TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.SỰ CẦN THIẾT PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI(NHTM).
1.1.1.Tổng quan về NHTM.
1.1.1.1. Sự hình thành và phát triển của NHTM.
Lúc đầu kinh doanh tiền tệ do nhà thờ đứng ra tổ chức vì đây là nơi
tôn nghiêm được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và vàng bạc.Về
sau, do nhận thấy việc kinh doanh này đem lại nhiều lợi lộc nên nhiều giới
nhảy vào. Những tổ chức này được coi là tiền thân của Ngân hàng. Thời
kỳ cuối thế kỉ XIV( thời kỳ Phục Hưng) phần lớn còn mang tính chất gia
đình, các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm
nhiều nghiệp vụ mới. Ngân hàng ra đời sớm nhất ở Venise của Ý năm
1580. Đầu thế kỉ XVII xuất hiện một số tổ chức kinh doanh tiền tệ lớn, sở
hữu tư nhân được coi là thời điểm của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại như
ngân hàng Amsterdam( Hà Lan), Ngân hàng Hamburg( Đức). Từ thế kỉ
XVIII đến thế kỉ XIX đã có sự phân công thành ngân hàng phát hành và
ngân hàng chuyên doanh. Từ thế kỉ XIX cho đến nay hệ thống ngân hàng
đã phát triển mạnh mẽ với sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp:
ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại. Ngày nay, hệ thống
NHTM đã phát triển mạnh mẽ cùng với việc đa dạng hoá các nghiệp vụ
của mình, các NHTM ngày càng xâm nhập sâu sắc vào mọi hoạt động của
nền kinh tế.
Ngày 6/5/1951 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng
quốc gia Việt Nam và sau đổi tên thành ngân hàng nhà nước Việt Nam
được tổ chức từ trung ương đến quận, huyện.
Hệ thống ngân hàng một cấp được duy trì cho đến ngày 26/3/1988, quyết
định số 53- QĐ - HĐBT đã đánh dấu sự hình thành hệ thống ngân hàng
hai cấp với ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các ngân hàng chuyên doanh là: ngân
hàng Nông Nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt Nam, ngân

vốn từ nơi thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn.
Với chức năng này NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
trong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay và đảm bảo lợi
ích của nền kinh tế.
• Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Trước đây, các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh toán khi
phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy
nhận nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu
thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc nhà nước
tập trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài
chính hoặc là Ngân hàng trung ương. Từ đó chấm dứt các ngân hàng
thương mại tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có
thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan
điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền
giấy trong lưu thông(Mo), thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch
của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền
gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn…Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên
cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay
để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một
khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay
mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn
dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền

hình thức bảo lãnh,..
Theo quy định tại Điều 30 của luật NHNN Việt Nam, NHTM được
vay vốn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn, theo các loại sau: Cho vay
theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu, cho vay
có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác, trong trường hợp đặc biệt khi được thủ tướng chính phủ chấp thuận,
NHNN cho vay đối với các NHTM, Tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng
chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng hoặc
trong trường hợp có sự chỉ định của thủ tướng chính phủ, NHNH thực hiện
bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài.
• Hoạt động sử dụng vốn.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế đều muốn
tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng không ngoại lệ, hoạt động huy động vốn
của ngân hàng đã đem lại cho ngân hàng một khoản vốn với tính chất là
vốn đi vay. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho các khoản
đó đến từng giờ. Vậy ngân hàng sẽ phải sử dụng nguồn vốn đó như thế nào
để có được lợi nhuận. Các ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua các
hoạt động cho vay, đầu tư vào các dịch vụ sinh lãi. Hiện nay, các NHTM
được thực hiện các hoạt động sử dụng vốn sau: Cho vay; chiết khấu thương
phiếu và cầm cố các chứng từ có giá; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài
chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
Cho vay là hoạt động chính của ngân hàng để thu lợi nhuận. Nó
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hình thức pháp lý của
hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng, có hai loại hợp đồng thông dụng:
Hợp đồng cho vay có đảm bảo( bằng tài sản, bằng tín chấp) và hợp đồng
cho vay không có đảm bảo.
Chiết khấu chứng tờ có giá ngắn hạn là nhiệm vụ mà ngân hàng sẽ
giao cho khách hàng một lượng tiền bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu
trừ đi lệ phí chiết khấu trong thời hạn của hiệu lực chứng từ chiết khấu.
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức

đất. Những thay đổi về nhu cầu người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của một
ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả sơ đồ của một hãng kinh doanh và
đặt người đi vay cụ thể nào đó đã có thời làm ăn có lãi lâm vào cảnh thua
lỗ. Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh, hoặc việc mất
một người quản trị giỏi có thể làm giảm thiệt hại nghiêm trọng đến khả
năng hoàn trả tiền vay của người vay. Sự hưng thịnh hay suy thoái của chu
kỳ kinh doanh ảnh hưởng đến lợi nhuận của người vay và gây nên niềm vui
hay nỗi buồn của người kinh doanh, cũng như người tiêu dùng. Một số rủi
ro nảy sinh từ các yếu tố riêng rẽ khó giải thích. Để quyết định có chấp
nhận cho vay hay không, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng ước lượng
rủi ro không hoàn trả. Rủi ro này có thể dự đoán trong một quá trình kéo
dài, bằng những phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chính của
khách hàng. Trên thực tế, việc xác định các thông số phi tài chính như uy
tín, năng lực, đạo đức, mục đích sử dụng vốn vay,… là rất khó, mang tính
chất định tính. Vì vậy, những thông tin tài chính định lượng là rất quan
trọng đối với ngân hàng trong đánh giá, lựa chọn khách hàng. Phân tích tài
chính của khách hàng cho ngân hàng xác định được các yếu tố về lượng
của nhu cầu vay vốn tín dụng, xác định được thời hạn hợp lý của khoản
vay, xác định kỳ hạn trả nợ …đối với từng khách hàng. Như vậy, phân tích
tài chính của khách hàng không chỉ là nhu cầu thiết thực mà còn là đòi hỏi
bắt buộc đối với mỗi NHTM.
Có thể hiểu phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM là một tập
hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các
thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính,
khẳ năng và tiềm lực của khách hàng giúp ngân hàng đưa ra các quyết
định tài trợ.
Phân tích tài chính của khách hàng tại các NHTM nhằm đạt được
những mục tiêu sau:
Xác định được tình hình tài chính của khách hàng: giá trị tài
sản, tình hình nợ, nhu cầu tài trợ, khả năng thanh toán…

cân đối kế toán ( mẫu số B01-DN ), báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
( mẫu số B02- DN), báo cáo lưu chuyển tiền tệ (mẫu số B03-DN), thuyết
minh báo cáo tài chính ( mẫu số B09-DN), và bảng kế hoạch tài chính trong
tương lai. Các báo cáo này cho thấy số liệu trong nhiều năm đã qua, vì vậy
giúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong
tương lai gần. Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ước tính nhu cầu
vốn, trong đó có nhu cầu tài trợ, đánh giá khẳ năng sinh lời và khẳ năng
trả nợ của khách hàng, các thiệt hại có thể xảy ra nếu khách hanhg không
trả, hoặc không trả đầy đủ,…
Với các khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh, căn cứ trên các mẫu
biểu sổ sách theo qui định, ngân hàng hướng dẫn hộ lập báo cáo kết quả
sản xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán của hộ. Với khách hàng là cá
nhân, hồ sơ sẽ gồm những tài liệu chứng minh tài sản cá nhân, lương và
các thu nhập khác.
1.2.2.Các phương pháp phân tích tài chính của khách hàng.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối
liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính,
các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tài chính doanh
nghiệp
Hiện nay các NHTM thường sử dụng hai phương pháp phân tích tài
chính đó là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status