THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN TẠI CỤC
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI
I) Khái quát về Cục đầu tư phát triển Hà Nội
1) Quá trình hình thành phát triển Cục đầu tư phát triển Hà Nội
Thi hành quyết định số 654/ TTg ngày 8/11/2002 của Thủ tướng chính
phủ về việc bộ Tài chính thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ cấp phát và
cho vay ưu đãi vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước. Liên bộ Tài
chính - Ngân hàng Nhà nước đã có thông tư số 100/ TT- LB ngày 24/11/2002
hướng dẫn về bàn giao hồ sơ, tài liệu, tiền vốn, cơ sở vật chất và cán bộ trực
tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ cấp phát và cho vay ưu đãi vốn đầu
tư phát triển của Nhà nước. Ngày 10/12/2002 thủ tướng chính phủ đã kí nghị
định số 187/CP thành lập Tổng cục đầu tư phát triển trực thuộc Bộ Tài chính.
Ngày 10/12/2002 bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra quyết định số 1198
TC/QĐ/TCCB thành lập 53 cục đầu tư phát triển tại các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Cục đầu tư phát triển Hà Nội là tổ chức quản lý tài chính Nhà nước
chuyên ngành, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại
kho bạc Nhà nước.
Kinh phí hoạt động của Cục đầu tư phát triển do Tổng cục đầu tư phát
triển cấp
Theo quyết định của Bộ Tài chính, cục đầu tư Hà Nội là cục đầu tư loại 1
trong 53 cục đầu tư phát triển. Như vậy cục đầu tư phát triển Hà Nội ra đời
trên cơ sở nhận bàn giao cán bộ, phương tiện làm việc, trang thiết bị, hồ sơ tài
liệu... từ Ngân hàng đầu tư phát triển Hà Nội, Sở giao dịch ngân hàng đầu tư
phát triển Việt Nam, Ngân hàng đầu tư phát triển Thăng Long, Sở tài chính vật
giá Hà Nội. Cục đầu tư phát triển Hà Nội ra mắt và đồng thời bắt tay ngay vào
hoạt động từ 1/1/2003, với biên chế tổng số 82 người bao gồm cán bộ lãnh
đạo, chuyên viên và nhân viên, vừa tiến hành bàn giao với Ngân hàng đầu tư
phát triển Hà Nội và sở tài chính vật giá Hà Nội, vừa tiến hành cấp phát và cho
vay vốn thuộc kế hoạch năm 94, đồng thời triển khai quản lý cấp phát và cho
vay vốn tín dụng ưu đãi thuộc kế hoạch năm 95. Số vốn hàng năm cấp phát cho
Quản lý Nhà nước về tài chính đầu tư phát triển tại địa phương theo sự
phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Tham gia thẩm định về tài chính các dự án đầu tư phát triển, tham gia
chọn thầu, xét thầu theo quy định cụ thể của Tổng cục trưởng Tổng cục Đầu tư
phát triển.
Nhận và quản lý các loại vốn ngân sách Nhà nước đầu tư, các nguồn vốn
ưu đãi của Nhà nước theo quy định của chính phủ, bao gồm cả vốn của ngân
sách Trung ương và ngân sách địa phương
Thực hiện việc cấp phát vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho chủ dự án
theo kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Tổ chức việc cấp và thu hồi vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án,
chương trình, mục tiêu do Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân thành phố chỉ
định.
Mở và quản lý tài sản của chủ đầu tư, tổ chức thực hiện các hình thức
thanh toán theo quy định hiện hành của Nhà nước và hướng dẫn của Tổng cục
đầu tư phát triển để đảm bảo việc cấp phát và tín dụng ưu đãi kịp thời.
Được quyền yêu cầu chủ đầu tư cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến
việc quản lý vốn đầu tư phát triển của Nhà nước. Kiểm tra việc sử dụng vốn
đầu tư của dự án; áp dụng các biện pháp quản lý theo quy định hiện hành
nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của Nhà
nước.
Xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục đầu tư
phát triển quyết định xử lý khi phát hiện có sự vi phạm chế độ quản lý vốn đầu
tư phát triển của Nhà nước.
Tổ chức công tác kế toán, thống kê và quyết toán việc cấp phát vốn đầu
tư, tín dụng đầu tư ưu đãi theo quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Tổng
cục đầu tư phát triển. Giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc
thẩm tra quyết toán, có ý kiến nhận xét bằng văn bản đối với các công trình, dự
án đầu tư theo hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư của Bộ tài chính.
Quản lý công chức, viên chức trực thuộc theo chế độ hiện hành và theo
tế - Kỹ thuật phối hợp với phòng Tín dụng tham mưu cho lãnh đạo cục trình
duyệt các dự án này.
- Thông qua công tác thẩm định kinh tế, kỹ thuật, tổng kết, đúc rút những
kinh nghiệm, những vấn đề về kinh tế - tài chính từ các dự án đầu tư trên địa
bàn. Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền những vấn đề cần bổ xung, sửa đổi
trong các văn bản pháp quy cho phù hợp.
- Là đầu mối nghiên cứu, xử lý, giải đáp các chế độ quản lý Xây dựng cơ
bản, quản lý vốn đầu tư và các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật có liên quan.
- Sưu tầm, tích luỹ các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, các thông tin có liên quan
đến công tác thẩm định trên địa bàn (kể cả trong và ngoài tỉnh, ngoài nước)
nhằm phục vụ cho công tác thẩm định kinh tế - kỹ thuật của Cục. Đồng thời
báo cáo về Tổng cục để tổng hợp và thông tin cho các Cục phục vụ cho công tác
thẩm định của toàn ngành.
- Thực hiện chế độ báo cáo về công tác thẩm định kinh tế - kỹ thuật theo
quy định.
3) Kết quả thẩm định các dự án đầu tư tại Cục đầu tư phát triển Hà Nội
3.1 - Thẩm định vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước:
Để thực hiện công tác quản lý vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà
nước được chặt chẽ, có hiệu quả, đúng chế độ. Cục đầu tư phát triển Hà Nội đã
thực hiện công tác thẩm định dự án tín dụng theo đúng quy trình nghiệp vụ.
Kết quả thực hiện thẩm định dự án tín dụng như sau:
Năm Số dự án thẩm định Số dự án từ chối cho
vay
Số dự án Số vốn( Tỉ đồng)
2003 12 18.8 7
2004 52 208.180 8
2005 27 149.800 5
2006 39 447.500 12
3.2 - Thẩm định các dự án đầu thầu, xét chọn thầu:
Phòng thẩm định Kinh tế - Kỹ thuật là đầu mối tổ tư vấn đấu thầu, xét
Năm Số dự án đầu tư
của thành phố
được thẩm định
Giá trị
(tỉ đồng)
Số dự án phải làm lại
hoặc không làm
2003 122 737 12
2004 186 3755 18
2005 143 4013 15
2006 97 2120.017 7
Đánh giá chung về kết quả thẩm định tại Cục đầu tư phát triển Hà
Nội: Trong những năm qua Cục đầu tư phát triển Hà Nội đã thẩm định được
một số lượng dự án tương đối lớn với quy mô vốn đầu tư ngày càng tăng. Công
tác thẩm định dự án nhìn chung đã chấp hành theo đúng chế độ Nhà nước quy
định, đúng quy trình nghiệp vụ thẩm định của Tổng cục đầu tư phát triển. Các
kết luận và kiến nghị thẩm định được đưa ra là những căn cứ khá vững chắc
để ra quyết định chấp thuận đầu tư hay không chấp thuận đầu tư cho dự án.
Đồng thời thông qua thẩm định dự án có thể tiết kiệm chi cho ngân sách Nhà
nước nhiều tỉ đồng. Các dự án phải xem xét lại hay phải lập lại thường có đặc
điểm:
Chưa đủ điều kiện pháp lý để có thể thực hiện dự án
Quy mô đầu tư chưa phù hợp
Mục tiêu đầu tư không đáp ứng đòi hỏi mục tiêu đầu tư chung của cả
nước
Số liệu tính toán không hợp lý
Tính toán thiếu các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án
Ví dụ: Thẩm định dự án “Cải tạo nâng cấp trường mầm non Hoạ Mi phường
Mai Dịch” ngày 17/3/1999 , hội đồng thẩm định đã đưa ra ý kiến như sau:
Cần phải xem xét lại quy mô, mật độ xây dựng dự án: Diện tích đất là
Giá thành cao so với mức chất lượng đạt được
Trang thiết bị của công ty hiện tại phục vụ việc sản xuất xe đạp và phụ
tùng là các thiết bị vạn năng, đa số do Việt Nam sản xuất - không phải là thiết
bị chuyên dùng để sản xuất xe đạp và đã được khai thác sử dụng từ những
năm 60, cho đến nay đã trở thành cũ kỹ, lạc hậu với năng suất thấp và độ
chính xác kém. Sự không đồng bộ của thiết bị và công nghệ chế tạo lạc hậu ở
nhiều công đoạn dẫn đến năng suất thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng
không đảm bảo, sản phẩm không có sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại
nhập khẩu.
Dây chuyền sản xuất moayơ và khung xe đạp hiện đang sử dụng bao
gồm các thiết bị gá lắp, dụng cụ do công ty tự chế tạo, phần lớn cũng đã được
thiết kế và khai thác từ những năm 80. Ưu điểm của dây chuyền này là đơn
giản, thao tác vận hành thay thế, sửa chữa dễ dàng nằm trong khả năng gia
công chế tạo của công ty nên luôn chủ động phục vụ sản xuất. Tuy nhiên các
dây chuyền đã bộc lộ nhiều nhược điểm như độ chính xác thấp, sản lượng thấp,
tính chất công nghệ thủ công.
Theo chiến lược phát triển chung của liên hiệp xe đạp - xe máy LIXEHA
thể hiện trong phân công đầu tư giữa các thành viên, công ty VIHA được giao
trách nhiệm chuyên sản xuất moayơ sắt mạ sản lượng 300.000 - 500.000 bộ/
năm và sản xuất khung, lắp ráp xe đạp sản lượng từ 100.000 - 200.000 xe/
năm. Trong khi đó về cơ bản công ty chưa có một dây chuyền chuyên dùng cho
sản xuất xe đạp và phụ tùng. Vì vậy việc đầu tư một dây chuyền sản xuất
moayơ sắt mạ và một dây chuyền sản xuất khung xe đạp có chất lượng cao là
cần thiết.
Dự án: “Đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ công ty xe đạp VIHA” là dự
án nằm trong nhóm ngành ưu tiên đầu tư của chính phủ và phù hợp với các
chính sách, quy định của chính phủ. Cụ thể:
Ngày 18/11/2005 tại thành phố Hồ Chí Minh, thủ tướng Võ Văn Kiết đã
làm việc với lãnh đạo Bộ công nghiệp, các Tổng công ty, công ty và xí nghiệp
chuyên sản xuất xe đạp để bàn về việc khôi phục và phát triển ngành này. Thủ
Diện tích chiếm chỗ của xe đạp trên đường thấp
Là phương tiện vận tải hàng hoá tiện lợi
Là phương tiện giao thông “sạch” không có chất thải gây ô nhiễm môi
trường
Nước ta hiện nay có khoảng gần 80 triệu dân, trong đó người có thu
nhập trung bình và thấp chiếm đa số. Vì vậy nhu cầu sử dụng xe đạp làm
phương tiện đi lại thậm chí vận chuyển hàng hoá là rất lớn. Những năm cuối
thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, xe đạp đã là phương tiện giao thông thịnh hành
nhất, hàng năm cả nước tiêu thụ 1,3 triệu chiếc trong đó sản xuất trong nước
đạt 500.000 xe/ năm và nhập từ nước ngoài theo các nguồn khác nhau khoảng
800.000 xe/ năm. Từ khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới, kinh tế phát
triển, nhu cầu sử dụng xe gắn máy tăng mạnh ở các đô thị. Vì vậy đã không ít
người vội cho rằng xe đạp đã hết thời và kỷ nguyên của các loại xe máy, ô tô
Việt Nam đã bắt đầu. Nhưng thực tế cho thấy xe đạp vẫn là phương tiện giao
thông chính ở vùng nông thôn và dùng cho học sinh đi học, người có thu nhập
trung bình ở đô thị.
Hiện nay trên cả nước có khoảng 14 - 15 triệu xe đạp đang sử dụng, tính
trung bình mỗi gia đình Việt Nam có 01 xe đạp. Tỉ lệ này được coi là thấp và
nhu cầu xe đạp vẫn đang tăng. Thống kê cho thấy lượng xe đạp bị hư hỏng cần
phải thay thế là 5%/ năm và số phụ tùng hư hỏng cần thay thế là 20%/ năm.
Như vậy số xe cần thay thế là 700.000 - 750.000 xe/ năm và phụ tùng thay thế
khoảng 3 triệu bộ / năm. Thêm vào đó, với mức tăng dân số trung bình 2%/
năm nghĩa là có khoảng 14 triệu trẻ em đến tuổi đi học và khoảng 1/5 số tre
em cần sử dụng xe đạp, tương đương với 300.000 xe/ năm. Như vậy nhu cầu
xe đạp ở nước ta là gần 1 triệu xe/ năm. Theo tính toán của Bộ công nghiệp,
hàng năm riêng thị trường nội địa có nhu cầu khoảng 700.000 chiếc xe đạp,
nhu cầu phụ tùng bao gồm cho lắp xe mới và thay thế (moayơ, xíchlíp, đùi đĩa,
phanh, yên...) cũng sẽ tăng lên từ 2 - 3 lần. Đối với thị trường xuất khẩu, trước
đây chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc lắp ráp xe đạp xuất khẩu
theo phương thức nhập 100% phụ tùng và xuất 100% số xe lắp ráp, đạt sản
xuất phụ tùng. Sản xuất xe đạp được phát triển mạnh nhất vào những năm
đầu thập kỷ 80, tập trung phần lớn tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Thái Bình, Nam Định với số lượng 530.000 xe và 9.000 tấn
phụ tùng hàng năm. Để thúc đẩy sản xuất, hiệp hội xe đạp - xe máy Việt Nam
được thành lập bao gồm 150 hội viên trong đó có 45 nhà sản xuất xe đạp và
phụ tùng xe đạp. Thời kỳ đầu, chỉ riêng Liên hiệp các xí nghiệp xe đạp - xe máy
Hà Nội (LIXEHA) đã đạt sản lượng 104.000 xe và 2.200 tấn phụ tùng hàng
năm.
Ngành sản xuất xe đạp là một ngành sản xuất lâu năm đã từng hưng
thịnh nhưng vài năm gần đây sản phẩm sản xuất ra bị hàng ngoại lấn át.
Những nguyên nhân chủ yếu đó là:
Do thị trường xe đạp Việt Nam bị hàng nhập lậu của Trung Quốc có giá
rẻ, mẫu mã đẹp.
Thiết bị máy móc của các doanh nghiệp xe đạp nhìn chung đều quá cũ và
lạc hậu. Trang thiết bị lại không đồng bộ, trên một dây chuyền có thể có đủ
chủng loại của nhiều nước như Việt Nam, Pháp, Nga, Tiệp, Trung Quốc... Tính
chất không ổn định của thiết bị gây ra hỏng hóc, năng suất thấp, chất lượng
kém, lượng phế phẩm cao.
Do công nghệ lạc hậu, phần lớn thuộc thế hệ những năm 50 nên chi phí
vật tư lớn. Trên thực tế, chi phí nguyên vật liệu cho sản xuất một sản phẩm ở
nước ta tính trung bình gấp 1,7 lần so với chi phí mà ở các nước Đông Âu bỏ ra
Do nắm bắt thị trường yếu kém nên không đáp ứng được nhu cầu về
chất lượng, kiểu dáng sản phẩm.
Như vậy, có thể nói ngành sản xuất xe đạp Việt Nam có đầy đủ thị
trường trong nước và xuất khẩu. Nếu được đầu tư đúng mức, ngành sản xuất
xe đạp sẽ tồn tại, phát triển, chiếm lĩnh thị trường trong nước và từng bước
mở rộng phạm vi kinh doanh ra thị trường thế giới.
Với thực trạng của ngành sản xuất xe đạp Việt Nam hiện nay cũng như
xu hướng phát triển của ngành trong tương lai thì việc đầu tư cho dự án “ Đổi
mới thiết bị và công nghệ công ty xe đạp VIHA” là cần thiết