CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm bảo lãnh Ngân hàng
1.1.1.1. Bảo lãnh là gì
Trong nền kinh tế thị trường, luôn tồn tại những mối quan hệ xã hội khác
nhau, các mối quan hệ này vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp. Trong
quan hệ xã hội, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên được quan tâm đặc biệt. Chỉ
cần một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì chắc chắn sẽ ảnh
hưởng đến quyền lợi của đối tác, đặc biệt là trong quan hệ kinh tế. Trong khi
đó, quan hệ kinh tế chỉ diễn ra lành mạnh khi các bên thực hiện đúng nghĩa vụ
của mình. Vì vậy các bên tham gia quan hệ kinh tế đều muốn có sự đảm bảo
bằng uy tín hay tài sản của bên thứ ba về việc thực hiện nghĩa vụ của đối tác.
Sự đảm bảo của bên thứ ba đó gọi là bảo lãnh.
Có hai hình thức bảo lãnh chủ yếu:
- Bảo lãnh đối nhân được áp dụng chủ yếu đối với các quan hệ phi tài sản
trong các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi
tài sản trong dân sự.
- Bảo lãnh đối vật được áp dụng chủ yếu trong quan hệ kinh tế và dân sự có
yếu tố tài sản. Với sự đảm bảo rằng nếu người được bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đền bù cho bên nhận bảo lãnh một số tiền thỏa
thuận từ trước.
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các định chế về bảo lãnh cơ
bản cũng được quy định trên các nguyên tắc này. Tuy nhiên có những quy định
đặc thù hiện đang tồn tại ở hai lĩnh vực là hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh
tế.
Theo điều 306, bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bảo lãnh được định nghĩa như sau
“Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có
quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
gồm các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam như
doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội,
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể; các tổ chức tín dụng được
thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp tác xã và các tổ
chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ Luật Dân sự; Các tổ
chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham
gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự
án đầu tư tại Việt Nam. Ngân hàng sẽ không được bảo lãnh đối với những
người như sau: Thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tổng Giám đốc
(Phó Giám đốc) của các tổ chức tín dụng; Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức
tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định bảo lãnh; Bố, mẹ, vợ,
chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc
(Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc);
Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền
thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng.
Cam kết bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín
dụng hoặc văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo
lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ taì
chính thay cho khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với khách
hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
1.1.1.3. Sự ra đời và phát triển của Bảo lãnh ngân hàng
Sự ra đời và phát triển của bảo lãnh ngân hàng là một yêu cầu tất yếu
khách quan của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh
nghiệp cần có sự bảo lãnh của ngân hàng để thực hiện một hợp đồng kinh tế
hoặc một nghĩa vụ kinh tế nào đó.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ thể thường xuyên phải tham
phạm vi rộng và giao dịch lớn thì người đứng ra bảo lãnh phải có độ uy tín
nhất định, có chuyên môn cao về những lĩnh vực được đề cập trong hợp đồng.
Đồng thời, người đứng ra bảo lãnh cũng phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh để
tạo lòng tin đối với các bên. Nhưng tất cả những điều đó thường vượt quá khả
năng của một cá nhân cụ thể. Chỉ có các định chế tài chính lớn như các công ty
bảo hiểm, công ty tài chính, các Ngân hàng mới có đủ khả năng thực hiện. Các
NHTM với thế mạnh về tài chính, nghiệp vụ và uy tín đã tạo lập một công cụ
mới, tạo ra sự đảm bảo cho các bên. Công cụ này được gọi là bảo lãnh ngân
hàng.
Bảo lãnh ngân hàng được bắt đầu sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 70.
Với sự giầu có nhanh chóng do bán dầu lửa, các quốc gia vùng Trung đông đã
ký kết những hợp đồng có giá trị giao dịch rất lớn với những tập đoàn Phương
tây nhằm thực hiện những dự án trong các lĩnh vực: Xây dựng cơ sở hạ tầng,
công nghiệp, an ninh quốc phòng như xây dựng đường xá, sân bay hải cảng,
nhà máy điện, mạng lưới thông tin. Do giá trị hợp đồng lớn nên để tạo lòng tin
cho đối tác, các bên cần phải có một sự đảm bảo nhất định như tài sản, uy tín
của bên thứ ba và dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đã xuất hiện, đáp ứng nhu cầu
cho các bên, đặc biệt là bảo lãnh thanh toán ngay khi có nhu cầu đầu tiên.
Ngày nay, dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng đã được phát triển và ngày càng
mở rộng với tổng giá trị bảo lãnh tăng lên một cách đáng kể. Có thể khẳng
định một điều chắc chắn rằng, những hoạt động kinh tế lớn trên thế giới hiện
nay không thể nào không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi kèm. Bảo lãnh
ngân hàng cũng được sử dụng ngày càng nhiều hơn khi các hợp đồng kinh tế
phát sinh trong phạm vi một quốc gia. Sự mở rộng bắt nguồn từ một thực tế
rằng bảo lãnh ngân hàng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho bất kỳ một hoạt
động kinh tế nào từ hợp đồng phi tài chính như hợp đồng mua bán, cho thuê
và hợp đồng xây dựng cho đến các hợp đồng tài chính như các khoản tín dụng,
cho vay theo món hay thấu chi, tham gia liên doanh, phát hành trái phiếu, tái
bảo hiểm hay các cam kết tài chính khác.
Với sự ra đời tất yếu khách quan, xuất phát từ những nhu cầu trong thực tế,
yêu cầu thanh toán từ bên nhận bảo lãnh mà không hề bị ảnh hưởng bởi các
điều khoản của hợp đồng gốc.
1.1.2.3. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân
hàng
Khi ngân hàng phát hành một cam kết bảo lãnh thì ngân hàng chưa thực
sự phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, ngân hàng chỉ tiến hành thu phí bảo lãnh do bên
được bảo lãnh đóng. Bảng cân đối tài sản chưa hề bị thay đổi. Do vậy, nghiệp
vụ bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Bảng cân đối tài sản chỉ
thay đổi khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh,
khi đó ngân hàng sẽ phải chuyển một phần nguồn vốn dùng để cho vay sang
hay phải huy động từ các nguồn khác như bán chứng khoán hay đi vay trên thị
trường mở. Nếu bên được bảo lãnh chưa hoàn trả ngay số tiền ngân hàng trả
thay thì sẽ phải tiến hành nhận nợ. Hay nói cách khác là ngân hàng cấp một
khoản tín dụng cho bên được bảo lãnh.
1.1.3. Vai trò và chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.1. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.1.1. Bảo lãnh được dùng như công cụ bảo đảm
Mục đích quan trọng của hoạt động bảo lãnh ngân hàng đó chính là cung
cấp cho người nhận bảo lãnh một khoản bồi hoàn tài chính trong trường hợp
bên được bảo lãnh vi phạm điều khoản được ghi nhận trong cam kết bảo lãnh.
Đó là một hình thức bảo đảm cho người nhận bảo lãnh và thường do bên nhận
bảo lãnh yêu cầu bên được bảo lãnh phải đề nghị ngân hàng bảo lãnh. Trong
thực tế, người nhận bảo lãnh không mong muốn nhận được tiền bảo lãnh. Họ
mong muốn người được bảo lãnh thực hiện đúng nghĩa vụ. Họ chỉ coi bảo lãnh
ngân hàng như một công cụ để bảo đảm an toàn cho mình khi có biến cố vi
phạm hợp đồng của người được bảo lãnh. Và bản thân người được bảo lãnh
cũng không muốn chuyện đó xảy ra vì nhiều khi thiệt hại do không thực hiện
đúng hợp đồng tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
Tóm lại, bảo lãnh ngân hàng được dùng như một công cụ bảo đảm hữu hiệu
hơn rất nhiều so với các hình thức bảo đảm khác.
Trên đây là những chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Nó
có tác động to lớn đến tất cả các chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh trên cả
phương diện nghĩa vụ và quyền lợi.
1.1.3.2. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.2.1. Vai trò đối với nền kinh tế
Với những chức năng của mình, bảo lãnh ngân hàng được coi là một công
cụ quan trọng được sử dụng ngày càng rộng rãi để trợ giúp cho các hoạt động
kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế để phát
triển kinh tế đất nước.
Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ đầu tư thực hiện vay vốn
trong nước và nước ngoài, đáp ứng nhu cầu về vốn, phục vụ cho đầu tư phát
triển. Đối với một doanh nghiệp không phải là khách hàng truyền thống, thì
việc xin vay vốn đặc biệt là với số vốn xin vay lớn, rất ít khi được ngân hàng
hay một tổ chức nào đó đồng ý cho vay. Do họ chưa chắc chắn được rằng liệu
doanh nghiệp có khả năng trả được nợ hay không. Trong khi việc dùng tài sản
cầm cố, thế chấp để xin vay không phải là lúc nào cũng dễ dàng đối với các
doanh nghiệp. Do vậy, dịch vụ bảo lãnh ngân hàng ra đời đã đảm bảo việc
hoàn trả vốn vay còn bên có nhu cầu vay vốn sẽ có nhiều cơ hội có được nguồn
vốn phù hợp nhất với nhu cầu của mình vì bên cho vay thấy khả năng xảy ra
rủi ro tín dụng là rất ít và họ sẵn lòng cung cấp tín dụng hơn. Trong trường
hợp này, bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò là phương tiện bảo đảm cho món
vay có hiệu quả hơn nhiều so với hình thức cầm cố hay thế chấp. Khi đó nhờ có
các khoản vốn vay mà doanh nghiệp có thể đầu tư đổi mới thiết bị, xây dựng
các dự án đầu tư có tính khả thi và đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra công ăn
việc làm góp phần ổn định xã hội và đem lại phồn vinh cho nền kinh tế đất
nước.
Riêng đối với hình thức bảo lãnh dự thầu đã góp phần giúp các nhà thầu
tham gia đấu thầu các dự án quan trọng mà nếu trúng thầu thì sẽ đem lại cho
doanh nghiệp cũng như xã hội rất nhiều lợi ích không chỉ về mặt kinh tế mà
còn về cả mặt xã hội. Còn bảo lãnh thực hiện hợp đồng đảm bảo tính đúng đắn
hiện hợp đồng, tiết kiệm thời gian và chi phí vào việc tìm hiểu đối tác và đặc
biệt là không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Nếu có rủi ro xẩy ra, bảo lãnh ngân hàng
đảm bảo bù đắp thiệt hại nhanh nhất.
- Với bên được bảo lãnh: Nhờ có bảo lãnh, các doanh nghiệp có điều kiện
tiếp cận với những nguồn vốn rẻ, hiệu quả ở cả trong nước và nước ngoài. Bảo
lãnh cũng tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có khả năng thực hiện hợp
đồng song lại chưa có đủ uy tín đối với bên đối tác có thể tham gia đấu thầu
những công trình lớn. Ngoài ra, với sự kiểm tra và giám sát của ngân hàng
trước và sau khi đồng ý bảo lãnh buộc doanh nghiệp phải quan tâm tới hơn
việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để không làm mất uy tín đối với
ngân hàng cũng như với bên đối tác. Như vậy, chính bảo lãnh ngân hàng đã
thúc đẩy cho doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn và
hoàn thành hợp đồng theo đúng quy định. Do đó, nó giúp doanh nghiệp tăng uy
tín trong quan hệ sản xuất kinh doanh, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp
trong và ngoài nước.