năm gần đây, Việt Nam bằng những thành tựu phát triển kinh tế
trong tiến trình đổi mới cũng đang tích cực hội nhập với nền kinh tế các nước
trong khu vực và trên thế giới. Nghị quyết trung ương 4 (khoá VIII) c
ủa Đảng
cũng đã xác định phương hướng chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, tạo ra
những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực và tăng nhanh giá trị kim ngạch
xuất khẩu trong những năm tới.
Trong bối cảnh đó, “ Định hướng xuất khẩu hàng nông sản chế biến của Việt
Nam đến năm 2010” là một trong những đề tài nghiên cứu hết sứ
c cần thiết,
với mục tiêu: một là, xem xét, đánh giá tổng thể các xu hướng phát triển
chung của thị trường các sản phẩm nông nghiệp chế biến trên thế giới; hai là,
trên cơ sở đó, xây dựng định hướng phát triển sản xuất và xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp Việt Nam hướng đến thị trường hàng nông sản thế giới,
góp phần phát triển nền sả
n xuất nông nghiệp hàng hoá trong nước và tham
gia, hội nhập với nền kinh tế thế giới; ba là, không ngừng nâng cao khả năng
xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam trên thị trường thế giới cả
về số lượng và chất lượng sản phẩm, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp nói riêng và hàng hoá nói chung của Việt Nam. Nội dung
của Khoá luận tốt nghiệp
được kết cấu thành ba phần sau:
Phần thứ nhất nghiên cứu chung về thị trường hàng nông sản chế biến thế
trên thị trường xuất khẩu. Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 3 -
CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG HÀNG NÔNG SẢN CHẾ BIẾN THẾ GIỚI
---o0o---
I. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản chế biến trên Thế giới:Sản lượng của hầu hết các nông sản chế biến trên thế giới đều tăng qua các
năm ở mức trên dưới 1%/năm. Nếu so sánh với mức tăng trưởng bình quân
2,5 trong những năm 90 thì mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này đã
giảm sút đáng kể. Hơn nữa, sự gia tăng sản lượng các sản phẩm nông nghiệp,
nhất là các sản phẩm lương thực, th
ực phẩm chưa theo kịp với tốc độ tăng dân
số.
Trên thế giới, các nước đang phát triển đang đang trở thành những nước sản
xuất chủ yếu các sản phẩm nông nghiệp, và theo đó là ngành công nghiệp chế
biến. Các nước phát triển vẫn là những nước chiếm tỷ trọng cao về sản lượng
các sản phẩm thuộc nhóm hàng thịt, các sản phẩm thị
t và nhóm hàng sữa, các
sản phẩm sữa; các nước đang phát triển lại thường chiếm tỷ trọng cao trong
sản lượng về các sản phẩm từ trồng trọt, đặc biệt là nhóm sản phẩm nông
nghiệp qua sơ chế hoặc chế biến.
Trong giai đoạn 1999 - 2000, khối lượng tiêu dùng chung các sản phẩm nông
á - 19%, Bắc Mỹ - 19%, Mỹ La tinh - 12%, Châu Phi - 3,3%, Trung Đông âu
và SNG - 4,3%.
Các nước xuất khẩu nông sản chế biến lớn nhất là Mỹ - chiếm 12,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu thế giới năm 2000, Pháp - 6,5%, Ca-na-đa - 6,2%, Hà
Lan - 6,1%, Đức - 5%. 15 nước xuất khẩu lớn nhất chiếm 64% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Mỹ cũng là n
ước nhập khẩu nông sản chế biến lớn nhất
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 5 -
(11% kim ngạch xuất khẩu của thế giới). Tiếp theo là Nhật Bản - 10,3%, Đức
- 6,9%.
1) Thực trạng xuất khẩu theo nhóm nước và khu vực:Trong những năm 90, khi xem xét mối quan hệ giữa giá trị xuất khẩu và nhập
khẩu nông sản chế biến của hai nhóm nước phát triển và đang phát triển cho
thấy: hệ số giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của các nước đang phát triển
luôn lớn hơn 1, nhưng đang có xu hướng giảm dần đến 1; các nước phát triển
có hệ số nhỏ hơn 1, nhưng có xu hướng ti
ến dần đến 1. Xu hướng này diễn ra
ở các sản phẩm chế biến mạnh hơn ở hàng nông sản nói chung.
So với các nước đang phát triển thì các nước phát triển thường lớn hơn 2,8 lần
trong giá trị xuất khẩu và lớn hơn 3 lần trong giá trị nhập khẩu nông sản chế
biến.
Xu hướng chung của các nước đang phát triển là giá trị nhập khẩu tăng nhanh
XUẤT KHẨU
414190 576710 562270 545640 558280 12,2 9,0
Achentina 7482 11349 13942 11968 - 60,6 51,3
ôxtrâylia 11628 14717 14516 15292 16366 29,3 25,6
Bănglađét 329 446 452 - - 19,7 8,9
Bỉ - - - 20165 19862 - 10,7
Bỉ/Luychxămbu
a
13064 19407 20533 - - 11,1 11,5
Beliz 99 131 129 1143 - 91,7 86,1
Braxin 9779 15673 17065 15980 15467 31,1 28,1
Camerun 723 839 900 - - 36,1 53,9
Canađa 22339 32214 31222 32599 34789 17,5 12,6
Chi Lê 2779 5922 5595 5917 6399 33,2 35,2
Trung Quốc 10060 14997 14314 14209 16384 16,2 6,6
Côlômbia 2514 3695 4004 3341 3121 37,2 23,9
Côtxta Rica 927 1848 2365 1950 1812 64,0 30,9
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 7 -
Cốtđivoa 2374 2793 3224 3178 2646 77,3 65,7
Đan Mạch 10648 13108 12115 11460 10940 28,9 22,0
Ecuađo 1236 2389 2854 - 1948 45,5 40,2
Ai Cập 497 552 580 591 - 19,2 16,6
Xanvađo 237 574 595 497 577 40,8 19,7
Pháp 37101 44265 41069 39341 36518 17,1 12,2
Đức 24621 32296 31674 30249 27762 5,8 5,0
Hy Lạp 2584 3719 3299 3194 2507 31,9 24,5
Goatêmala 849 1342 1660 1517 1622 73,0 61,2
Hônđurát 474 592 790 504 - 57,0 40,4
triển mạnh trong giai đoạn trên.
2) Thực trạng xuất - nhập khẩu theo nhóm hàng:Trong nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới: cà phê có giá trị xuất khẩu tăng
nhanh, các loại quả có múi và chè khá ổn định trên thị trường thế giới, trong
khi các sản phẩm khác bị suy giảm mạnh.
Trong nhóm hàng ngũ cốc: lúa mì có vị trí quan trọng nhất và ổn định trên thị
trường xuất khẩu ngũ cốc - chiếm gần 50% giá trị xuất (nhập) khẩu chung của
nhóm; tiếp đến là gạo có tỷ trọng thấ
p hơn.
Trong nhóm hàng sữa và các sản phẩm sữa: mặt hàng bơ có sự suy giảm rõ
rệt về tỷ trọng trong xuất (nhập) khẩu chung, trong khi các sản phẩm khác có
xu hướng tăng nhẹ do sự gia tăng của khối lượng xuất khẩu.
Trong nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm: các sản phẩm dầu và mỡ có sự
gia tăng rõ rệt về tỷ trọng trong giá trị xuất nhập khẩu chung củ
a nhóm hàng
do sự gia tăng của khối lượng xuất khẩu; tuy nhiên, các loại khô dầu có sự gia
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 9 -
tăng về khối lượng xuất (nhập) khẩu, nhưng tỷ trọng giá trị lại giảm rõ rệt
trong giá trị xuất (nhập) khẩu chung của nhóm hàng.
Trong nhóm hàng thịt: sự lên ngôi của thịt gia cầm và thịt lợn trong cơ cấu giá
trị xuất (nhập) khẩu chung của nhóm hàng, trong đó thịt lợn chiếm vị trí số 1
công nghiệp và thị trường nông sản chế biến của mình. Việt Nam cần phải
thấy rõ đâu là những thuận lợi và đâu là những khó khăn của mình khi tham
gia vào lĩnh vực mà ta còn những mặt hạn chế nhất định về công nghệ này.
4) Tình hình giá cả xuất khẩu các nông sản chế biến:Chỉ số giá xuất khẩu thực ở tất cả các nhóm nông sản chế biến ở cả hai nhóm
nước phát triển và đang phát triển đều bị giảm trong suốt giai đoạn những
năm 90.
Quá trình suy giảm của chỉ số giá xuất khẩu theo nhóm nước có sự lệch pha
nhau. Các nước đang phát triển có chỉ số giá xuất khẩu bắt đầu suy giảm vào
đầu những nă
m 90 và rơi xuống điểm võng nhất vào các năm 92 - 93, sau đó
đã lấy lại độ cao vào các năm tiếp theo. Đồng thời, các nước phát triển lại đạt
chỉ số giá xuất khẩu thực cao vào đầu những năm 90, sau đó suy giảm và
xuống đến điểm võng nhất vào các năm 95 - 96, trong các năm tiếp theo đã
dần lấy lại được sự tăng trưởng.
Nhìn chung, tất cả các sả
n phẩm nông nghiệp đều có biên độ biến động của
chỉ số giá xuất khẩu khá lớn. Khoảng dao động trong cả chu kỳ thường từ
40% đến 50% và khoảng dao động của chỉ số giá xuất khẩu trong một vài
năm cũng ở mức 10 - 16%.
BẢNG 2: GIÁ MỘT SỐ MẶT HÀNG TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
Mặt hàng Thị trường Đơn vị tính 1999 2000 2001 2002 Ước
2003
Giá giảm do các nước đẩy mạnh phát triển công nghệ chế biến và nhu cầu tiêu
thụ nông sản chế biến của ng
ười dân đối với một số sản phẩm giảm.
Cụ thể, đối với mặt hàng gạo 100%, trong suốt năm 2002, giá gạo của các
nước xuất khẩu lớn đã diễn biến theo 2 xu hướng rõ rệt: tăng vững trong 6
tháng đầu năm và giảm trong 6 tháng cuối năm. Đối với mặt hàng cà phê,
năm 2002, giá cà phê trên các thị trường thế giới đã diễn biến theo hai xu
hướng rõ rệt: giả
m trong 8 tháng đầu năm và tăng mạnh trong 4 tháng cuối
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 12 -
năm. Trong năm 2002, giá đường diễn biến: giảm trong 8 tháng đầu năm và
sau đó tăng vững.
III. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mậu dịch hàng nông sản chế
biến thế giới:
1) Tác động của chính sách Chính phủ:Vấn đề bảo hộ và trợ cấp đối với nông nghiệp và nông sản chế biến của các
nước, nhất là của các nước phát triển là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất và sâu
sắc nhất đến thị trường hàng nông sản thế giới.
Đối với các nước phát triển: Đây là những nước có mức độ trợ cấp lớn nhất và
phổ biến nh
ất. Tình hình trợ cấp nông nghiệp của các nước phát triển trong
suốt giai đoạn chỉ giảm về tỷ lệ so với GDP, hoặc so với sản lượng, nhưng về
sự phát triển công nghiệp chế biến sau đó mới là sự mở cửa thị trường của các
nước đối với các sản phẩm nông nghiệp.
3) Tác động của khủng hoảng tài chính - tiền tệ:Tác động của khủng hoảng tài chính đối với thị trường hàng nông sản chế
biến mang tính toàn cầu: một là, làm giảm nhu cầu nhập khẩu giữa các quốc
gia có đồng tiền bị sụt giá; hai là, làm tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu
giữa các quốc gia này; ba là, làm giảm nhu cầu về các nông sản chế biến do
thu nhập giảm ở các nước chịu tác động của khủng hoảng.
Nhìn chung,
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến thị trường hàng nông
sản chế biến thế giới không lớn đối với hầu hết các mặt hàng. Tuy nhiên, mức
độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào các vấn đề: một là, tỷ giá hối đoái sẽ thay
đổi ra sao và thời gian phục hồi dài hay ngắn; hai là, các chính sách của chính
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 14 -
phủ sẽ áp dụng ra sao để đối phó với khủng hoảng, nhất là các chính sách về
xuất, nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp; ba là khả năng giải quyết vấn đề
thiếu hụt tín dụng cho nhu cầu nhập khẩu. Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 15 -
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 16 -
nhìn tổng thể, nông nghiệp Việt Nam vẫn trong giai đoạn nỗ lực vươn lên
thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu, tự cấp, tự túc để trở thành một nền
nông nghiệp hàng hoá thực sự trong điều kiện có cả những thuận lợi và khó
khăn.
2) Thực trạng công nghiệp chế biến nông sản:Công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta đang ở trong tình
trạng: tỷ lệ thiết bị cũ, hỏng, lạc hậu khá lớn; danh mục sản phẩm được chế
biến quá ít và đơn điệu: tỷ lệ sản lượng các sản phẩm qua chế biến quá thấp;
chất lượng sản phẩm chế biến chưa hoàn toàn đáp ứng đượ
c nhu cầu tiêu
dùng trong và ngoài nước; tỷ lệ hao hụt nguyên liệu cao; ... Khi nhận định về
sự yếu kém của công nghiệp chế biến ở các quốc gia, UNDP cho rằng: sự
kém phát triển của ngành công nghiệp chế biến có hàng loạt lý do: hệ thống
vận tải yếu kém đã cản trở vận chuyển đường dài các nguyên liệu và thành
phẩm; các xí nghiệp chế biến xa nơi cung cấp nguyên liệu; công nghệ lạc hậu
và th
ấp kém gây ra tổn thất lớn trong chế biến và làm giảm chất lượng sản
phẩm; thiếu vệ sinh và vật liệu bao bì không tốt cũng làm giảm chất lượng sản
phẩm. Trình độ quản lý kém: thiếu thốn nghiêm trọng về vốn và thông tin thị
trường cũng như kỹ thuật đã hạn chế tốc độ phát triển. Cuối cùng, thu nhập
thấp của người tiêu dùng trong nước cũng hạ
n chế tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp chế biến. Đó là nhận định bao quát và đúng với tình hình phát triển
của công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta.
Nguồn: Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, Bộ NN & PTNTVề mặt giá trị:
Theo số liệu thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp chế biến
nông sản và thực phẩm tăng 2,18 lần từ 53,2 nghìn tấn năm 1995 lên 116,3
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 18 -
nghìn tấn năm 1999, chiếm gần 60% giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế
biến nói chung và 47,3% giá trị sản xuất toàn bộ ngành công nghiệp cả nước.
Sản phẩm công nghiệp chế biến nông sản tăng:
Nhìn chung sản phẩm công
nghiệp chế biến nông sản có xu hướng tăng nhanh, tỷ trọng nông sản qua chế
biến ngày càng cao, đặc biệt ở một số ngành có bước phát triển nhanh như chế
biến đường, chế biến dầu thực vật, chế biến chè, chế biến điều,...
Kim ngạch xuất khẩu tăng và thị trường được mở rộng:
Nhiều năm lại đây,
công nghiệp chế biến góp phần quyết định nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu
nông sản; năm 1990, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 1,149 triệu USD
chiếm 47,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 1995 là 2,521 triệu USD
chiếm 46,3%; năm 2000 là 4,308 triệu USD chiếm 30,1% và năm 2001 là kim
ngạch xuất khẩu nông sản đạt 500 triệu USD chiếm 29,9% kim ngạch xuất
khẩu c
ả nước.
Công nghệ, thiết bị từng bước được đổi mới:
trong những năm đổi mới đã có
làm giàu cho nhiều vùng nông thôn trong cả nước.
2.2. Hạn chế:Cơ sở sản xuất ngành công nghiệp chế biến nông sản của ta một phần được
hình thành và phát triển một cách tự phát, nhằm đáp ứng theo yêu cầu nhất
thời của thị trường, theo truyền thống, theo lợi thế tự nhiên. Vùng sản xuất
nguyên liệu phát triển chủ yếu dựa vào lợi thế tự nhiên theo hình thức thu
gom sơ chế để xuất khẩu dạng nguyên liệu thô v
ới khối lượng nhỏ, chất lượng
không đồng đều, không ổn định. Cách làm này không phù hợp với sản xuất
hàng hoá quy mô công nghiệp để chiếm lĩnh thị trường ổn định. Những hạn
chế chính là:
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 20 -
Quy hoạch chưa đồng bộ, quản lý quy hoạch lỏng lẻo: Chất lượng quy hoạch
chung, quy hoạch cụ thể rất thấp, nhiều khi còn mâu thuẫn, chồng chéo.
Phát triển nhà máy chế biến không gắn với quy hoạch xây dựng vùng nguyên
liệu còn mang tính tự phát theo hình thức thu gom tự nhiên, nhiều nhà máy
đặt không đúng chỗ.
Phát triển chưa đồng bộ giữa nhà máy và các điều kiện hạ tầng (đường giao
thông, hệ thống cung ứng điện nước, kho tàng, phương tiện vận chuyể
n và các
dịch vụ hỗ trợ khác, ...) phục vụ sản xuất nguyên liệu và chế biến.
ôi ngốt, khê khét và nhiều khách hàng còn nghi ngại về sự an toàn thực phẩm
chè Việt Nam do chè của ta chưa sạch, dư lượng thuốc trừ sâu vượt quá mức
cho phép và tạp chất còn nhiều.
Giá thành cao, hiệu quả kinh tế thấp:
Nhiều cơ sở chế biến nông sản của Việt
Nam đang nằm trong tình trạng thua lỗ, có nhiều doanh nghiệp thua lỗ nặng,
điển hình như các doanh nghiệp trong ngành mía đường.
Cơ cấu công nghiệp chế biến không cân đối, mẫu mã, chủng loại sản phẩm
đơn điệu: Phần lớn công nghiệp chế biến nông sản mới dừng ở chế biến dạng
thô, chế biến tinh còn ít. Như sản phẩm chè chủ yếu là sao, sấy, các loại chè
uống liền còn ít; cà phê cũng chỉ ở mức phân loại, rang sấy để xuất khẩu
nguyên liệu, còn cà phê hoà tan chưa nhiều.
Các mặt hàng chế biến đơn điệu cả về mẫu mã, chủng loại, chủ yế
u ở cấp
thấp, hàng cao cấp hầu như không có.
Đội ngũ lao động và quản lý không đáp ứng kịp:
Trong mỗi ngành có sự căng
thẳng về nguồn nhân lực khác nhau, song chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý
và công nhân kỹ thuật bậc cao thì gần như ngành nào cũng thiếu.
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 22 -
Môi trường chính sách vĩ mô không bình đẳng: Các chính sách vĩ mô đối với
công nghiệp chế biến chưa thật sự thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, vì còn duy
trì các chế độ ưu đãi về tài chính đối với một số doanh nghiệp nhà nước chế
ở khu vực Châu á. Nói cách khác, nhóm các nước này ngày càng chiếm tỷ
trọng cao trong giá trị thương mại quốc tế về các sản phẩm nông nghiệp chế
biến, nhất là giá trị nhập khẩu.
Xu hướng chuyển dịch này của thị trường hàng nông sản thế giới sẽ tác động
đến các sản phẩm nông sản chế biến Việt Nam, theo cả hai khả năng tích cực
và tiêu cực: Một là, Việt Nam sẽ n
ằm trong khu vực sôi động của thị trường
hàng nông sản chế biến thế giới, do đó, có điều kiện tiếp cận thị trường và
tăng cường buôn bán các sản phẩm nông nghiệp chế biến với các nước khác.
Hai là, thị trường các nước đang phát triển không phải là những thị trường
“khó tính” và mức độ bảo hộ thấp sẽ mang lại những cơ hội tiếp c
ận thị
trường tốt hơn cho nông sản chế biến Việt Nam. Ba là, đồng thời với quá trình
phát triển thị trường các sản phẩm nông nghiệp chế biến sẽ lôi kéo, hình thành
và phát triển thị trường công nghệ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả chế biến các sản phẩm nông nghiệp của các nước đang phát
triển và ở khu vực Châu á. Điều này sẽ t
ạo điều kiện cho Việt Nam tham gia
thị trường công nghệ phục vụ ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm nông
nghiệp, đặc biệt trong môi trường có nhiều điểm tương đồng giữa các nước
trong khu vực. Theo hướng tiêu cực: Một là, thị trường các nước đang phát
triển là thị trường có thu nhập thấp, có thể làm giảm lợi ích xuất khẩu các
nông sản chế biến c
ủa Việt Nam. Hai là, các lợi thế tương đối của sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam sẽ bị hạn chế do tính chất tương đồng của các sản
phẩm trong cùng một khu vực tự nhiên (ví dụ như lợi thế về các sản phẩm
nhiệt đới so với các nước Châu âu), mức chênh về giá lao động,... Ba là, đồng
thời với khả năng tăng xuất khẩ
u là sức ép về tăng nhập khẩu nông sản chế
c tế. Mặc dù hiện nay, Việt Nam chưa phải là thành viên
của Tổ chức thương mại thế giới WTO, nhưng trong tương lai, bằng vào nỗ
lực trong tiến trình hội nhập, Việt Nam sẽ trở thành thành viên của tổ chức
WTO. Đồng thời, bên cạnh những thuận lợi có thể được mở ra, các sản phẩm
nông nghiệp chế biến của Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt v
ới các nông sản
chế biến của các nước thành viên trong tổ chức WTO cả ở thị trường trong
Suu tap boi: www.Camerahanoi.com Vao muc Download de tim Luan van + Do an mien phi
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH - A1 CN9 - ĐH NGOẠI THƯƠNG
- 25 -
nước và thị trường ngoài nước. Những khó khăn về cạnh tranh thị trường xuất
khẩu nông sản chế biến của Việt Nam sẽ lớn hơn.
Năm là, sự dao động về giá cả nông sản chế biến trên thị trường thế giới luôn
ở mức độ cao và xảy ra thường xuyên. Trong đó, các sản phẩm trồng trọt có
biên độ dao động cao hơn các sản phẩm chă
n nuôi và các sản phẩm nông
nghiệp thô, ít qua chế biến có biên độ dao động giá lớn hơn các sản phẩm có
độ chế biến sâu.
Trong hoàn cảnh đó, nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nặng về các sản phẩm
trồng trọt, xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm thô, ít qua chế biến, như vậy, sự
tác động của tính chất giá cả các sản phẩm nông nghiệp chế biến trên thị
trường th
ế giới và các xu hướng thứ sinh đối với sản xuất và xuất khẩu các
sản phẩm nông nghiệp chế biến Việt Nam có phần không thuận lợi. Trước
hết, đó là sự mất an ninh lương thực, ngay cả khi Việt Nam là nước xuất khẩu
lương thực đứng hàng thứ 2 trên thế giới, bởi vì sẽ có một bộ phận dân chúng
thu nhập thấp không thể đủ tiền mua lương thự
c với giá cao. Hai là, sự phân