LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN - Pdf 64

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI ĐỐI
VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1 Hoạt động của bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Mục đích của bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi được định nghĩa như là một cơ chế có giới hạn nhưng
chính thức cung cấp sự đảm bảo mang tính pháp lý cho các khoản tiền
gửi( thường cả gốc và lãi) của người gửi tiền.
Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới ra đời và hoạt động nhằm mục đích:
- Bảo vệ người gửi tiền nhỏ bằng cách cung cấp một cơ chế thanh toán ngay
lập tức phần tiền gửi được bảo hiểm trong trường hợp tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi không có khả năng thanh toán;
- Tăng cường ổn định hệ thống tài chính bằng cách tạo điều kiện thiết lập hệ
thống khuyến khích mang tính cạnh tranh để xử lý đổ vỡ của từng ngân hàng
và ngăn chặn sự lây lan;
- Tăng cường sự ổn định của những tổ chức kinh doanh tiền tệ mới và nhỏ
để cạnh tranh với những tổ chức tín dụng lớn và hoạt động lâu năm;
- Xác định rủi ro của Chính phủ khi một hoặc một nhóm ngân hàng sụp đổ
trong các thời kỳ ổn định;
Ở phần lớn các nước trên thế giới bao gồm cả thành viên trong EU đều nhấn
mạnh việc bảo vệ người gửi tiền nhỏ là một mục tiêu chính của bảo hiểm tiền
gửi. Quan điểm này dựa trên cơ sở cho rằng những người gửi tiền nhỏ có số
lượng lớn, thường thiếu thông tin nên khi nghi ngờ về khả năng thanh toán
của một ngân hàng, họ sẽ rút tiền hàng loạt từ đó làm mất ổn định chung của
tiền gửi và hệ thống ngân hàng, gây sự đổ vỡ của một hoặc của một nhóm
thậm chí của cả hệ thống ngân hàng.
1.1.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi là các tổ chức tài chính có thực hiện
hoạt động nhận tiền gửi cá nhân, đó là:
+ Các tổ chức tín dụng( các ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng…)
+ Các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số
hoạt động ngân hàng( công ty tài chính)

BHTG phải do một tổ chức chính trị đứng ra thành lập, có thể là chính phủ
hoặc ngân hàng Trung ương. Vốn ban đầu của tổ chức này được nhà nước cấp
hoặc do Bộ tài chính, Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tài chính được bảo
hiểm đóng góp hoặc vay từ kho bạc và từ Ngân hàng trung ương.
a. Giám sát tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Ở các quốc gia nhìn chung đều quy định trách nhiệm của tổ chức tham gia
BHTG trong việc giám sát tổ chức tham gia BHTG nhằm hạn chế rủi ro. Công
tác giám sát các tổ chức này chủ yếu được thực hiện dưới hai dạng : giám sát
từ xa và kiểm tra trực tiếp.
Kiểm tra trực tiếp gồm kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất. Hầu hết thì
kiểm tra định kỳ đều được thực hiện theo kế hoạch và các vấn đề cần kiểm tra
sẽ được điều chỉnh theo xu hướng tài chính. Kiểm tra đột xuất được thực hiện
trên cơ sở nhu cầu đặc biệt phát sinh hoặc khi có chỉ thị cụ thể của cơ quan cấp
trên. Ngoài ra, khi các tổ chức tài chính xin tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức
bảo hiểm tiền gửi có thể thực hiện việc kiểm tra ban đầu để đảm bảo rằng các
tổ chức tài chính đó đủ tiêu chuẩn. Hoạt động kiểm tra của tổ chức bảo hiểm
tiền gửi không chỉ dựa trên quan điểm “cung cấp hỗ trợ chứ không phải đơn
thuần là kiểm tra” và tuân thủ chính sách chia sẻ trách nhiệm giám sát với các
cơ quan chức năng khác, mà còn quan tâm đến việc hỗ trợ các tổ chức tài
chính bằng hoạt động kiểm tra này với mong muốn các tổ chức này sẽ hoạt
động hiệu quả hơn.
Khi kiểm tra một tổ chức tài chính, tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn phải đưa ra
các quyết định tuỳ thuộc vào mức độ sai phạm của tổ chức này. Tuỳ theo quy
định của mỗi quốc gia và mức độ sai phạm mà đưa ra quyết định, có thể yêu
cầu cán bộ của tổ chức được bảo hiểm điều chỉnh ngay trong thời gian đoàn
tiến hành kiểm tra hoặc nếu sai phạm lớn thì có thể khuyến nghị với các cơ
quan có thẩm quyền;
Hoạt động giám sát từ xa được thực hiện đối với các tổ chức tham gia được
bảo hiểm để đánh giá một cách hiệu qủa tính an toàn và tính lành mạnh trong
hoạt động của các tổ chức này. Hầu hết các nước thực hiện giám sát từ xa đều

hệ thống này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và trở thành một bộ phận không
thể thiếu được đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng.
1.2 Một vài nét cơ bản về phương pháp giám sát từ xa
1.2.1 Khái niệm
Giám sát từ xa là phương thức mà trong đó người giám sát sử dụng thông
tin trên các báo cáo, nhằm phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ
chức tín dụng để đề ra các biện pháp xử lý khi cần thiết;
Như vậy công tác giám sát từ xa còn được hiểu là phương pháp mà cán bộ
giám sát ngồi tại trụ sở của cơ quan tiếp nhận các thông tin báo cáo để phân
tích đánh giá tình hình đơn vị được giám sát một cách thường xuyên và có hệ
thống.
1.2.2 Phương pháp phân tích làm cơ sở cho việc giám sát
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, công tác giám sát vừa phải sử dụng
phương pháp nghiên cứu của một số môn khoa học khác vừa sử dụng phương
pháp nghiên cứu có tính đặc thù riêng. Trong quá trình phân tích giám sát tuỳ
thuộc vào bản chất của các sự việc, tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể cũng
như nguồn tài liệu phân tích đánh giá mà áp dụng các phương pháp cho phù
hợp:
a. Phương pháp so sánh
Bằng phương pháp so sánh có thể biết được kết quả hoạt động kinh doanh
của một TCTD, qua đó có thể đánh giá được mức độ thực hiện mục tiêu mà các
TCTD đã đề ra, đánh giá được tốc độ, xu hướng phát triển của hoạt động kinh
doanh giữa các kỳ với các kỳ trước đó, cũng như mức độ tiến bộ hay lạc hậu
của từng chỉ tiêu cụ thể so với hoạt động chung của tổ chức tín dụng đó hay
cao hơn nữa còn phải so sánh với hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng;
Để tiến hành so sánh, phải đảm bảo hai điều kiện sau:
+ Phải có ít nhất hai chỉ tiêu hoặc hai đại lượng dùng để so sánh ;
+ Các chỉ tiêu đưa ra phải đồng nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương
pháp tính toán, cùng đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một khoảng
thời gian;

kinh tế người thanh tra có thể nhận thức được bản chất, mối quan hệ cấu
thành và quan hệ nhân- quả cũng như quy luật tạo thành và phát triển của các
hiện tượng kinh tế, trên cở sở đó nhà phân tích có thể xác định được đâu là yếu
tố trọng điểm cần phải quan tâm trong công tác giám sát của mình, quyết định
những hành động nhanh chóng và hiệu quả;
Để đạt được các yêu cầu cơ bản trên, người phân tích có thể chia các chỉ tiêu
kinh tế theo thời gian, theo không gian( địa điểm phát sinh) và theo yếu tố cấu
thành.
Phân chia theo thời gian sẽ giúp người phân tích biết được mức độ phát
triển cũng như mức độ thực hiện các chỉ tiêu đã được đặt ra theo năm, quý,
tháng …
Phân chia theo không gian sẽ xác định được nguồn gốc hình thành của
chúng từ đó để có hành động cụ thể.
d. Phương pháp Dupont
Là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các
chỉ tiêu. Phương pháp này giúp phân tích một tỷ lệ sơ cấp thành các tỷ lệ thứ
cấp, sau đó tỷ lệ thứ cấp mới tìm lại được trở thành tỷ lệ sơ cấp cho sự phân
tích tiếp theo. Xét theo quan điểm triết học thì quan hệ giữa các tỷ lệ là mối
quan hệ nhân- quả và được biểu hiện qua một chuỗi liên tiếp các tỷ lệ. Và bất
kỳ một sự thay đổi nào của tỷ lệ sau sẽ kéo theo sự thay đổi của cả một hiện
tượng kinh tế.
1.2.3 Nội dung giám sát từ xa
a. Nội dung cơ bản của phương thức giám sát từ xa:
Để thực hiện giám sát từ xa, có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá hoạt động của
các tổ chức tín dụng nhưng theo các nhà quản trị ngân hàng trên thế giới thì
các chỉ tiêu đó đều xoay quanh năm nội dung cơ bản sau:
 Vốn của ngân hàng- “Capital;
 Chất lượng tài sản có-“ Asset quality”;
 Khả năng quản lý- “Management ability”;
 Khả năng sinh lời-“Earning”;

làm hai dạng, dạng tài sản có không có hệ số rủi ro tín dụng gồm: tiền mặt, tiền
gửi tại Ngân hàng Trung ương, Trái phiếu do Chính phủ phát hành, vàng , bạc,
… Dạng các tài sản rủi ro được chia thành 4 hệ số: 10%; 20%; 50%; và 100%.
Thí dụ các khoản cho vay có thế chấp bằng động sản có hệ số rủi ro 50%. Tài
sản ngoại bảng cũng được chuyển đổi sang các tài sản Có rủi ro theo hệ số.
• Chất lượng tài sản Có
Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về mặt
tài chính, khả năng sinh lời, năng lực quản lý, và hầu hết rủi ro trong kinh
doanh tiền tệ đều tập trung vào tài sản có. Trong tài sản có thì tài sản có sinh
lời là nội dung quan trọng nhất quyết định sự thành bại của ngân hàng, vì vậy
đây là chỉ tiêu quan trọng mà nhà giám sát cần phải tập trung phân tích;
Tài sản có sinh lời của Ngân hàng bao gồm các khoản đầu tư cho trái phiếu
kho bạc, khoản cho vay, góp vốn liên doanh,… Đây là những tài sản Có có khả
năng mang lại những khoản thu nhập lớn cho ngân hàng, vì vậy khi giám sát
rất cần phải quan tâm đến những thay đổi trong cơ cấu cũng như tỷ trọng của
từng loại này trong Tổng tài sản.
Giám sát tài sản có là tập trung phân tích đánh giá các nhóm tài sản có,
từng loại cho vay, từng loại dịch vụ theo một chuẩn mực nhất định sau đó tổng
hợp các chỉ tiêu để đưa ra đánh giá cuối cùng về chất lượng tài sản có. Trước
đây, dư nợ cho vay được xem là một phần quan trọng nhất trong cơ cấu tài sản
Có của ngân hàng. Chất lượng cho vay, mức độ tổn thất trong hoạt động tín
dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tài sản Có của ngân hàng. Tuy nhiên
với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc đánh giá chất lượng
hoạt động thương mại, dịch vụ của các ngân hàng ngày trở nên quan trọng.
Kết quả của những hoạt động này sẽ ngày càng có tác động lớn tới chất lượng
tài sản Có. Ngoài ra, các nhà phân tích cần quan tâm tới tỷ lệ tài sản Có sinh lời
so với tổng tài sản Có. Bộ phận tài sản này quyết định khả năng thu nhập, lợi
nhuận của từng ngân hàng.
• Khả năng quản lý
Khả năng quản lý của mỗi ngân hàng là yếu tố năng động nhất. Nếu khả

thể tồn tại và phát triển khi kinh doanh có lãi.
Khả năng sinh lời được thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Các hoạt động kinh doanh phải tạo ra thu nhập tránh rủi ro và phải bù
đắp được khi có rủi ro.
+ Chi phí hoạt động của ngân hàng kể cả những khoản lỗ năm trước.
+ Những khoản tổn thất trong năm kế tài chính, đặc biệt là những khoản tổn
thất trong cho vay.
+ Đảm bảo một tỷ lệ tài sản có sinh lời so với tổng tài sản có;
+ Thu nhập tính theo bình quân tài sản Có cao;
+ Chi phí cho vốn huy động thấp;
+ Chi phí cho những khoản tổn thất trong năm thấp;
+ Chi phí cho sản xuất kinh doanh hợp lý.
• Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là một nội dung quan trọng để đánh giá hoạt động của ngân
hàng. Khả năng thanh toán được đánh giá theo các tiêu chuẩn về nội dung khác nhau;

Trích đoạn Hoạt động kiểm tra, giỏm sỏt tại tổ chức bảo hiểm tiền gửi Đài Loan( CDIC)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status