BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o---------
Công trình dự thi Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học
Ngoại thƣơng 2010
Tên công trình:
mây tre đan
Thuộc nhóm ngành: XH1b
Họ và tên sinh viên: Nam/nữ: Dân tộc: Kinh
Lớp: B-CLC-KTQT Khoá: 46 Khoa: Năm thứ : 3/4
Ngành học :
Người hướng dẫn :
25
–
25
25
25
26
26
27
29
30
32
32
http://svnckh.com.vn
3 40
An
49
53
58
58
2001 của Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Nghệ An về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 - 2010, nhiều ngành nghề tưởng
thất truyền đã có cơ hội hồi sinh, nhiều làng nghề tưởng đã mai một được khôi phục; nhiều nghề
mới được du nhập trong đó nổi bật nhất là nghề mây tre đan xuất khẩu. Từ chỗ chỉ còn vài chục
người làm nghề tại các xã Nghi Phong, Nghi Thái (Nghi Lộc) vào những năm trước năm 2001,
đến nay nghề mây tre đan đã phát triển từ các huyện đồng bằng đến các huyện miền núi, miền
núi cao của tỉnh Nghệ An, tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động có thu nhập, làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói,
giảm nghèo của Đảng. Đã có 38 làng nghề được tỉnh công nhận, hàng chục doanh nghiệp, HTX
chuyên doanh sản phẩm mây tre đan được thành lập tạo nên sinh lực mới cho nghề mây tre đan
của tỉnh Nghệ An, tạo thêm việc làm cho hàng vạ
chế. Để phát triển và hình thành được thương hiệu riêng cho sản phẩm mây tre đan của tỉnh
Nghệ An, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm phát huy được
lợi thế sẵn có, tranh thủ được những thuận lợi của quá trình hội nhập để phát triển hơn nữa nghề
sản xuất các sản phẩm mây tre đan xuất khẩu tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trên
cơ sở thực tế đó đề tài tiến hành nghiên cứu
n tỉnh Nghệ An”. Nghiên cứu về làng nghề và phát triển tiểu thủ công nghiệp, ở nước ta đã có một số công
trình, đề tài nghiên cứu, tiêu biểu như:
+ Đề tài “Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công nghiệp phục vụ CNH, HĐH nông
thôn Việt Nam” do JICA và Bộ NN&PTNT thực hiện tháng 11 năm 2002. Công trình đã điều tra,
nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến làng nghề thủ công của tất cả 61 tỉnh, thành cả nước (số
http://svnckh.com.vn
5
lượng các tỉnh, thành theo năm 2001) chuẩn bị quy hoạch tổng thể và nêu các kiến nghị cụ thể,
đề xuất các chương trình hành động để phát triển ngành nghề nông thôn.
http://svnckh.com.vn
6
số nghề ở một số địa phương, quy trình sản xuất, thực trạng một số nghề, sự phản ánh của văn
học dân gian đối với nghề.
+ Đề tài: Điều tra khảo sát làng nghề truyền thống và tìm giải pháp khôi phục phát triển
(2001) do Sở Công nghiệp Nghệ An thực hiện.
+ Đề án “ Phát triển tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2001 – 2005 có tính đến năm 2010 (2001) do Hội đồng Liên minh HTX và Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Nghệ An thực hiện.
Như vậy, trong những năm gần đây chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống
nghiên cứu một cách khoa học về một lĩnh vực sản xuất của một loại làng nghề cụ thể nào, đặc
biệt là làng nghề sản xuất các sản phẩm mây tre đan xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Vì
vậy, đề tài này nghiên cứu, nhằm tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận về làng nghề, và thực
trạng năng lực cạnh tranh trong sản xuất sản phẩm mây tre đan xuất khẩu trong các làng nghề
mây tre đan trên địa bàn tỉnh Nghệ An; với mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh trong sản xuất sản phẩm mây tre đan xuất khẩu ở các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Nghệ An trong thời gian đến. a/ Đối tượng nghiên cứu
-
.
b/ Phạm vi nghiên cứu
Sản xuất các sản phẩm mây tre đan trong các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai
đoạn 2005 – 2009. -
I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÀNG NGHỀ
http://svnckh.com.vn
8
1. Quan niệm và tiêu chí về làng nghề
* Quan niệm về làng nghề
Từ trước đến nay có nhiều quan niệm về làng nghề. Có quan niệm cho rằng: làng nghề là
nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều làm nghề và lấy nó làm nghề sinh sống chủ yếu. Với
quan niệm này thì làng nghề hiện không có nhiều. Có quan niệm cho rằng: làng nghề là làng có
làm nghề thủ công nhưng không nhất thiết tất cả dân làng đều làm nghề. Với quan niệm này, rất
khó xác định thế nào là làng nghề, bởi vì hầu như ở các làng, xã ở nước ta đều có nghề thủ công
như nghề: rèn, đan lát, nghề mộc, nghề chạm khảm...
GS Trần Quốc Vượng quan niệm: “làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu
nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền
tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông
trùm, có phó cả,... cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định
“sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và
sản xuất ra các mặt hàng thủ công [23, tr.27]. Tuy nhiên quan niệm này chưa phù hợp với làng
nghề mới.
Một số nhà nghiên cứu khác lại đưa ra quan niệm làng nghề gắn với tiêu chí cụ thể về lao
động, thu nhập...Từ một số quan niệm cho thấy thuật ngữ làng nghề gồm 2 yếu tố làng và nghề.
Làng là một tổ chức ở nông thôn nước ta, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định
cư và cộng cư của con người, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn
hoá với thiên nhiên,xã hội và bản thân họ. Về cơ bản, cơ cấu làng được biểu hiện dưới hình thức:
- Tổ chức theo khu đất cư trú; theo hình thức này làng được chia thành nhiều xóm. Các
xóm thường cách nhau, mỗi xóm sinh hoạt riêng; xóm phân thành nhiều ngõ, ngõ có một hay
nhiều nhà...
- Tổ chức theo huyết thống, dòng họ. Dòng họ có vị trí quan trọng trong làng; có làng
Về lao động, người ta dùng tỷ lệ lao động (hay số hộ) làm nghề so với tổng số lao động
(hay số hộ) của làng. Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn quy định làng nghề phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt
động ngành nghề nông thôn”...
Về thu nhập: người ta dùng tỷ lệ thu nhập do nghề đưa lại so với thu nhập chung của làng
phải trên 50%
Ngoài ra tuỳ theo nghề cụ thể có thể xem xét thêm một số tiêu chí khác cho phù hợp. Đặc
biệt là đối với các nghề mà pháp luật không khuyến khích, các nghề phải đảm bảo môi trường
theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường.
* Phân loại làng nghề
http://svnckh.com.vn
10
Có nhiều cách phân loại làng nghề khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu; tuy nhiên tập
trung một số loại chủ yếu:
- Theo lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề, người ta chia làng nghề thành làng
nghề truyền thống và làng nghề mới. Đây là cách phân loại phổ biến và hay dùng nhất. Làng
nghề truyền thống xuất hiện có thời gian trên 50 năm, tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn
hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
- Theo số lượng nghề của làng người ta chia làng nghề thành làng một nghề và làng nhiều
nghề
- Theo ngành nghề, người ta chia làng nghề thành làng nghề chế biến lượng thực, làng
nghề gốm sứ, làng nghề rèn, làng nghề mộc, làng nghề dệt, làng nghề ươm tơ... - Các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hoá phong phú, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản
xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
- Các làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tế các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần
2
/ngi. Hu ht cỏc vựng quờ u d tha lao ng, cú ni d tha t 27 40% [18]. Mt
khỏc, quỏ trỡnh CNH din tớch t nụng nghip b thu hi nhiu (bỡnh quõn mi nm c nc mt
khong 50.000 ha t nụng nghip cho cỏc nhu cu phi nụng nghip). Nhng vn trờn dn n
i sng ca nụng dõn nghốo, khong cỏch chờnh lch nụng thụn v thnh th cú xu hng gia
tng. Vỡ vy, vn to vic lm cho lao ng nụng thụn, nụng dõn núi riờng l mi quan tõm
hng u trong chin lc phỏt trin kinh t - xó hi ca nc ta. Phỏt trin lng ngh cũn cú ý
ngha khỏc l gúp phn to ra bỡnh ng cho ph n. Ph n nc ta chim 49% lc lng lao
ng, nhng ch cú 26% l cú cụng vic chớnh trong lnh vc lm cụng n lng. Phỏt trin
ngnh ngh nụng thụn ó thu hỳt c s lng ln ph n vi thu nhp n nh, gúp phn nõng
cao v th ca ph n [13, tr62]
- Phỏt trin lng ngh gúp phn nõng cao i sng vt cht, tinh thn cho nhõn dõn v xõy
dng nụng thụn mi. Gúp phn thu hỳt ngun vn nhn ri v tn dng ngun lc trong nhõn
dõn.
- Lng ngh phỏt trin thỳc y phỏt trin kt cu h tng, thay i b mt nụng thụn; gúp
phn quan trng bo tn v gỡn gi bn sc vn hoỏ dõn tc v phỏt trin du lch.
II. MT S VN C BN V CNH TRANH
1. Năng lực cạnh tranh, ph-ơng pháp và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1. Các quan niệm về năng lực cạnh tranh
Các học thuyết kinh tế thị tr-ờng, dù là tr-ờng phái nào đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất
hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị tr-ờng, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ
bản của cơ chế thị tr-ờng, cạnh tranh là linh hồn sống của thị tr-ờng. Cạnh tranh là một hiện t-ợng kinh
tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
a) Khái niệm cạnh tranh
- Theo Đại từ điển tiếng Việt: Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân và tập tể có
chức năng nh- nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình. Năng lực cạnh tranh là khả năng
giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị tr-ờng tiêu
thụ [25, tr.1172].
- Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu
ngạch [30, tr.13,14].
Nh- vậy cạnh tranh có thể đ-ợc hiểu theo một nghĩa chung nhất đó là sự ganh đua, là
cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị tr-ờng
hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị tr-ờng, thông qua đó mà tiêu thụ
đ-ợc nhiều hàng hoá và thu đ-ợc lợi nhuận cao.
b) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
http://svnckh.com.vn
13
Trong cỏc lng ngh ch yu phỏt trin vn da vo cỏc n v kinh t trong lng ngh;
bờn cnh ú Lng ngh khụng phi l mt t chc phỏp nhõn nờn ỏnh giỏ nng lc cnh
tranh trong sn xut ca cỏc lng ngh mõy tre an chỳng ta c bn thụng qua ỏnh giỏ nng lc
cnh tranh ca cỏc doanh nghip n v kinh t trong lng ngh
Trong các tài liệu hiện nay liên quan đến vấn đề này ch-a có định nghĩa thống nhất về năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên có thể nêu ra một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp nh- sau:
- Khái niệm về năng lực cạnh tranh đ-ợc nêu ra lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm
1980. theo Aldington Report Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản
xuất sản phẩm và dịch vụ với chất l-ợng v-ợt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
trong n-ớc và quốc tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đạt đ-ợc lợi
ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho ng-ời lao động và chủ doanh
nghiệp [33, tr .17].
- Theo Fafchamps cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó
có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị tr-ờng, có nghĩa
là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất l-ợng t-ơng tự nh- sản phẩm của doanh
nghiệp khác, nh-ng với chi phí thấp hơn thì đ-ợc coi là có khả năng cạnh tranh cao [32, tr.24].
- Còn Markasen (1992) lại đưa ra một khái niệm: Một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu
nh- nó có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí do đơn vị của các nhà
cạnh tranh với hiệu quả của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu năng lực cạnh
tranh chỉ là thực lực và lợi thế của bản thân doanh nghiệp thì ch-a đủ bởi vì doanh nghiệp cạnh
tranh có thắng lợi hay không lại bị tác động của rất nhiều nhân tố, trong đó có sự tác động của
ngoại lực, của sự vay m-ợn tạm thời để duy trì vị trí của nó trên thị tr-ờng bằng rất nhiều cách
khác nhau. Trong thực tế có nhiều doanh nghiệp thực lực rất nhỏ nh-ng vẫn duy trì đ-ợc vị trí
của nó trên thị tr-ờng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Do vậy, nếu chỉ hiểu năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế của doanh nghiệp sẽ làm giảm những suy nghĩ sáng
tạo, dám nghĩ dám làm, dám huy động thực lực hoặc những lợi thế của doanh nghiệp khác vào
việc duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thị tr-ờng. Theo quan điểm của bản thân tôi thì hiểu năng
lực cạnh tranh trong sản xuất sản phẩm mây tre đan của các doanh nghiệp trong các làng nghề
mây tre đan thì quan điểm của tỏc gi Trn Su (2006) l phự hp: Nng lc cnh tranh ca
doanh nghip l kh nng doanh nghip to ra c li th cnh tranh, cú kh nng to ra nng
sut v cht lng cao hn i th cnh tranh, chim lnh th phn ln, to ra thu nhp cao v
phỏt trin bn vng [31, tr.27]. Quan niệm này đã phần nào bao quát đ-ợc mục đích và chiến
l-ợc trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp gắn với quá trình phát triển của
làng nghề. Tuy nhiên nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt và quyết liệt của các chủ thể
kinh doanh trên thị tr-ờng thì chỉ có cạnh tranh giữa các cá nhân, các doanh nghiệp và cạnh tranh
giữa các nền kinh tế, thông qua cạnh tranh hàng hoá. Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với
http://svnckh.com.vn
15
nhau, để giành đ-ợc lợi thế về mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm
duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị tr-ờng. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh
nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, đ-ợc gọi là là năng lực cạnh
tranh của chủ thể đó.
1.2. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong các làng nghề
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phạm trù tổng thể thể hiện sức mạnh và -u thế
t-ơng đối của doanh nghiệp so với đối thủ trong cạnh tranh. Doanh nghiệp có thể có lợi thế về mặt
này nh-ng lại có bất lợi ở mặt khác. Do đó, phân tích khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải có quan điểm
vai trò quan trọng trong trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có ý nghĩa quyết định
trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhiệm vụ cơ bản của
phân tích tài chính doanh nghiệp là [35, tr.312,313]:
+ Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn l-u động cho việc dự trữ tài sản l-u
động thực tế của doanh nghiệp
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Phân tích khả năng sinh lời của vốn
+ Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn l-u động
Nh- vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên,
bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh
tranh.
- Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp đ-ợc coi là yếu tố có tính quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp nói chung cũng nh- năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Trình độ
tổ chức, quản lý doanh nghiệp đ-ợc thể hiện ở các nội dung sau [33, tr.33]:
+ Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: đ-ợc đánh giá bằng những kiến thức cần thiết để quản
lý và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại của doanh nghiệp. Trình độ của đội ngũ
này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp
thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật, thị
tr-ờng, ngành hàng...đến kiến thức xã hội, nhân văn. Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý tác động
trực tiếp và toàn diện tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua việc hoạch định và thực
hiện chiến l-ợc, lựa chọn ph-ơng pháp quản lý, tạo động lực trong doanh nghiệp...
+ Trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận. Việc hình thành tổ
http://svnckh.com.vn
17
luôn đ-ợc đặt trong sự so sánh với lợi ích do hàng hóa mang lại [35, tr.74].
- Năng lực Marketing và dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp
http://svnckh.com.vn
18
Là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có thể có đ-ợc
những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị
với những ng-ời khác. Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm,
tăng thanh thế của doanh nghiệp, là nhân tố quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1.3. Ph-ơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Nghiên cứu đ-ợc bắt đầu với việc xác định lng nghề sản xuất có tiềm năng tăng tr-ởng
tốt, đặc biệt là có tiềm năng xuất khẩu cao. Để xác định những ngành có tiềm năng tăng tr-ởng,
tác giả đã sử dụng phân tích tổng hợp số liệu thống kê với tài liệu liên quan của các sở, ban,
ngành, kết hợp với ph-ơng pháp ma trận Michael Porter. Đây là ph-ơng pháp do M. Porter đ-a ra
năm 1970 trong tình huống một doanh nghiệp cần cân nhắc hai loại giải pháp cạnh tranh. Một
mặt có thể lựa chọn quy mô sản xuất lớn hoặc nhỏ; một mặt có thể lựa chọn mức độ công nghệ
sản xuất cao (tạo ra sản phẩm có chất l-ợng tốt hơn các đối thủ ở các tính cá biệt cao của sản
phẩm) hoặc mức độ công nghệ vừa phải tạo ra sản phẩm t-ơng đ-ơng hoặc nhỉnh hơn một chút
nh-ng có giá thành hạ hơn hẳn so với đối thủ.
Sơ đồ 1.1: Ma trận Porter
Chất l-ợng
sản phẩm
Quy mô
sản xuất
Vừa phải (giá hạ) Cao (Tính cá biệt)
Lớn
có tính cạnh tranh quốc tế.
Thứ t-, là chiến l-ợc của doanh nghiệp dân doanh và đặc điểm cạnh tranh trong ngành.
Theo lý thuyết về chuyên môn hoá theo địa lý thì một địa ph-ơng sẽ thu đ-ợc lợi thế về
hiệu quả kinh tế theo quy mô khi có mức độ tập trung sản xuất trong một ngành cao hơn so với
mức độ tập trung ngành của địa ph-ơng khác. Mức độ tập trung sản xuất cao tại một địa ph-ơng
sẽ kích thích chuyên môn hoá trong việc cung cấp các đầu vào, cải tiến và đổi mới công nghệ dựa
trên các mối liên hệ gần gũi về mặt địa lý giữa các doanh nghiệp trong ngành và các doanh
nghiệp cung cấp đầu vào. Ngành chiếm tỷ trọng lao động lớn tại địa ph-ơng và có tốc độ tăng
tr-ởng cao về thu hút lao động là ngành tạo ra thu nhập và việc làm chính cho địa ph-ơng.
Dựa trên ph-ơng pháp tiếp cận trên, đề tài đã lựa chọn ngành sản xuất các sản
phẩm mây tre đan xuất khẩu trong các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Thứ nhất, ngành công nghiệp có mức độ đóng góp GDP cao trong những năm gần đây của
lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp nông thôn.
Thứ hai, ngành sản xuất đầu ra phục vụ chủ yếu cho tiêu dùng ngoại tỉnh và xuất khẩu
Thứ ba, ngành đã phát triển t-ơng đối ổn định trong một thời gian dài
Thứ t-, ngành có lợi thế cạnh tranh hay nói cách khác là ngành phát huy đ-ợc các thế mạnh của tỉnh
về các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh.
2.
kinh t th trng:
Phỏt trin lng ngh chu nh hng ca nhiu yu t, sau õy l mt s nhõn t c bn:
2.1. Nhu cu ca th trng
Nhu cu th trng l nhõn t ch yu tỏc ng n s hỡnh thnh, tn ti v phỏt trin
http://svnckh.com.vn
20
của làng nghề, bởi vì sản phẩm làng nghề là hàng hoá do đó phải có được thị trường chấp nhận
mới tiêu thụ được. Trước hết, nhu cầu thị trường làm xuất hiện nghề và từ đó dần dần hình thành
nên làng nghề. Vì thế, nhu cầu thị trường thay đổi yêu cầu sản phẩm làng nghề phải thay đổi theo
để phù hợp; điều này buộc các làng nghề phải thay đổi chất lượng sản phẩm và phương thức kinh
dụng các thiết bị, máy móc trong sản xuất và phục vụ đời sống. Hệ thống thông tin liên lạc tạo
điều kiện cho các làng nghề trao đổi, quảng bá sản phẩm trong nước và quốc tế. Đặc biệt, ngày
nay trong nền kinh tế thị trường, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì sự phát triển của hệ
thống thông tin ngày càng lớn, đóng vai trò quan trọng để nắm bắt được nhu cầu của thị trường,
để giao dịch, buôn bán... Ngoài ra hệ thống xử lý nước thải, y tế, giáo dục... tạo điều kiện cho
làng nghề phát triển.
2.5. Truyền thống làm nghề
Mỗi làng nghề truyền thống đều có những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen nghề nghiệp,
bí quyết riêng trong sản xuất kinh doanh. Những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen, bí quyết nghề
nghiệp tạo nên nét độc đáo riêng của từng làng nghề và nằm trong tay các nghệ nhân, thợ giỏi
được truyền từ đời này sang đời khác để lưu giữ và phát triền nghề truyền thống tại địa phương.
Những yếu tố truyền thống giúp cho sản phẩm làng nghề có tính độc đáo, mang đặc trưng riêng
của từng làng nghề; do đó nó là nhân tố có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sản
phẩm của làng nghề. Trong thực tế phát triển nghề hiện nay, đội ngũ nghệ nhân đóng vai trò
quan trọng trong việc truyền nghề lại cho thế hệ sau. Tuy nhiên, nhân tố này lại cản trở việc phát
triển nghề sang các địa phương khác, hạn chế việc mở mang phát triển làng nghề.
2.6. Nguôn lực cho phát triển sản xuất
Trong bất kỳ quá trình sản xuất, kinh doanh nào, vốn là yếu tố không thể thiếu được. Có
vốn thì làng nghề mới có điều kiện để đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ để nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm, có điều kiện đào tạo nâng cao kỹ năng của người lao động, quảng
cáo sản phẩm, xây dựng thương hiệu... Thông thường, vốn của các hộ sản xuất ở các làng nghề
chủ yếu là vốn tự có do chính các hộ tự tích luỹ, hoặc vay mượn bạn bè, anh em. Do đó, lượng
vốn thường nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất, đặc biệt là mở rộng thị trường, nâng cao
khả năng cạnh tranh của sản phẩm làng nghề. Ngày nay, nhờ những chủ trương của Đảng và Nhà
nước, các cơ chế chính sách về tài chính, tín dụng đã có nhiều thay đổi, tạo điều kiện cho các cơ
sở, các hộ sản xuất trong làng nghề vay vốn tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển sản xuất -
kinh doanh.
2.7. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây là yếu tố quan trọng, không chỉ để làng nghề phát triển mà còn để làng nghề phát
Chƣơng 2
–Lµ mét tØnh thuéc B¾c Trung Bé, phÝa B¾c gi¸p tØnh Thanh Ho¸ víi ®-êng biªn giíi dµi
http://svnckh.com.vn
23
96,13 km, phía Nam giáp tỉnh Hà Tỉnh với đ-ờng biên giới dài 92,6km, phía Tây giáp với n-ớc
CHDCND Lào với đ-ờng biên giới dài 419 km, phía đông giáp biển đông với bờ biển dài 82 km.
Nghệ An là một tỉnh có điều kiện địa lý đa dạng, bao gồm cả vùng đồng bằng,
vùng núi và vùng biển. Diện tích 16.487 km
2
, dân số 3.030.946 ng-ời (theo kết quả
điều tra năm 2009). Ngoi dân tộc kinh chiếm đa số 89%, còn có các dân tộc thiểu
số như: Khơ Mú, Sán Dìu, Thái, H Mông, ơ Đu,... chủ yếu sinh sống tại các vùng
miền núi của tỉnh; phân bổ ở 1 TP Vinh, 2 TX (Cửa lò, Thái Hoà) và 17 huyện với
474 xã/ph-ờng, thị trấn. Sự đa dạng về dân tộc này, làm cho sự phát triển của ngành
nghề truyền thống nói chung và ngành nghề, sản phẩm mây tre đan cũng đa dạng
đều. Vì thế, mùa m-a th-ờng gây ngập úng và mùa khô hanh th-ờng hay hạn hán
làm cho đời sống và sản xuất nông nghiệp th-ờng gặp nhiều khó khăn; chính vì vậy
việc khôi phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống là hết sức phù
hợp với đặc điểm về thời tiết và khí hậu trên địa bàn tỉnh Nghệ An, và điều kiện
thời tiết khí hậu này phù hợp để phát triển nguồn nguyên liệu cho sản xuất các sản
phẩm mây tre đan nh-: lùng, mây, nứa, mét....
4. Tài nguyên khoáng sản
Nghệ An là một tỉnh có tiềm năng rất lớn về khoáng sản nh-ng ch-a đ-ợc đầu t- khai
thác đúng mức. Nguồn khoáng sản ở Nghệ An đa dạng và phong phú. Có đủ loại khoáng sản quý
hiếm nh-: vàng, đá quý đến các loại nh- thiếc, bô - xít, phốt - pho ... và các loại khoáng sản làm
vật liệu xây dựng nh- đá vôi, đá xây dựng, cát, sỏi... và một trữ l-ợng lớn nguyên liệu cho ngành
nghề sản xuất các sản phẩm mây tre đan xuất khẩu cho các làng nghề: hiện tại tổng trữ l-ợng gỗ
hiện còn khoảng 52 triệu m
3
, trong đó có tới 42,5 vạn m
3
gỗ pơ-mu; trữ l-ợng lùng, tre, nữa, mét
khoảng trên 1tỷ cây tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi và núi cao: Anh Sơn, Con Cuông,
Quỳ Châu, Quế Phong
5.Vờ kinh tờ
Giai đoạn 2005 2009, kinh tế Nghệ An tiếp tục có những b-ớc phát triển mới và toàn
diện. Tốc độ tăng tr-ởng t-ơng đối ổn định và luôn đạt đ-ợc mức tăng tr-ởng bình quân cao hơn
tốc độ tăng tr-ởng kinh tế của cả n-ớc. Tốc độ tăng tr-ởng gdp bình quân năm thời kỳ 2005
2009 đạt trên 10,3% năm. gdp bình quân đầu ng-ời năm 2009 trong tỉnh tính theo giá hiện hành
là 10,5 triệu đồng.
Biểu1: gdp và tốc độ tăng tr-ởng thời kỳ 2005 2009
ĐVT: tỷ đồng
tt Chỉ tiêu tổng hợp 2005 2007 2008 2009
http://svnckh.com.vn
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 5 năm tăng bình quân 30,26%. Kim
ngạch xuất khẩu tuy còn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng của tỉnh, song chất l-ợng hàng xuất
khẩu từng b-ớc đ-ợc nâng lên. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá, nhất là các mặt hàng chủ
lực nh-: khoáng sản, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm may mặc... Các doanh nghiệp thuộc tất cả các
thành phần kinh tế đều chú trọng việc tìm kiếm thị tr-ờng mới. Đ-a tổng kim ngạch xuất khẩu 5
năm đạt 398 triệu USD.
Các lĩnh vực khác nh-: du lịch, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, b-u chính - viễn thông,
vận tải... đều có b-ớc phát triển khá. Ngành du lịch đ-ợc tập trung đầu t-, nhiều công trình đ-ợc