THỰC TRẠNG
Quan hệ thương mại Việt Nam – EU không ngừng phát triển cùng với tiến trình hợp tác
của phía EU và đà lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam do chính sách” Đổi mới” mang lại.
Hiện nay EU là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Quy mô thương mại
ngày càng được mở rộng. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU
phát triển mạnh và có nhiều triển vọng.Việt Nam có 15 thị trường xuất khẩu trong khối EU
kể từ năm 1995, khi EU mở rộng thành 15 nước thì tất cả 15 nước thành viên đều có mối
quan hệ buôn bán với Việt Nam tuy ở mức độ khác nhau.
2.1. Sơ lược về dệt may Việt Nam:
Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường,
nước ta chọn dệt may làm ngành kinh tế có tính đột phá.
Có thể rút ra nhận xét này từ ngành dệt may của Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ,
Bănglađét, Inđônêxia, Cămpuchia… Dệt may cũng trở thành một ngành kinh tế lớn của
Việt Nam trong quá trình phát triển.
Từ năm 2002, ngành Dệt may Việt Nam có tăng trưởng đột phá mở đầu cho một thời kỳ
tăng trưởng mạnh mẽ cả về kim ngạch lẫn tỷ trọng trong xuất khẩu chung của nền kinh tế.
Năm 2002, xuất khẩu dệt may đạt trên 2,7 tỷ USD và chiếm tỷ trọng trên 16% tổng kim
ngạch xuất khẩu chung của nền kinh tế.
Chỉ 5 năm sau, năm 2007, xuất khẩu dệt may đạt 7,8 tỷ USD. Đây cũng là năm đầu Việt
Nam gia nhập WTO, các rào cản thương mại như hạn ngạch dệt may vào thị trường Mỹ
được dỡ bỏ.
Ngay sau đó, năm 2008, mặc dù kinh tế Việt Nam và thế giới chứng kiến những biến
động mạnh mẽ, từ lạm phát những tháng đầu năm đến giảm phát cuối năm, nhưng hết năm,
kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn đạt con số kỷ lục 9,2 tỷ USD, đưa Việt Nam
đứng vào Top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới.
Phải nói rằng, ngành dệt may Việt Nam là ngành được Chính phủ rất quan tâm. Điều
này không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao, tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu mà quan
trong hơn cả là đã tạo ra trên 2 triệu chỗ làm với 6 triệu người ăn theo. Những đóng góp cho
xã hội đó đã nâng cao vị thế của ngành dệt may trong nền kinh tế đất nước.
Đến nay, ngành dệt may Việt Nam khá phát triển, trang bị được đổi mới và hiện đại hóa
tới 90%. Lực lượng lao động trong ngành khá dồi dào, có kỹ năng và tay nghề tốt, có chi
vẫn còn nhiều hạn chế.
2.3. Việt Nam gia nhập WTO và những rủi ro trong thay đổi pháp lí:
2.3.1 WTO bãi bỏ hạn ngạch cho các nước thành viên
Kể từ 01/01/2005, hàng dệt may xuất khẩu từ một nước thành viên WTO sang một nước
thành viên khác sẽ không còn chịu hạn ngạch nữa. Như vậy, với việc gia nhập WTO, Việt
Nam không còn gặp phải vấn đề hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may nữa. Điều này giúp
Việt Nam có nền tảng cạnh tranh công bằng hơn, ít nhất là về mặt pháp lý, với các nước sản
xuất hàng dệt may khác như Ấn Độ, Băng-la-đét, Trung Quốc, v.v.
Vừa rồi năm 2008, EU bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc và áp dụng một hệ
thống giám sát “kiểm tra kép” để theo dõi việc cấp phép xuất khẩu hàng dệt may tại Trung
Quốc và việc nhập khẩu mặt hàng này vào EU. So với trước đây, rõ ràng từ năm 2008 xuất
khẩu của Trung Quốc sang EU sẽ thuận lợi hơn. Và như thế, các nước xuất khẩu hàng dệt
may sẽ không dễ dàng nếu muốn tăng thị phần tại EU, bởi hàng dệt may của các nước trong
đó có Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn với hàng dệt may Trung Quốc vốn có năng
lực cạnh tranh lớn do chủ động được nguyên phụ liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại
phẩm cấp hàng hoá.
2.3.2 Hàng rào bảo hộ dệt may trong nước không còn
Nếu như hiện nay, thuế nhập khẩu hàng may mặc vào Việt Nam là 50%, thuế nhập khẩu
vải là 40%, thuế nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện đúng
cam kết theo Hiệp định Dệt may (với mức giảm thuế lớn, ví dụ thuế suất đối với vải giảm
từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵn giảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ 2% xuống
5%). Do vậy vải Trung Quốc sẽ tràn vào nước ta vì lúc nước sẽ phải cạnh tranh với vải
Trung Quốc nhập khẩu.
Bảng sau thể hiện mức thuế nhập khẩu của Việt Nam đối với các sản phẩm dệt may
phân loại theo Chương HS. Theo đó, hầu hết các mức trần thuế suất sẽ bắt đầu giảm ngay từ
khi Việt Nam gia nhập WTO, và không bị cắt giảm theo lộ trình thêm nữa. Điều này được
thể hiện qua mức trần thuế suất khi gia nhập và trần thuế suất cuối cùng là khá giống nhau.
Chỉ có 5 dòng thuế vẫn tiếp tục được cắt giảm thêm là 59112000 (từ 10% xuống 8% vào
năm 2009), 59119010 (từ 10% xuống 5% vào năm 2010), 59119090 (từ 10% xuống 5% vào
năm 2010), 63079010 (từ 15% xuống 10% vào năm 2009), 63079020 (từ 15% xuống 10%
hơn 0 trong giai đoạn 2007-2020.
Bảng: Tỷ lệ bảo hộ thực tế của các ngành dệt may (%)
2006 2007 2008 2009 2010 2015 2020
Dệt may 124,71 34,06 34,74 35,28 35,61 33,31 28,59
Sợi 4,00 -4,97 -4,46 -4,06 -3,81 -3,10 -2,66
Quần áo 135,70 58,02 58,44 57,72 57,48 58,26 57,83
Thảm dệt 56,00 25,02 25,22 25,38 25,47 19,81 20,32
Sản phẩm thêu ren (ngoại trừ thảm) 62,33 17,44 17,69 17,90 18,05 16,03 16,31
Nguồn: Phạm Văn Hà (2007).
2.3.3 Quy định về xuất xứ của hàng hóa
Quy định về xuất xứ của hàng hóa cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập thị
trường của các sản phẩm dệt may. Các quy định này liên quan đến các tiêu chí được sử
dụng nhằm xác định xem sản phẩm được sản xuất ở đâu. Đây là một phần quan trọng trong
quy định thương mại vì nhiều chính sách có phân biệt giữa các nước xuất khẩu (liên quan
đến hạn ngạch, thuế suất ưu đãi, chống bán phá giá, v.v.), trong khi quá trình toàn cầu hóa
đang khiến các sản phẩm được sản xuất qua các công đoạn ở nhiều nước khác nhau trước
khi đến với người tiêu dùng cuối cùng.
Theo Hiệp định về Quy định xuất xứ, các thành viên WTO phải bảo đảm các quy định
xuất xứ được ban hành và thực thi một cách minh bạch, mà không có tác dụng hạn chế, bóp
méo, hay gián đoạn đối với thương mại quốc tế, và được quản lý một cách thống nhất, đầy
đủ, và hợp lý. Về dài hạn, Hiệp định hướng tới sự hài hòa hóa các quy định về xuất xứ của
các nước thành viên WTO, ngoại trừ các quy định trong một số hiệp định ưu đãi thương
mại (như hiệp định thương mại tự do). Tất cả các quốc gia đều thừa nhận rằng việc hài hòa
hóa các quy định này sẽ góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế. Các quy định về xuất xứ
được sử dụng nhằm: thực hiện các biện pháp và công cụ chính sách thương mại như thuế
chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ, v.v.; xác định xem liệu sản phẩm nhập khẩu sẽ nhận
được ưu đãi tối huệ quốc hay chỉ là ưu đãi thương mại; thống kê thương mại; vận dụng các
quy định về nhãn mác; và phục vụ cho mua sắm chính phủ. Tuy vậy, các quy định này cũng
có thể được vận dụng thiếu hợp lý với mục đích bảo hộ. Chính vì vậy, Hiệp định về xuất xứ
hàng hóa có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngành dệt may.
giao nhận vận chuyển. Điều này đã giúp DN đảm bảo được thời hạn giao hàng cho khách
hàng nước ngoài, công nhân không phải nghỉ chờ việc, chờ nguyên phụ liệu về nhà máy.
Đối với các lô hàng hoá phải kiểm tra, DN làm thủ tục kiểm hoá và nhập/xuất hàng tại Cảng
cũng rất nhanh và thuận tiện, chỉ trong vòng 4 giờ làm việc đã được thông quan hàng hoá.
Thế nhưng, kể từ ngày 20/4/2009, khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 79/2009/TT-
BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, nhập khẩu
và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thì tình hình lại khác. Quy định tại mục 6 ,
khoản C của điều 57 của Thông tư số 79: Hàng hoá của DN bắt buộc phải làm thủ tục niêm
phong chuyển tiếp về cửa khẩu mở tờ khai hoặc kho riêng (kể cả hàng hoá thuộc diện miễn
kiểm tra thực tế), hải quan cửa khẩu ghi rõ số niêm phong và tình trạng hàng hoá vào biên
bản bàn giao, niêm phong hồ sơ và giao cho chủ hàng chuyển cho chi cục hải quan ngoài
cửa khẩu.
Vì thế, khi hàng về đến địa điểm đăng ký trong đơn chuyển cửa khẩu, DN nộp hồ sơ đã
được hải quan cửa khẩu niêm phong cho chi cục hải quan ngoài cửa khẩu để làm tiếp thủ
tục thông quan lô hàng. "Chúng tôi hiểu theo quy định hiện hành, việc giám sát các lô hàng
phải kiểm tra là việc bắt buộc" - ông Trí cho biết. Tuy nhiên, theo ông Trí đối với các lô
hàng thuộc diện miễn kiểm tra thực tế hàng hoá nếu áp dụng phương pháp giám sát như trên
thì nó thực sự không có ý nghĩa ưu tiên gì đối với DN chấp hành tốt pháp luật (không
khuyến khích DN chấp hành tốt pháp luật trong hoạt động xuất nhập khẩu), đi ngược lại chủ
trương đổi mới và hiện đại hoá ngành Hải quan để đi đến thông quan điện tử, không tạo nên
sự khác biệt giữa hàng hoá phải kiểm tra và miễn kiểm tra. Hơn nữa việc niêm phong/kẹp
chì ở của khẩu nhập sẽ gây tốn kém, chi phí vận chuyển vòng vèo do không cùng tuyến
đường, thời gian lưu xe, lưu container chờ thông quan tại Hải quan ngoài cửa khẩu, nếu DN
muốn lấy hàng ngoài giờ lại phải đăng ký, làm các thủ tục để di chuyển hàng hoá đến địa
điểm kiểm tra ngoài cửa khẩu.
Theo ông Trí, hiện tại rất nhiều lô hàng của DN đang ứ đọng ở cảng do hải quan cửa
khẩu và ngoài cửa khẩu không thống nhất trong việc áp dụng Thông tư 79. Hàng hoá nhập
khẩu trong diện miễn kiểm tra không được đưa ngay về nơi sản xuất mà vẫn phải chịu sự
giám sát của hải quan cửa khẩu và ngoài cửa khẩu. Do vậy , chi phí cho 1 lô hàng nhập tăng
gấp 2-3 lần do vận chuyển vòng vèo chờ thông quan, chi phí lưu container, lưu xe , bến
Polybromobiphenyles (PBB).
• Sử dụng kim loại Nikel trong trang trí sản phẩm may mặc: Anh đã ban hành luật về
giới hạn lượng nikel được sử dụng trong sản phẩm có tiếp xúc trực tiếp với da
(những dụng cụ nhọn như hoa tai và những sản phẩm có tiếp xúc trực tiếp với da
khác).
• Luật của Anh: liên quan đến vật liệu gỗ dùng để đóng gói (những sinh vật có hại như
vi khuẩn, côn trùng, ve, nấm...):
• Luật của Anh về việc giảm tác động của các chất thải từ đóng gói: Anh đã ban hành
chỉ thị 94/62/EC về việc đóng gói và chất thải đóng gói ở cấp độ quốc gia. Khía cạnh
quan trọng nhất của luật này đối với các nhà sản xuất ở các nước không thuộc khối
EU là việc không được sử dụng vật liệu đóng gói có hàm lượng kim loại nặng.
Đóng gói, nhãn hiệu và ghi nhãn
Cần phải quan tâm đến bao bì đóng gói sản phẩm khi xuất khẩu sang EU. Các doanh
nghiệp phải nghiên cứu kỹ vấn đề bao bì để bảo vệ hàng hoá trong quá trình vận chuyển qua
nhiều quốc gia. Các sản phẩm phải được bảo vệ chống lại thời tiết, những thay đổi nhiệt độ,
xử lý không cẩn thận và ăn cắp. Một số nhà nhập khẩu có những nhu cầu đặc biệt liên quan
đến bao bì. Vì những lý do về môi trường, bao bì đóng gói từ những vật liệu như PVC… ít
thông dụng đối với người tiêu dùng và trong vài trường hợp, chính phủ có thể cấm sử dụng
loại vật liệu này. Các nhà xuất khẩu từ những quốc gia đang phát triển cần phải thảo luận về
vấn đề này với các khách hàng tiềm năng của mình và nên dự trù trước các chi phí đóng gói
đặc biệt trong giá bán sỉ nếu được yêu cầu.
Kích thước sử dụng để ghi : 3 số đo cơ bản là chiều dài, vòng ngực, vòng hông.
Ghi nhãn: Việc ghi nhãn phải đảm bảo thông tin cho người tiêu dùng về tương lai và
sản phẩm thực sự mua được. Thông tin cung cấp được ghi trên nhãn từ thành phần sợi vải
chính tạo nên sản phẩm cho đến thông tin an toàn tiêu dùng. Thông thường có 2 phương
pháp ghi:
- Các yêu cầu bắt buộc như xuất xứ, thành phần sợi, khả năng cháy;
- Các yêu cầu tự nguyện như nhãn hiệu quan tâm/hướng dẫn giặt tẩy và kích cỡ của
nhãn.
Chương trình nhãn hiệu quan tâm tự nguyện được sử dụng trên nhiều quốc gia tại EU.
định châu Âu) cho phép các nhà sản xuất may mặc sử dụng sợi phi gốc ở một ngưỡng cho
phép, thường dựa trên giá cả sản phẩm cũ. Trong khi ví dụ dưới đây được xem xét như một
minh họa cho RoO GSP của châu Âu, những yêu cầu tương tự có thể được tìm thấy ở hầu
hết các hiệp định thương mại châu Âu được ưu tiên khác.
2.4.3. Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000
Tổng quan về SA 8000.
Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 (Social Acountability 8000) được đưa ra lần đầu
tiên vào tháng 10/1997 do Tổ chức Quốc tế về Trách nhiệm xã hội (Social Acountability
International - SAI) xây dựng và ban hành dựa trên nền tảng các công ước và khuyến nghị
của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) cũng như các công ước về quyền con người. Ngày
123/12/2001, SAI đã công bố phiên bản mới của SA 8000 (SA8000:2001) để thay thế SA
8000: 1997. Những điểm chính của SA 8000 là: Không sử dụng lao động trẻ em; không
cưỡng bức lao động; đảm bảo sức khoẻ, vệ sinh an toàn lao động; đảm bảo quyền tự do
công đoàn, thoả ước tập thể; không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc,thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo, không được áp dụng các hình phạt về thể xác, lạm dụng lời nói; đảm
bảo thời gian làm việc không quá 60giờ/tuần, trong đó, giờ làm thêm là tự nguyện, trong
chu kỳ 7 ngày, người lao động được nghỉ trọn một ngày; đảm bảo tiền lương thu nhập,
không áp dụng kỷ luật bằng cách cúp lương; có hệ thống quản lý, hình thành cơ chế thực thi
kiểm soát sự đáp ứng các đòi hỏi trong suốt quá trình.
Tình hình thực hiện SA 8000 ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê, hiện nay cả nước có 551 đơn vị đạt tiêu chuẩn quản lý chất
lượng ISO 9000, 21 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 140000, nhưng
mới chỉ có rất ít doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quản lý trách nhiệm xã hội và điều kiện lao
động SA 8000. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, vì hiện tiêu chuẩn SA 8000 là một trong
3 tiêu chuẩn (ISO 9000, ISO 140000 và SA 8000) được xem là bắt buộc để các doanh
nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá (đặc biệt là hàng dệt - may) sang thị trường Mỹ và
Châu Âu.
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam
có chính sách với người lao động tốt hơn so với yêu cầu của SA 8000. Thu nhập của người
lao động tại nhiều doanh nghiệp còn cao hơn mức tối thiểu không chỉ ở Việt Nam mà còn ở
dụng và ghi nhớ là chú trọng bảo vệ uy tín và giá trị của các thương hiệu nhằm giữ vững thế
cạnh tranh. Trên các thị trường lớn như Mỹ, Canađa và EU, người tiêu dùng không chỉ quan
tâm đến giá cả, chất lượng, mẫu mã, bao bì... mà ngày càng quan tâm hơn đến điều kiện làm
việc của công nhân tạo ra các sản phẩm này và luôn bị lôi kéo vào các chiến dịch quảng cáo,
nhằm bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em. Do vậy, SA 8000 được xem là tiêu chuẩn “khẳng
định giá trị đạo đức” của sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam cần thiết phải trang bị cho
“hành trang” hội nhập của mình.
2.5. Kết luận rút ra từ nghiên cứu thị trường hàng dệt may EU:
2.5.1 Điểm mạnh:
2 EU là thị trường lớn về nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
E Năng lực sản xuất của ngành rất lớn: nhiều doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công vào
các thị trường lớn mang tính cạnh tranh cao của thế giới, trong đó có EU.
c Trong 3 năm qua, nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế đầu tư đổi mới công
nghệ trang thiết bị của ngành.
n Nhiều doanh nghiệp ngành dệt sản xuất phụ kiện, tăng cường đầu tư, đáp ứng một
phần nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho ngành.
p Nhân công rẻ, người lao động cần cù khéo léo cũng là thế mạnh của ngành.
2.5..2 Điểm yếu: