LỜI MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ:
_ Hội nhập kinh tế, tăng cường giao thương quốc tế luôn gắn liền với sự gia tăng rủi
ro pháp lý. Không thể loại bỏ hết được các rủi ro nhưng doanh nghiệp hoàn toàn có
thể hạn chế nó bằng chính sự hiểu biết về pháp luật và sự tỉnh táo trong khi thực
hiện mỗi giao dịch thương mại quốc tế.
_ Và đã kinh doanh thì phải biết chấp nhận rủi ro, vấn đề là làm thế nào để lường
trước, giám thiểu và hạn chế đến mức thấp nhất. Một số vụ rủi ro điển hình mà phía
doanh nghiệp Việt Nam thua thiệt gần đây như vụ Công ty Vinafood II năm 1995 đã
phải đền 5 triệu USD do không thực hiện được việc giao gạo cho đối tác nước
ngoài. Hãng hàng không Việt Nam thua kiện luật sư Liberaty và nhiều khả năng sẽ
bị mất 5,2 triệu Euro chỉ vì không dự phiên toà sơ thẩm năm 1995 tại Roma. Công
ty Centrimex thua kiện mất 1,54 triệu USD vì đã từ chối không nhận lô phân bón
Đức... Đây là những bài học mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể rút ra được khi
hoạt động thương mại với đối tác nước ngoài. Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp)
và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam vừa tổ chức hội thảo bàn về những kinh
nghiệm phòng ngừa các rủi ro pháp lý mà doanh nghiệp thường gặp.
Đây cũng là lý do chính mà nhóm chúng tôi chon đề tài: “”, là một bài học đáng
giá cho chúng ta về vấn đề rủi ro pháp lý.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ bài học về rủi ro pháp lý của CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN AN
GIANG chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiểu biết về pháp luật sẽ
có thể giúp cho công ty nói riêng và doanh nghiệp Việt Nam nói chúng hạn chế
được các thiệt hại và ảnh hưởng do rủi ro pháp lý mang lại.
Và từ đó nhóm chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể nâng cao sự hiểu
biết đo cho doanh nghiệp. Mong được sự đóng góp của cô và các bạn.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong bài nghiên cứu này, bên cạnh những rủi ro mà công ty thường xuyên gặp phải
và ở đây chúng tôi chỉ tập trung khai thác khía cạnh các yếu tố rủi ro pháp lý phát
sinh ảnh hưởng đến sự phát triển của CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THỦY
SẢN AN GIANG ( đặc biệt là việc bán phá giá của công ty vào thị trường Hoa Kì )
Thủy sản An Giang được thành lập từ việc cổ phần hóa Công ty Xuất nhập khẩu
Thủy sản An Giang theo quyết định số 792/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
_ Ngày 01/09/2001, Công ty Agifish chính thức hoạt động theo hình thức Công ty
cổ phần và được cấp phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt nam
ngày 8/3/2002.
II. HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CHÍNH:
_ Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty là sản xuất kinh doanh, chế
biến và xuất nhập khẩu thủy hải sản đông lạnh, nông sản thực phẩm và vật tư nông
nghiệp. Công ty AGIFISH là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất của ngành thủy sản
có mô hình sản xuất kinh doanh khép kín từ khâu sản xuất cá giống, phát triển sinh
sản nhân tạo, nuôi cá bè, chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu và chế biến tận
dụng các phụ phẩm của cá tra và cá basa.
_ Công ty AGIFISH được ghi nhận có nhiều thành tích trong việc đầu tư nghiên cứu
sinh sản nhân tạo cá basa, cá tra. Hoạt động này được hợp tác với trường ĐH Cần
Thơ và Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp phục vụ phát triển-
CIRAD (Pháp). Công ty đã cho ra đời thành công mẻ cá basa sinh sản nhân tạo đầu
tiên trên thế giới vào ngày 20/5/1995.
III. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VÀ VỊ THẾ CỦA CÔNG TY:
_ Sản phẩm cá basa, cá tra fillet đông lạnh của AGIFISH được xuất khẩu đi các thị
trường nước ngoài. Các thị trường xuất khẩu chính của Công ty là: Mỹ, Hồng Kông
(Trung Quốc), Châu Âu (EU), và các nước Đông Nam A'-ASEAN.
_ Cơ cấu thị trường xuất khẩu có nhiều thay đổi so với năm 2008 và phân bố khá
đồng đều: Australia 16.23%, Tây Âu 33.30%, Trung Đông 16.10%, Hoa kỳ 9.80%,
Đông Âu và Nga 9.20%, Châu Á 16.89% , Nam Mỹ 5.12%
_ Hiện nay trong cả nước có trên 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra và cá basa đông
lạnh, phần lớn tập trung ở hoạt động trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Công ty AGIFISH hiện là doanh nghiệp đứng đầu về sản lượng và kim ngạch xuất
khẩu cá Tra, cá Basa fillet đông lạnh. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải
sản, AGIFISH nằm trong số những doanh nghiệp hàng đầu . Lợi thế cạnh tranh của
AGIFISH là ổn định được nguồn nguyên liệu đầu vào, có trang thiết bị máy móc
thành cho đến khi cung cấp cá đến nhà máy chế biến.
_ Kiểm soát về bệnh cá, màu cá, kháng sinh, đặc biệt là không còn nhưng lượng
kháng sinh trong cá. Điều này làm cho sản phẩm của cá tra/basa fillet của chúng tôi
tốt cho sức khoẻ, hình dạng tốt cũng như sản phẩm hài hòa, cấu trúc săn chắc. Sau
khi nấu chín, cá không bị rã, co rút và không có mùi bùn.
_ Nhà máy đặt dọc bờ sông MêKông, nên có những điều kiện thuận lợi về việc vận
chuyển cá nguyên liệu từ nhiều nông trại lân cận bằng ghe đục, Điều này giúp cho
cá được vận chuyển vẫn còn tươi sống khi đến nhà máy
_ Nhà máy chế biến có năng suất là 15,000 MTS thành phẩm mỗi năm. Phòng kỹ
thuật và trang thiết bị được lắp đặt theo tiêu chuẩn vệ sinh cao và chất lượng tốt với
các tiêu chuẩn HACCP - GMP - SSOP, ISO-9001:2000 BVQI No.1976898, FDA
No.13799569862, HALAL tạo ra sản phẩm đông lạnh an toàn và hợp vệ sinh.
_ Công ty là thành viên của hiệp hội sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản việt nam
(VASEP).
._ Thương hiệu của Agifish ngày càng được nâng cao. Đầu tư và có giải pháp tiêu
thụ nội địa tốt với sản lượng tiêu thụ và doanh thu nội địa tăng cao. Sản phẩm của
Agifish tiếp tục được bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao, tiêu thụ mạnh trong
mạng lưới các đại lý khắp cả nước, hệ thống siêu thị.
2. KHÓ KHĂN:
_ Suy giảm kinh tế đã tác động mạnh đến tình hình sản xuất kinh doanh của công
ty: Sản lượng xuất khẩu giảm hầu hết tại các thị trường về lượng lẫn giá. Do cơ cấu
xúât khẩu của Agilfish năm 2008 thị trưiờng Nga chiếm 60% thị trường, nên khi
mất thị trường Nga, 6 tháng đầu năm công ty gặp nhiều khó khăn. Trong 6 tháng
cuối năm, nhờ tăng cường công tác thị trường chuyển hướng kip thời sang các thị
trường khác công ty đã giải quyết được phần nào lượng hàng tồn kho
_ Cạnh tranh là tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Hiện nay, đã có hơn
20 doanh nghiệp sản xuất cá tra, cá basa ở khu vực ĐBSCL, nên sức ép cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trong nước hết sức gay gắt. Các nhà xuất khẩu thủy sản nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam có lợi thế về vốn và công nghệ, tình hình doanh nghiệp
trong nước sẽ càng khó khăn hơn.
tinh gọn bộ máy, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
_ Sản xuất: duy trì sản xuất ổn định và kiểm soát chặt chẽ các tiêu chuẩn an toàn vệ
sinh thực phẩm nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm cung ứng cho khách hàng,
cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng như giao hàng đúng tiến độ, chất
lượng sản phẩm cao, đảm bảo chính xác theo đúng hợp đồng. Tiết kiệm các khoản
chi phí để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
_ Tiếp thị: đẩy mạnh tìm kiếm khách hàng tiềm năng ở những thị trường mới và thị
trường chất lượng cao thông qua các hội chợ thủy sản quốc tế, quảng bá thương
hiệu và sản phẩm. Đẩy mạnh xuất khảu hàng sang các thị trường truyền thống của