CÁC NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn.
1.1.Một số vấn đề cơ bản
1.1.1.Tín dụng ngắn hạn
Là loại tín dụng mà các tổ chức tín dụng cung cấp cho các tổ chức kinh tế
với thời hạn tối đa không quá 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt
vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân.
Đối với tài trợ chi tiêu thông thường Để giải quyết những khó khăn tài
chính tạm thời thường gặp vào cuối tháng trước khi lĩnh lương….. khách hàng kí
hợp đồng với ngân hàng để họ chấp nhận xử lý lệnh thanh toán của khách tới
mức có quy định trước với ngân hàng dù khách không có đủ tiền trong tài
khỏan. Giới hạn dư nợ được ngân hàng chấp nhận tuỳ theo mức thu nhập của
khách, mức lãi suất rất cao so với các loại tín dụng khác nhưng lãi chỉ tính vào
số ngày có hụt trong tài khoản.
Đối với Doanh nghiệp tín dụng ngắn hạn dùng để tài trợ chu kì sản xuất
của doanh nghiệp. Nhu cầu tài trợ ngắn hạn xuất phát từ độ lệch của lưu chuyển
tiền tệ của các doanh nghiệp, tức là lưu chuyển tiền vào và tiền ra thường không
ăn khớp về mặt thời gian và quy mô đây là một hiện tượng tất yếu do chu kì
hoạt động và ngân quỹ của doanh nghiệp quyết định.
- Chu kì hoạt động (Operating cycle) là khoản thời gian từ khi mua
nguyên liệu đưa vào tồn kho cho đến khi thu được tiền từ bán hàng tồn kho.
- Chu kì ngân quỹ ( Cash cycle) = chu kì hoạt động - Giai đoạn phải trả
người bán
Xuất phát từ chu kì hoạt động và chu kì ngân quỹ của doanh nghiệp đã
xuất hiện sự không ăn khớp giữa lưu chuyển tiền tệ vào và lưu chuyển tiền tệ
ra, đòi hỏi phải có nguồn tài trợ về ngân quỹ để đáp ứng mức chênh lệch đó.
Ngoài ra tín dụng ngắn hạn còn dùng để đáp ứng nhu cầu vốn thời vụ của các
doanh nghiệp.
1.1.2.Nguyên tắc cho vay
Tín dụng ngắn hạn được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thế chấp tài sản là việc bên đi vay dùng tài sản là bất động sản thuộc sở
hữu của mình hoặc quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
đối với bên vay
b) Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của
mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ; nếu tài sản cầm cố
có đăng kí quyền sở hữu thì các bên có thể thoả thuận bên cầm cố vẫn giữ tài
sản cầm cố hoặc giao cho bên thứ ba giữ.
c) Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay ( người nhận bảo lãnh)
sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay ( người được bảo lãnh), nếu đến thời
hạn mà người người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ.
1.1.2.2.Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã cam kết khi vay
Nguyên tắc này nhằm làm đảm bảo tính hiệu quả của vốn vay tạo điều kiện
thực hiện việc hoàn trả nợ vay của đơn vị.
Mục đích cho vay như đã nêu là nhằm bổ xung vốn lưu động trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Nó được xác định trước khi cho vay và được kiểm soát
trong suốt quá trình sử dụng vốn vay.
Đợn vị vay vốn có trách nhiệm sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết.
Nếu ngân hàng phát hiện đơn vị sử dụng vốn vay sai mục đích có thể thu hồi vốn
trước thời hạn.
1.1.2.3.Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi theo đúng
thời hạn ấn định.
Đây là nguyên tắc không thể thiếu của tín dụng. Nó được đặt ra trên cơ sở
sau đây:
*Xuất phát từ đặc điểm nhàn rỗi của nguồn vốn tín dụng và tổ chức tín dụng
chỉ là trung gian huy động và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Cho nên sau khi
sử dụng một thời gian nhất định đơn vị phải hoàn trả lại tổ chức tín dụng để tổ
chức tín dụng hoàn trả lại người sở hữu nó
Nam, Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước
quốc tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia quy định
* Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
* Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
* Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả; Hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp
với quy định của pháp luật
* Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ và
hướng dẫn của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Nói chung, Điều kiện cho vay Đối với mọi tổ chức kinh tế cần phải có các điều
kiện sau:
- Phải là tổ chức có tư cách pháp nhân và hoạt động theo đúng pháp luật
hiện hành của Việt Nam.
- Sản xuất kinh doanh có lãi hoặc được cấp bù lỗ theo chính sách, không có
nợ quá hạn.
- Có đủ vốn tự có theo quy định.
- Tổ chức hạch toán và quản lý tài chính theo đúng pháp lệnh kế toán và
thống kê. Cung cấp cho tổ chức tín dụng các tài liệu cần thiết về sản xuất kinh
doanh và tài chính.
- Chấp nhận và thực thi mọi quy định trong thể lệ tín dụng của ngân hàng
nhà nước và tổ chức tín dụng đang cho vay.
Ngoài ra, đối với tổ chức kinh tế tư doanh, ngoài những quy định trên, phải
nộp cho tổ chức tín dụng bản sao giấy phép kinh doanh, có trụ sở thường trú
cùng địa bàn của tổ chức tín dụng.
1.1.4.Một số quy định khác.
1.1.4.1. Đối tượng cho vay bao gồm giá trị vật tư hàng hoá và các chi phí cấu
thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm.
1.1.4.2. Giá cho vay căn cứ vào hợp đồng kinh tế hay trên chứng từ mua vật
tư, hàng hoá và chi phí mà đơn vị vay vốn đã chấp nhận.
Theo điều 12, điều 18 và điều 20 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
hưởng) một trái quyền ngắn hạn về tiền đối với người thụ lệnh khi giấy tờ đến
hạn. Có 2 loại thương phiếu chính:
Hối phiếu là một văn tự thương mại do người lập ra (người phát lệnh) để
lệnh cho một người khác (người thụ lệnh) phải trả một số tiền nhất định khi hối
phiếu đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng.
Lệnh phiếu là một văn tự thương mại, theo đó người phát hành cam kết trả
một số tiền nhất định cho người thụ hưởng khi đến hạn thanh toán hoặc theo
lệnh của người này cho một người khác.
Chiết khấu chứng từ có giá (thương phiếu) là một nghiệp vụ tín dụng ngắn
hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân
hàng để đổi một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và
hoa hồng phí (nếu có).
Tỷ lệ phần trăm giữa phần lợi tức ngân hàng được hưởng so với số tiền ghi
trên chứng từ có giá gọi là lợi suất chiết khấu.
Chứng từ có giá nhận chiết khấu bao gồm các loại thương phiếu có kỳ hạn
như lệnh phiếu, hối phiếu, trái phiếu ngắn hạn... do các đơn vị được phép phát
hành hợp pháp, còn thời hạn thanh toán và được bảo toàn mệnh giá.
Ví dụ. Ngân hàng chiết khấu 1 hối phiếu có các yếu tố sau:
Mệnh giá hối phiếu 950.000.000 đồng
Thời hạn còn lại của hối phiếu 30 ngày
Lãi suất chiết khấu 9,6%/năm
Ngân hàng Người đi vay
Người thanh toán nợ
Cho vay 942.350.000
Nhận thương phiếu
950.000.000
Thu nợ
Hình thành thương phiếu
Các loại phí khác 50.000 đồng
Số tiền cho vay = 950.000.000 - (950.000.000 * 0,008 + 50.000)
5. Giá trị ròng (3 - 4) : G là số tiền cấp cho khách hàng chiết khấu
+ Lãi chiết khấu là số tiền lãi trong nghiệp vụ chiết khấu mà ngân hàng
được hưởng. Phương pháp tính lãi chiết khấu như sau:
360
trM
R
××
=
Trong đó:
R : Lãi chiết khấu
M : Mệnh giá thương phiếu
r : Lãi chiết khấu
t : Thời gian chiết khấu
Thời gian chiết khấu tức là thời gian tính lãi chiết khấu, là số ngày đề nghị
chiết khấu và ngày thương phiếu đáo hạn (không tính ngày đề nghị chiết khấu
và ngày đáo hạn) cộng với số ngày làm việc của ngân hàng. Nếu ngày đáo hạn
là ngày nghỉ thì được dời đến ngày làm việc tiếp theo.
+ Hiện giá là số tiền còn lại của mệnh giá sau khi trừ lãi chiết khấu:
P = M - R
Hiện giá được tính theo phương pháp chiết khấu lãi, do vậy lãi suất chiết
khấu là lãi suất danh nghĩa, không phải là lãi suất hiệu dụng. Trong quản trị
lãi suất ngân hàng phải xác định lãi suất hiệu dụng và trên cơ sở đó qui đổi về
lãi suất chiết khấu.
+ Giá trị ròng là số tiền cấp cho khách hàng đi vay:
G = M - (R - H)
Một số phí hoa hồng được tính để khấu trừ như sau:
- Hoa hồng ký hậu: H
1
Cơ sở phát hành thương phiếu là quan hệ thương mại, nếu như thương
phiếu được phát hành không trên một cơ sở quan hệ thương mại của các chủ
thể hợp pháp thì đó là tai hoạ cho khả năng trả nợ trong tương lai. Trên thực tế
ngân hàng các nước đã phát hiện các loại thương phiếu như sau:
- Người thụ lệnh thương phiếu không hợp pháp: về hình thức hối phiếu được
phát hành có đầy đủ các điều kiện theo luật, về nội dung, người thụ lệnh ghi trên
hối phiếu không có trên thực tế ( chỉ là chủ thể do người ký phát tưởng tượng
ra) hoặc hối phiếu được phát hành chỉ do ý muốn của người ký phát (người thụ
lệnh không biết hoặc không đồng ý cho việc phát hành hối phiếu đó).
- Người ký phát và người thụ lệnh thông đồng trong vịêc phát hành hối
phiếu giả tạo. Đây là loại hối phiếu được phát hành trên cơ sở thoả thuận của
các chủ thể liên quan. Thực chất là người thụ lệnh cho mượn chữ ký của mình để
người ký phát vay ngân hàng, nhưng gữa họ không có một quan hệ thương mại
phát sinh. Ví dụ: tập đoàn Tăng Minh Phụng là một dẫn chứng thực tế về các
hợp đồng thương mại giả tạo và chắc chắn các dạng như thế có thể xuất hiện
trong tương lai với các thương phiếu.
Ngoài những rủi ro xuất phát từ hối phiếu giả tạo, kỹ thuật chiết khấu
thương phiếu cũng gặp phải rủi ro từ các nguyên nhân khác như khả năng tài
chính yếu kém của các chủ thể liên quan đến hối phiếu, lệnh phiếu, các điều kiện
về hình thức và nội dung của các thương phiếu không phù hợp các qui định của
pháp luật .... cũng cần phải được ngân hàng thẩm định trước khi quyết định cho
vay.
1.2.2. Cho vay bổ sung vốn lưu động
Sau khi đã sử dụng hết vốn lưu động tự có và vốn lưu động vào sản xuất kinh
doanh, tổ chức kinh tế có thể vay vốn tổ chức tín dụng để bổ sung vào vốn lưu
động còn thiếu hụt.
1.2.2.1.Lập và xét duyệt kế hoạch vay vốn
Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, đặc điểm luân chuyển vốn của từng khách
hàng mà ngân hàng có thể cho vay theo kế hoạch hoặc cho vay theo từng
phương án, cho vay từng khâu, từng loại vật tư cụ thể.
cho cán bộ tín dụng để cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ tín
dụng nhận nợ. Sau đó đơn xin vay và hợp đồng tín dụng vay tiền được cán bộ tín
dụng chuyển cho bộ phận kế toán để cán bộ kế toán tiến hành phát tiền vay.
Tuỳ theo mục đích của việc sử dụng vốn vay, trên cơ sở các yêu cầu hợp lý
của khách hàng thì ngân hàng có thể cho vay chuyển khoản để trả thẳng cho
người thụ hưởng, cho vay để chuyển vào tài khoản thư tín dụng, séc bảo chi, cho
vay bằng tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán.
Ngân hàng không cho vay đảo nợ (cho vay để thu nợ cũ), cho vay để thu lãi,
cho vay để khách hàng kinh doanh sai chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
của họ.
• Thu nợ
- Định kỳ hạn cho vay và kỳ hạn nợ
Định kỳ hạn cho vay của mỗi món vay được xác định trên cơ sở thoả thuận
giữa ngân hàng và khách hàng. Sự thoả thuận được căn cứ vào đặc điểm kinh
doanh của mỗi khách hàng, chu kỳ luân chuyển vốn của món vay và tổ chức
nguồn vốn của ngân hàng. Sau đó thoả thuận thời hạn cho vay được ghi vào hợp
đồng tín dụng vay trên. Thường được ngân hàng phát kỳ hạn nợ và quyết định
sự trả nợ. Tuy nhiên, đối với các món vay của khách hàng có thu nhập không
thường xuyên hoặc các món vay mà thời hạn vay ngắn (dưới một tháng) thì có
thể không phân kỳ hạn nợ mà trên hợp đồng tín dụng chỉ ghi thời hạn trả nợ
cuối cùng.
- Tổ chức thu nợ
Về nguyên tắc, khách hàng thu nợ theo từng kỳ hạn, khách hàng có thể trả
nợ trước thời hạn quy định. Kết thúc thời hạn cho vay khách hàng phải có trách
nhiệm trải hết nợ vay của từng kỳ hạn hay thời hạn nợ, ngân hàng lập và gửi
thông báo về khoản nợ đến hạn cho khách hàng để họ biết và chuẩn bị tiền trả
nợ. Khách hàng có thể chủ động trả nợ bằng cách nộp tiền mặt vào ngân hàng
hoặc lập uỷ nhiệm chi đề nghị ngân hàng trích tài khoản tiền gửi thanh toán của
họ để thu nợ đến ngày trả nợ, nếu khách hàng không chủ động tổ chức tín dụng
tự động trích tài khoản tiền gửi của đơn vị vay vốn để thu nợ. Nếu tài khoản này
vịêc cho vay và thu nợ căn cứ vào quá trình nhập, xuất vật tư, hàng hoá. Ngân
hàng cho vay khi có nhiều nhu cầu vốn phát sinh để nhập vật tư, hàng hoá và
ngân hàng thu nợ khi doanh nghiệp có thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá.
Hạn mức được duyệt.
Dư nợ trong kỳ.
Hình a.Hạn mức được duyệt trong kỳ.
Hình b. Hạn mức được duyệt cuối kỳ.
Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay, trả nhiều lần, song dư nợ không
được vượt quá hạn mức tín dụng (a). Một số trường hợp ngân hàng quy định
hạn mức cuối kỳ. Dư nợ cuối kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kỳ,
khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt quá
hạn mức (b).
1.3. Thế chấp tài sản và bảo lãnh vốn vay
Theo nghị định số 178/1999/NĐ - CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng bảo đảm tín dụng được hiểu là việc bảo vệ quyền lợi của người đi vay dựa
trên cơ sở thế chấp cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của người đi vay hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba.
1.3.1. Khái niệm
Đảm bảo tín dụng là đảm bảo cho khoản tiền gửi ngân hàng phát ra cho vay
có khả năng thu hồi được nợ khi đến hạn.
Mục đích là ngăn ngừa hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại.
1.3.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng
1.3.2.1. Đảm bảo đối vật.
Đảm bảo đối vật là hình thức đảm bảo tín dụng mà trong đó ngân hàng
đóng vai trò là chủ nợ được thừa hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài
sản của khách hàng là con nợ, nhằm làm căn cứ thu hồi nợ trong trường hợp
con nợ không trả hoặc không có khả năng trả nợ.
Ví dụ. Năm 2003 ngân hàng cho doanh nghiệp A vay 700 triệu đồng, giá thị
- Thế chấp pháp lý và thế chấp công bằng. Thế chấp pháp lý là hình thức thế
chấp mà trong đó người thế chấp thoả thuận chuyển quyền sở hữu cho ngân
hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, khi người đi vay
không thanh toán được nợ thì ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê
với tư cách là người chủ sở hữu mà không cầm các thủ tục tố tụng để nhờ sự
can thiệp của toà án. Ngược lại thế chấp công bằng ngân hàng chỉ nắm quyền sở
hữu tài sản để đảm bảo cho món nợ vay như vậy, khi người đi vay không thanh
toán đủ nợ thì ngân hàng cần sự can thiệp của toà án khi có tranh chấp.
- Thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai. Việc sử dụng một tài sản để đảm
bảo nợ cho nhiều khoản vay và thế chấp cho khoản vay đầu tiên đang tồn tại gọi
là thế chấp thứ nhất. Thế chấp thứ hai là hình thức thế chấp trong đó người vay
dùng phần chênh lệch giữa gía trị tài sản thế chấp và khoản nợ thứ nhất được
bảo đảm bằng tài sản đó để ảo đảm cho khoản nợ thứ hai.
- Thế chấp trực tiếp và thế chấp gián tiếp. Thế chấp trực tiếp là thế chấp
bằng tài sản hình thành từ vốn vay, thế chấp gián tiếp là hình thức thế chấp mà
trong đó hình thức thế chấp mà trong đó tài sản thế chấp và tài sản hình thành
từ vốn vay là khác nhau. Theo nghị định 178 thì thế chấp gián tiếp chỉ áp dụng
trong cho vay trung và dài hạn.
- Thế chấp toàn bộ và thế chấp một phần bất động sản
Xử lý tài sản thế chấp:
+ Khi bên vay trả nợ đầy đủ gốc và lãi, tổ chức tín dụng sẽ giao lại toàn bộ tài
sản và chứng từ thế chấp. Nếu tài sản không nguyên vẹn như khi đưa thế chấp,
tổ chức tín dụng phải bồi hoàn.
+ Khi đến hạn mà khách hàng vay không trả được nợ thì tài sản bảo đảm
được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng lập thủ tục đề nghị cơ quan có trách
nhiệm xử lý và phát mãi tài sản thế chấp. Tiền thu được trước nhất để trả nợ cũ
( cả gốc và lãi), tiếp đó trả các chi phí bảo quản và phát mãi cuối cùng trả lại số
tiền thừa cho bên vay nếu không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì khách hàn
vay phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết, cũng có thể giao cho
NGƯỜI BẢO LÃNH
hiện nghĩa vụ thay khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ.
(3) Người bảo lãnh cam kết với ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho
người đi vay khi khoản nợ đáo hạn mà người đi vay không thực hiện được
Bên nhận bảo lãnh phải là chủ thể có đủ tư cách pháp lý, xuất trình các giấy
tờ cần thiết và đưa tài sản ra bảo lãnh như tài sản thế chấp. Việc bảo lãnh được
thực hiện bằng văn bản có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể có các dạng bảo lãnh sau:
- Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản hoặc bằng uy tín. Bảo lãnh có bảo đảm
bằng tài sản đòi hỏi bên bảo lãnh phải có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Việc bảo lãnh bằng tài sản có thể kèm theo biện pháp thế chấp, cầm cố hoặc
không do bên tổ chức tín dụng và bên bảo lãnh thoả thuận . Bảo lãnh bằng uy tín
là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người bảo lãnh.
Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng được phép bảo lãnh vay bằng uy tín và khả
năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh còn bên bảo lãnh không
phải là tổ chức tín dụng thì chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của
mình.
- Bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ. Người bảo lãnh có thể bảo lãnh
một phần hoặc toàn bộ số nợ phải rhanh toán cho ngân hàng. Trường hợp bảo
lãnh một phần phải ghi rõ số tiền bảo lãnh.
- Bảo lãnh riêng biệt và bảo lãnh duy trì. Bảo lãnh riêng biệt được áp dụng
cho một số tiền vay cụ thể theo hợp đồng tín dụng và được hạch toán cụ thể trên
tài khoản cho vay. Bảo lãnh duy trì là hành vi bảo lãnh cho một loạt các giao
dịch và mức bảo lãnh theo hạn mức tối đa.
- Nợ đến hạn, Nếu bên vay không trả được thì bên bảo lãnh phải trả thay
như trách nhiệm của bên vay.
1.3.3. Mức độ đảm bảo tín dụng
Mức độ trách nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng trong quan hệ tín
dụng: khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh,…
Giá trị tài sản đưa ra làm đảm bảo
Mức độ đảm bảo của khoản tín dụng còn phụ thuộc vào khối lượng tín dụng
phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…
2.1.2.Lý do các doanh nghiệp chọn tín dụng trung, và dài hạn.
Lý do mà các doanh nghiệp chọn vay trung và dài hạn thay vì phát hành
chứng khoán để huy động vốn là bởi vì :
-Các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế về khả năng tìm nguồn vốn trên
thị trường tài chính, vì vậy khi có nhu cầu vốn dài hạn phải đi vay các ngân
hàng hoặc các TCTD khác.
-Trong nhiều trường hợp, vay trung, và dài hạn tốt hơn phát hành chứng
khoán bởi vì : so với phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp có thể có được
các điều kiện vay phù hợp cho nhu cầu của mình hơn do vậy có thể thương
lượng một cách trực tiếp với người cho vay. So với phát hành chứng khoán, khi
vay trung, và dài hạn doanh nghiệp có thể trả nợ trước hạn, trong nhiều
trường hợp người vay có thể thương lượng lại một số diều kiện cho vay sau
khi đã nhận tiền vay. Thời hạn của các khoản vay trung, và dài hạn cũng ngắn
hơn so với phát hành chứng khoán, cho phép doanh nghiệp đạt được lợi nhuận
cao trong các thời kỳ có lãi suất cao. Bên cạnh đó, doanh nghiệp không phải
tốn các chi phí đăng ký, chi phí bảo lãnh, và chi phí để bán chứng khoán ra thị
trường.
-Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp không muốn phải công
bố thông tin về mình khi phát hành chứng khoán trong khi doanh nghiệp muốn
bí mật thông tin hoặc đang ở trong điều kiện bất lợi cho phát hành chứng
khoán.
-Khi vay trung, và dài hạn các doanh nghiệp có được mối quan hệ mật thiết
với các ngân hàng và điều này có thể có lợi cho doanh nghiệp sau này.
2.2. Một số quy định chung trong tín dụng trung và dài hạn.
2.2.1. Khái niệm.
Tín dụng trung, và dài hạn là hình thức tín dụng mà các TCTD cung cấp cho
các tổ chức kinh tế với thời hạn cho vay trên một năm nhằm đầu tư vào tài sản
cố định.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
doanh nghiệp cũng có nhu cầu vay vốn trung, và dài hạn để mua lại một doanh
nghiệp khác đang hoạt động trong trạng thái bình thường hoặc doanh nghiệp
đã tuyên bố phá sản. Việc mua doanh nghiệp khác thường có nhiều rủi ro bởi vì
khi mua một doanh nghiệp thì kèm theo đó là sự thay đổi về sở hữu, thay đổi về
quản lý, và như vậy trong nhiều trường hợp hiệu quả hoạt động không cao, vì
vậy khả năng hoàn trả nợ vay càng khó khăn. Nhưng không vì thế mà ngân
hàng từ chối tất cả các nhu cầu này của khách hàng. Vấn đề đặt ra là ngân
hàng phải phân tích, đánh giá được thực trạng khả năng sinh lợi của dự án,
triển vọng tăng trưởng lợi nhuận, và khả năng quản lý qn sau khi mua…
2.2.3. Nguồn vốn cho vay.
Hiện nay, nguồn vốn cho vay trung, và dài hạn ở các ngân hàng thương
mại Việt Nam rất nhỏ. Khả năng đáp ứng được nhu cầu vay trung, và dài hạn
rất hạn chế. Điều này gây khó khăn cho việc mở rộng quan hệ của ngân hàng
đối với khách hàng và hạn chế cho vay ngắn hạn.