THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIN DỤNG ĐỐI VỚI DNNN TẠI SỞ GIAO DỊCH NHNO VÀ
PTNT I
I. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của sở Giao dịch
1. Khái quát quá trình hoạt động:
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế nước ta hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã có những thay đổi quan trọng cả về mặt tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt
động. Đến nay hệ thống ngân hàng đã phát triển thành hệ thống ngân hàng
Việt Nam tương đối hoàn chỉnh. Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 đã
chuyển đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam từ mô hình 1 cấp sang mô hình 2 cấp,
tách rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh. Dựa trên tinh
thần nghị định 53/HĐBT, Ngân hàng chuyên doanh phát triển nông thôn Việt
nam đã được hình thành từ vụ tín dụng nông lâm – ngư diêm nghiệp của Ngân
hàng Nhà nước Việt nam.
Ngày 14/11/1990 chủ tịch hội đồng bộ trưởng (hay thủ tướng chính
phủ, đã ký quyết định số 400/Công ty chuyển ngân hàng chuyên doanh phát
triển nông thôn Việt nam thành ngân hàng TMQD lấy tên là NHNo Việt nam
nay là NHNo & PTNT Việt Nam. Hiện nay ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt
nam là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt được tổ chức theo mô hình Tổng Công
ty có Hội đồng quản trị dưới sự điều hành của hội đồng quản trị. Tổng Giám
đốc do Thống đốc NHNN bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản trị.
Sở Giao dịch NHNo & PTNT là một thành viên của NHNo&PTNT Việt
Nam thành lập theo quyết định 15 ngày 01/04/1991 của Tổng Giám đốc
NHNo Việt Nam. Sở Giao dịch là một pháp nhân tự chủ về tài chính tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh và những cam kết của mình, có Bảng cân
đối tài sản và con dấu riêng, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật ngân hàng
HTXTD và Công ty tài chính, theo quy định của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT
Việt Nam. Trụ sở chính tại số 2 Láng Hạ - Đống Đa- Hà Nội, tài khoản tiền gửi
thanh toán mở tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Sở Giao dịch thực hiện nhiệm vụ hạch toán theo lệnh của Tổng Giám đốc
NHNo&PTNT Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng được
thể hiện qua công tác huy động vốn và công tác đầu tư tín dụng.
đến thành phần kinh tế nhà nước, coi đây là lực lượng có tính chất quyết định
đến quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội.
Sau hơn 10 năm đổi mới, các DNNN đã từng bứơc đi vào quỹ đạo vận
động từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, xáo bỏ cơ chế xin cho, tiếp cận với cách
quản lý hạch toán kinh doanh, giữ vững được vị trí chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách khách quan, sự phát triển của các
DNNN thời gian qua mới biểu hiện về mặt số lượng, còn mặt chất lượng
chuyển biến chậm chạp. Trong mấy năm gần đây, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài vẫn có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tiếp đó là khu vực kinh tế tư nhân.
Khu vực DNNN cũng luôn đạt tốc độ tăng trưởng khá nhưng vẫn chưa tương
xứng với vị trí của nó.
Không thể phủ nhận rằng thực tế nhiều DNNN làm ăn có lãi và sản
phẩm đã chinh phục được thị trường trong và ngoài nước. Nhưng xét dưới góc
độ tổng thể và phổ biến của khu vực DNNN thì vấn đề nổi cộm nhất là chất
lượng sản phẩm còn kém sức cạnh tranh trên thị trường và tất yếu dẫn đến
hiệu quả kinh doanh không cao.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này:
- Cơ cấu DNNN đã được điều chỉnh lại nhưng vẫn còn nhiều bất hợp lý do chưa
định rõ ngành nghề ưu tiên phát triển hoặc giảm bớt để thực hiện mục
tiêuhiện đại hóa, công nghiệp hóa. Vẫn còn nhiều DNNN có quy mô quá nhỏ và
thiếu sự điều hòa phối hợp để tận dụng năng lực nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh giữa các nghành, giữa doanh nghiệp TƯ và doanh nghiệp địa
phương trên cùng địa bàn lãnh thổ. Trên địa bàn Hà Nộihiện nay có nhiều cơ
quan chủ quản các DNNN nhưng vẫn chưa có một cơ quan nào có đủ thẩm
quyền đứng ra điều phối chung hoặc có quy định cụ thể về mối quan hệ này
trong lĩnh vực điều hòa chung các DNNN trên địa bàn.
-Tình trạng công nghệ lạc hậu chắp vá từ nhiều nguồn, nhiều nước
khác nhau đang là trở ngại lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh mà vấn đề
này không thể giải quyết ngay một lúc được. Các doanh nghiệp có đầu tư để
-Cơ chế quản lý tài chính của nhà nước ban hành đã có nhiều đổi mới
nhưng vẫn có những điểm chưa phù hợp nên việc quản lý vốn, tài sản, hạch
toán kinh doanh chưa đúng và đủ nên kết quả kinh doanh bị bóp méo vẫn còn
tồn tại ở các DNNN.
-Việc thay đổi mô hình tổ chức thành lập các Tổng Công ty với sự tập
trung vốn khá lớn và lực lượng quan trọng để thực hiện các chương trình kinh
tế, chương trình công nghiệp hóa. Các Tổng Công ty này đã và đang trở thành
những Doanh nghiệp đầu ngành trong những ngành then chốt, trong khi đó
các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm đối tác và
thị trường tiêu thụ của mình.
Trong quá trình đổi mới các DNNN có những mặt phát huy tác dụng,
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế phát triển của Đảng và Nhà nước nhưng cũng