Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và việc vận dụng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam trong thời kỳ mớ - Pdf 64

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền,
nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là tư tưởng
độc đáo, sáng tạo của Người và của Đảng ta trong tiến trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là kết quả của sự vận dụng
và phát triển những quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới vào xây
dựng chính quyền nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ.
Theo Hồ Chí Minh, nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực
của dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phấn đấu đem lại lợi ích
cho dân, thoả mãn những nhu cầu hợp lý của các tầng lớp nhân
dân trong xã hội. Đó là một nhà nước dân chủ và tiến bộ. Quán
triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội
của nhân dân, Đảng ta đã đúc kết thành cơ chế, chính sách
quản lý, điều hành đất nước: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ. Cơ chế đó phát huy được tính tích cực, chủ
động của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị, đáp ứng đòi hỏi của các cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bước vào thời kỳ mới, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng nhà
nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải tiếp tục được quán triệt sâu sắc.
Bởi đây là nền tảng tư tưởng, lý luận quan trọng trong tổ chức
2


1946) khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng
hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt
Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo”.
Điều 32 của Hiến pháp viết: “Những việc liên quan đến vận
mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết...”, thực chất đó
là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ đề ra khá sớm
ở nước ta.
Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có
quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa
vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực,
hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của
người dân. Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền
của dân, chỉ là công bộc của dân.
Thế nào là nhà nước do dân?
Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu
của mình, nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi
tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình xây dựng, giúp
đỡ. Do đó, Bác yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa
vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu
sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi Chính phủ”, nghĩa là khi cơ quan nhà nước không
đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có
quyền bãi miễn nó. Hồ Chí Minh khẳng định: mỗi người có trách
nhiệm “ghé vai gánh vác một phần” vì quyền lợi, quyền hạn bao
4


giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.
Thế nào là nhà nước vì dân?

chức của mình trong Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp
của Nhà nước; được thể chế thành pháp luật, chính sách, kế
hoạch của Nhà nước.
- Bản chất giai cấp còn thể hiện ở định hướng đưa nước ta
đi lên chủ nghĩa xã hội. “Bằng cách phát triển và cải tạo nền
kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu
thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”.
- Bản chất giai cấp của Nhà nước ta còn thể hiện ở nguyên
tắc tổ chức cơ bản là nguyên tắc tập trung dân chủ. “Nhà nước
ta phát huy dân chủ đến cao độ... mới động viên được tất cả lực
lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập
trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ
nghĩa xã hội”.
Bên cạnh dân chủ, Bác cũng nhắc đến chuyên chính, “chế
độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với
ai?”. “Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái
khoá, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại... dân chủ cũng cần
chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ”.

6


1.2.2. Bản chất giai cấp của Nhà nước ta thống nhất
với tính nhân dân và tính dân tộc
Tính thống nhất thể hiện ở chỗ:
(1) Nhà nước dân chủ mới ra đời là kết quả của cuộc đấu
tranh lâu dài và gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế
hệ cách mạng.
(2) Nhà nước ta vừa mang bản chất giai cấp vừa có tính

trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.
1.3.2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng
đưa pháp luật vào cuộc sống
Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý là Nhà nước quản
lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu
lực trong thực tế. Trong nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật
luôn đi đôi với nhau, đảm bảo cho chính quyền trở nên mạnh
mẽ. Mọi quyền dân chủ phải được thể chế hoá bằng hiến pháp
và pháp luật. Xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm
bảo việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm của
Hồ Chí Minh. Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ, có
công lớn trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp, một mặt Người
chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà
nước ta, mặt khác Người chăm lo đưa pháp luật vào cuộc sống,
tạo cơ chế đảm bảo cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiểm
tra, giám sát việc thi hành của các cơ quan nhà nước và của
nhân dân. “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Sức mạnh
8


là do con người và vì con người, vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi
người phải hiểu và tuyệt đối chấp hành pháp luật, bất kể người
đó giữ cương vị nào. Công tác giáo dục pháp luật cho mọi người,
đặc biệt là cho thế hệ trẻ cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng
một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý, đảm bảo quyền
và nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống.
1.3.3. Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
của Nhà nước có đủ đức và tài
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ,
Bác Hồ cho rằng, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm

đức. Do tập quán của kinh tế tiểu nông, muốn hình thành ngay
một nhà nước pháp quyền là chưa được, vì vậy một mặt phải
nhấn mạnh vai trò của luật pháp, đồng thời tăng cường tuyên
truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, nhất là giáo dục đạo
đức. Đạo đức và pháp luật là hai hình thái ý thức xã hội có thể
kết hợp cho nhau. Khắc phục những biểu hiện tiêu cực sau:
- Đặc quyền, đặc lợi.
- Tham ô, lãng phí, quan liêu.
- “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo”.
Thứ hai, tăng cường pháp luật đi đôi với giáo dục đạo đức
cách mạng. Bên cạnh giáo dục đạo đức, Người kịp thời ban hành
pháp luật.

10


Kiên quyết chống ba thứ “giặc nội xâm” là tham ô, lãng
phí, quan liêu. Sức mạnh và hiệu quả của luật pháp, một mặt
dựa vào tính nghiêm minh của thi hành pháp luật, mặt khác dựa
vào sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức của người cầm quyền.
Bác nói: “Tham ô, lãng phí, quan liêu, dù cố ý hay không, cũng
là bạn đồng minh của thực dân phong kiến... tội lỗi ấy cũng
nặng như tội việt gian, mật thám”. Mác và Ăngghen đã từng
cảnh tỉnh giai cấp vô sản rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn
các đảng cộng sản cầm quyền đến chỗ “đánh mất một lần nữa
chính quyền vừa giành được”. Lênin cũng viết “...chúng ta bị
khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở
thành tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì
chính là cái đó”.
Vì vậy, không thể nói đến một nhà nước trong sạch vững

năm 1980, năm 1992 và năm 2013.
12


Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những
bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản
thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử
được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến
pháp năm 1946.
Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao
phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới.
2.1.2. Tính tất yếu khách quan
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà
mục tiêu cơ bản là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế
độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản
chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát
từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải
cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không
ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, củng cố
độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

13


thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật”.
Từ Nghị quyết Đại hội IX, tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi năm 2001) đã ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp”.
Trong Văn kiện Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây
dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong
việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn
thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy
định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện thể chế
kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt
động và quyết định của các cơ quan công quyền”.
Trong Văn kiện Đại hội XI, các đặc trưng cơ bản của nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khái quát một cách
cô đọng, tập trung tại một luận điểm về Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, trong Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung,
15



chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ
dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Với Hồ Chí Minh, nhân dân là
chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Toàn bộ
quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ
quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích
của nhân dân. Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa
hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công
chức nhà nước không thể là các ông quan cách mạng mà là
công bộc của nhân dân. Là nhà nước của dân, do chính nhân
dân lập ra thông qua chế độ bầu cử dân chủ. Bầu cử dân chủ là
phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác lập trong
nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền
khi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân.
Tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân, vì dân đã được
thể chế hoá thành một mục tiêu hiến định ngay trong bản Hiến
pháp đầu tiên của chính thể dân chủ cộng hoà ở nước ta - Hiến
pháp 1946: “Xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt
của nhân dân” (Lời nói đầu - Hiến pháp 1946). Đặc điểm này của
Nhà nước ta tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp
1959, 1980, 1992 và 2013.
2.3.2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn
trọng và bảo vệ Hiến pháp
Trong nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa
17


chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ
nhất và cao nhất bằng Hiến pháp. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp
được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý

pháp luật, chứ không phải chỉ nói đến nhu cầu đặt ra pháp luật,
áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách chung chung
với mục đích tự thân của nó.
Pháp luật của Nhà nước ta phản ánh đường lối, chính sách
của Đảng và lợi ích của nhân dân. Vì vậy, pháp luật phải trở
thành phương thức quan trọng đối với tính chất và hoạt động
của Nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội ta: công
bằng, dân chủ, bình đẳng - những tố chất cần thiết cho sự phát
triển tiến bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội ta.
Nhà nước pháp quyền đặt ra nhiệm vụ phải có một hệ
thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội,
làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật. Pháp
luật thể chế hoá các nhu cầu quản lý xã hội, là hình thức tồn tại
của các cơ cấu và tổ chức xã hội và của các thiết chế nhà nước.
Vì vậy, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là lối sống
có trật tự và lành mạnh nhất của xã hội. Tất cả các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải
nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
2.3.4. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và
19


tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước
và công dân, giữa Nhà nước và xã hội
Xét về bản chất, ngọn cờ bảo vệ quyền con người thuộc về
các nhà nước cách mạng chân chính, nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Cuộc đấu tranh suốt hàng chục năm đầy gian khổ hy sinh của
dân tộc Việt Nam vì độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng
suy cho cùng, chính là vì quyền con người, quyền được sống,

thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có
sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực
nhà nước
Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), với “Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”,
quan điểm về sự tồn tại của ba quyền và sự phân công, phối hợp
giữa ba phạm vi quyền lực đó của Nhà nước mới được chính thức
khẳng định trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, phát triển, vận dụng vào
hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam các tri thức của nhân loại
và trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Và đến Hội nghị Trung
ương 8 khoá VII, quan niệm của Đảng về ba quyền đã được sự
bổ sung quan trọng: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
21


Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân
công, phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà nước là
một quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô
hình tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.3.6. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân là một tất yếu lịch sử và tất yếu khách
quan. Không chỉ vậy, sự lãnh đạo đó còn có cơ sở đạo lý sâu sắc
và cơ sở pháp lý vững vàng.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng duy nhất

3.1.1. Những thành tựu chủ yếu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền
23


xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những
nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Sự xác định mục tiêu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Báo cáo
chính trị của Đại hội X không chỉ là khẳng định quyết tâm chính
trị của Đảng ta trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt
động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế mà
còn là sự đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp
xây dựng nhà nước kiểu mới - một nhà nước của dân, do dân, vì
dân.
Quá trình xây dựng, tăng cường nhà nước xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua
(đặc biệt trong những năm đổi mới) đã đưa lại nhiều kết quả tích
cực. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII và các văn kiện
Đại hội Đảng khoá IX, X, XI đã khẳng định công cuộc xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có những
tiến bộ quan trọng:
- Đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc
cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân. Hiến pháp 1992 và nhiều bộ luật, luật, pháp
lệnh đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để Nhà nước
quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh,
quốc phòng... Đã có nhiều quyết định cải cách có ý nghĩa quan
trọng trên lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật, làm cơ sở

mới; chưa phát huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự
25


Trích đoạn Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status