DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG - Pdf 64

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.
I. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM:
Để đáp ứng tốt có hiệu quả nhóm khách hàng mục tiêu một doanh
nghiệp cần phải có những hiểu biết nhất định về nhóm khách hàng cuả mình.
Trước thực tế đó, các Ngân hàng cần phải có những hiểu biết về đặc điểm của
các DNNN , có như vậy Ngân hàng mới có thể có những biện pháp đúng đắn
thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả TDNH đối với các DNNN. Đây cũng là nội
dung, nhiệm vụ chính cuả phần này.
1. Khái niệm DNNN:
Thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định 388/HĐBT
ngày 2/11/1991,ban hành về quy chế thành lập và giải thể DNNN .Điều 1 trong
NĐ này đã định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập,
đầu tư vốn và quản lý”.
Định nghĩa trên chưa phản ánh hết những nội dung thuộc về bản chất
của một doanh nghiệp như tư cách pháp nhân, quyền và nghĩa vụ dân sự khi
tham gia vào các quan hệ pháp lý, khả năng tự chủ về vốn và các hoạt động
khác.
Chính vì vậy, hiện nay khái niện DNNN đã được nêu trong Điều1 luật
DNNN ban hành 20/9/1995 như sau: “DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý,hoạt động kinh doanh hay hoạt
động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước
giao”.Trong luật đã chỉ ra :’’DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ
dân sự tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số
vốn do doanh nghiệp quản lý”.
Trong Điều 3 quy định về vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp là:
“Vốn ngân sách cấp , vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh ngiệp tự
tích luỹ”.
DNNN là doanh ngiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu và hoạt động theo
luật DNNN . Nội dung chủ sở hữu được thể hiện ở các mặt sau:
1* có quyền quyết định thành lập , chia tách , sát nhập và giải thể doanh
nghiệp.

- DNNN thành viên: là doanh nghiệp lằm trong cơ cấu tổ chức của
doanh nghiệp khác lớn hơn.
- Tổng công ty Nhà nước: là DNNN có quy mô lớn, được thành lập và
hoạt động trên cơ sở liên kết nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó
với nhau về lợi ích kinh tế , công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ , thông tin,
đào tạo , nghiên cứu , tiếp thị, hoạt động trong một số chuyên nghành kinh tế
- kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành
viên và thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong
từng thời kỳ.
4* Nếu dựa vào hình thức quản lý nội bộ doanh nghiệp thì DNNN được chia
làm 2 loại:
- DNNN có Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) thì HĐQT thực hiện chức
năng quản lý hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm về sự phát triển
của doanh nghiệp.
- DNNN không có HĐQT thì Giám đốc là người đại diện pháp nhân
của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của
doanh nghiệp.
Việc phân chia theo các tiêu thức khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng
đối với công tác tín dụng của Ngân hàng vì đối với mỗi loại hình doanh nghiệp
khác nhau thì Ngân hàng sẽ có những yêu cầu khác nhau về hồ sơ pháp lý cũng
như hồ sơ kinh tế, hồ sơ tài chính khi xét duyệt cho vay. Từ đó Ngân hàng có
những cách thức cho vay, lãi suất, cũng như thời hạn cho vay thích hợp để đảm
bảo hiệu quả tín dụng về phía Ngân hàng cũng như về phía doanh nghiệp.
3. Đặc điểm của DNNN:
Từ khái niệm DNNN nêu trên ta thấy , DNNN có một số đặc điểm cơ bản
sau:
5* DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu và hoạt động theo
luật DNNN. Đúng vậy, Nhà nước có quyền quyết định việc thành lập, chia
tách, sát nhập và giải thể doanh nghiệp nếu cần. Nhà nước có quyền xác
định phương hướng phát triển của doanh nghiệp , có quyền phân bổ vốn

tin liên lạc...),xã hội (giáo dục, y tế...),quốc phòng, an ninh.
4. Vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Việt
Nam:
DNNN là một đơn vị kinh doanh thuộc thành phần kinh tế nhà nước.
Kinh tế nhà nước không phải là thành phần riêng có của CNXH mà nó có ở
hầu hết các nước trên thế giới hiện nay và tỷ trọng của chúng khác nhau tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.
Kinh tế nhà nước và DNNN là những phạm trù kinh tế cùng bản chất tuy
khác nhau về cấp độ , do đó vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và DNNN có
những nội dung cơ bản nhau, nhưng cũng có nhiều vấn đề khác nhau.
Nói đến vai trò đòn bẩy, hướng dẫn , tạo động lực...là nói đến vai trò của
hệ thống kinh tế nhà nước. Còn DNNN chỉ là phương tiện, công cụ, làm lực
lượng đi đầu mở đường cho sự phát triển nền kinh tế.
ở nước ta, sự hình thành thành phần kinh tế này là do chính sách quốc hữu
hoá và được ưu tiên phát triển trong 40 năm qua ở Miền Bắc và 20 năm
trong cả nước. Trong những năm qua, đến nay, DNNN đã có mặt ở hầu hết
các nghành, các lĩnh vực của nền kinh tế và giữ vai trò quan trọng nhất là
trong nền kinh tế trường có sự qủan lý của Nhà nước theo định hướng CNXH.
Vai trò của DNNN thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
10* DNNN có vai trò thúc đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,
mở đường hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển có hiệu
quả, thúc đây nhanh sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền
kinh tế. Đúng vậy, hiện nay trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần,DNNN
là thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng chủ yếu nắm giữ các nghành then
chốt và những nghành độc quyền. Đặc biệt trong công cuộc CNH, HĐH
đất nước thì nó càng có quan trọng, thể hiện: DNNN có mạng lưới hoạt
động rộng lớn và có quy mô lớn lại được trang thiết bị hiện đại, cơ hội
ứng dụng khoa học kỹ thuật và là nơi thử nghiệm để sản xuất những sản
phẩm mới chất lượng cao , cung cấp cho thị trường một khối lượng lớn
hàng hoá ra thị trường,... rõ ràng đã đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất

các doanh nghiệp khác noi theo.
13* DNNN có nhiệm vụ cung ứng những hàng hoá dịch vụ công cộng.
Thực tế cho ta thấy , nền kinh tế không thể phát triển nếu thiếu sự hiện
diện của một số nghành đóng vai trò như những yếu tố đảm bảo hay tác
nhân kích thích nghành kinh tế khác, đó là các nghành trong lĩnh vực kết
cấu hạ tầng,xã hội, quốc phòng ,an ninh,...
Từ những phân tích ở trên ta thấy DNNN đóng và trò quan trọng trong
sự nghiệp xây dụng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
II. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNN:
1. Tín dụng ngân hàng (TDNH):
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó
cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện
vật cho một các nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định như:
thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi,...Tín dụng ngân
hàng là một hình thức tín dụng phản ánh giữa các ngân hàng và các doanh
nghiệp cá nhân khác. Hình thức này thể hiện rõ tính ưu việt so với các hình
thức khác trong lịch sử ở chỗ nó có quy mô tín dụng lớn hơn vì nó có nguồn
vốn cho vay là nguồn vốn mà ngân hàng có thể tập trung và huy động được
trong nền kinh tế. Mặt khác, đây là hình thức rất linh hoạt vì đối tượng vay
mượn là tiền tệ.Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền
kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế một cách linh
hoạt, kịp thời, nó không chỉ đáp ứng về vốn ngắn hạn mà còn là nguồn vốn
đầu tư cho dài hạn của các doanh nghiệp. ngoài ra TDNH còn phục vụ cho
nhu cầu cá nhân.
2. Các hình thức Tín dụng ngân hàng:
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia TDNH. Dưới đây là một số
cách chia phổ biến mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:
14* Nếu phân theo thời hạn tín dụng ta có:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng
để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó còn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status