SKKN sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện hưng nguyên nghệ an - Pdf 64

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục
tiêu, nội dung và phương pháp dạy học gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ
XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung
sống, mà thực chất là một cách tiếp cận kĩ năng sống. Luật giáo dục 2005 đã xác
định: “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân…” (Điều 23-Luật giáo dục).
Trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một số hoạt động
hướng tới việc rèn luyện năng lực cho học sinh như: Tổ chức Chương trình đánh
giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống; tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức
liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn; Đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lý
thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó
cũng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục KNS vào
trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục. Theo đó, nội dung,
phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá đều phải hướng tới năng lực
tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống; coi
trọng rèn luyện kỹ năng sống.
Đối với học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng là lứa tuổi học
sinh đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích
tìm tòi, khám phá song thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thế hệ trẻ còn thiếu kinh
nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động …. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế
và cơ chế thị trường hiện nay thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu
tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt trong hoàn cảnh phải lựa chọn, ra quyết định
đối với những hành vi của mình, phải đương đầu với những khó khăn thách thức,
những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kỹ năng sống, thiếu kỹ năng sống
các em dẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỷ, thực
dụng, dễ bị phát triển lệch lạc vè nhân cách. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ các

nghiệp trong quá trình giảng dạy.
Thực tế từ các trường hiện nay, theo ông Nguyễn Trọng Bé (Sở GD&ĐT Nghệ
An) cho biết “chương trình, nội dung giáo dục KNS hiện nay chủ yếu đang ở dạng
tích hợp, lồng ghép trong một số môn học nên chưa có nhiều thời gian để học sinh
vận dụng vì vậy các nhà trường lúng túng trong việc lựa chọn, tổ chức nhiều mô
hình. Các hoạt động tập thể cơ bản mới đảm bảo về chiều rộng cung cấp thông tin,
lý thuyết nhưng chưa đi vào các tình huống thực tế. Mặc dù có sự chỉ đạo chung từ
Sở GD&ĐT nhưng ở mỗi cơ sở giáo dục lại có những cách làm khác nhau chưa
đồng bộ về mặt hiệu quả và tiến trình” ( Hội thảo về thực trạng và giáo dục KNS
trong trường học, Nghệ An,10/2018).
Bên cạnh đó, một số giáo viên làm công tác giáo dục kỹ năng sống tại nhiều
trường học hiện nay còn hạn chế về năng lực và thiếu về kinh nghiệm tổ chức các
hoạt động, đa số chỉ tập trung vào việc cung cấp lý thuyết cho học sinh về kỹ năng
sống mà chưa đa dạng hóa các hoạt động giúp cho các em trải nghiệm, tự rèn luyện
các kỹ năng sống cho bản thân…
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, bản thân tôi và các đồng chí trong nhóm
chuyên môn đã tiến hành xây dựng một số hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh từ năm học 2017-2018 đến nay và đã thu được một số kết quả khả quan.
Xuất phát từ lí do trên, tôi xin trình bày sáng kiến kinh nghiệm về: “Sử
dụng các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Hưng Nguyên Nghệ An”

2


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Lý luận chung về phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn,
được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng

Yêu cầu của PPDH tích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinh chuẩn
bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan
điểm. Giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình
3


huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của
thầy và hoạt động của trò.
2. Một số phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
năng sống
Trong tổ chức hoạt động giáo dục KNS, phương pháp dạy học tích cực có
tầm quan trọng đặc biệt bởi thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học
đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự
học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác
nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập.
Các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng trong tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống như:
Phương pháp đóng vai Phương
pháp thảo luận nhóm Phương
pháp trò chơi Phương pháp
giải quyết vấn đề
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình…
3. Giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến
học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác,
hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội, giúp cho nhân cách mỗi
học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường
sống. Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến thức và
năng lực cần thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh để họ có thể hoạt động

gáp hơn, làm việc trong hối hả, nghỉ ngơi trong rộn ràng, thần kinh luôn căng thẳng
và đặc biệt chứa đựng nhiều yếu tố khôn lường. Để sống, hội nhập kinh tế quốc tế
và góp phần tích cực cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng tốt đẹp hơn, con người
nói chung và học sinh nói riêng không thể không quan tâm đến việc rèn luyện kĩ
năng sống nhằm thích ứng với mọi biến động phức tạp của hoàn cảnh.
4. Một số KNS giáo dục cho học sinh THPT
Trong trường phổ thông cần giáo dục cho học sinh một số KNS cơ bản như sau:

– Kỹ năng sống về sức khoẻ: Chế độ dinh dưỡng, phòng ngừa bệnh tật và tai nạn,
sức khoẻ sinh sản, tác hại của chất gây nghiện, HIV/AIDS, thư giãn, giải tỏa
stress…
– Kỹ năng sống về môi trường: Phòng tránh thiên tai, chăm sóc và bảo vệ
môi trường sống, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên…
– Kỹ năng sống về bản thân: Kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, xây dựng
nhân cách, ứng phó với căng thẳng xác định giá trị cuộc sống (tôn trọng, hòa bình,
hợp tác, hạnh phúc, chân thật, nhân đạo, tình thương, trách nhiệm, giản dị, khoan
dung, tự do, đoàn kết)… kiên định.
– Kỹ năng sống về nghề nghiệp: Giao tiếp, đặt mục tiêu lắng nghe tích cực, so
sánh, phân tích, tổng hợp, sáng tạo, từ chối ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm
giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, quản lý thời gian, làm việc nhóm, diễn đạt, giải
quyết mâu thuẫn, đàm phán, soạn thảo văn bản, quản trị công việc, tìm kiếm sự hỗ
trợ, thể hiện sự cảm thông tư duy phê phán tìm kiếm và xử lí thông tin
5. Một số khái niêm cơ bản
* Phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt mục đích nhất định. Phương pháp
dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được
tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo ghi rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận

sau đó sẽ thảo luận cùng với học sinh để tìm được ra mấu chốt của vấn đề này và
những thứ liên quan. Nền tảng của phương pháp này là sự sự chủ động tìm tòi,
sáng tạo, tư duy của học sinh, giáo viên hoặc gia sư chỉ là một người gợi mở ra vấn
đề và dẫn dắt học sinh. Nói theo một cách khác, với phương pháp dạy học này giáo
viên sẽ không truyền đạt hết tất cả kiến thức mà mình có cho học sinh mà sẽ chỉ
truyền đạt kiến thức thông qua những dẫn dắt sơ khai để kích thích học sinh tìm
hiểu và khám phá những kiến thức đó. Muốn dạy học theo phương pháp này thì
giáo viên phải là những người thực sự có bản lĩnh, giỏi chuyên môn và có cả sự
nhiệt tình, hoạt động hết công suất trong công tác giảng dạy.
* Tổ chức
Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, xác định
những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các bộ phận
cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất
định để thực hiện nhiệm vụ được giao sao cho chúng đóng góp một cách tích cực
và có hiệu quả vào mục tiêu chung.
* Hoạt động
Mọi hoạt động của con người đều có tính mục đích. Con người hiểu được
mục đích hoạt động của mình, từ đó mới định rõ chức năng, nhiệm vụ, động lực
của hoạt động để đạt hiệu quả trong công việc. K.Marx cho rằng, hoạt động của
6


con người là hoạt động có mục đích, có ý thức; mục đích, ý thức ấy như một quy
luật, quyết định phương thức hoạt động và bắt ý chí con người phụ thuộc vào nó.
K. Marx viết: “Công việc đòi hỏi một sự chú ý bền bỉ, bản thân sự chú ý đó chỉ có
thể là kết quả của một sự căng thẳng thường xuyên của ý chí”. Trong lịch sử của
nhân loại, tính mục đích trong hoạt động và tầm nhìn về lợi ích của hoạt động con
người thể hiện rõ trong nền giáo dục của các dân tộc và quốc gia từ xưa đến nay.
Hoạt động của con người dành cho việc dạy và học luôn được chú trọng và đề cao.
Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.N.Leontiev cho rằng hoạt động “là

động giáo dục KNS bao gồm xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ
năng sống (GDKNS), sắp xếp và bố trí các hoạt động, xác định những hoạt động
phù hợp với từng nhóm, từng đối tượng học sinh. Cách thức này được xác đinh
7


căn cứ vào mục tiêu nội dung GDKNS cách đưa nội dung vào kế hoạch hoạt
đông của nhà trường.
Ðể tổ chức thực hiện GDKNS cần tiến hành nhiều hoạt đông cụ thể và được
đảm bảo bằng nhưng điều kiện nhất định.
Phương thức tổ chức GDKNS trong trường THPT hiện nay không bố trí
thành một môn học riêng bởi KNS phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có
điều kiện có điều kiện phù hợp do đó GDKNS phải thực hiện thông qua từng môn
học và trong các hoạt động giáo dục. Vì vậy, có thể tổ chức thực hiện hoạt động
GDKNS với nhiều hình thức như: Thông qua dạy học các môn học; Thông qua chủ
đề tự chọn; Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Thông qua hoạt động
ngoại khóa; Thông qua hoạt động thăm quan du lịch..

`

8


II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT nói
chung và giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT Thái Lão nói riêng
Qua thực tiễn giảng dạy ở trường THPT Thái Lão, tôi và các đồng nghiệp
nhận thấy những thuận lợi và khó khăn trong giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho
học sinh như sau
1.1. Thuận lợi

sư phạm nhà trường nên chất lượng được tăng lên rõ nét. Bản thân tôi cũng như
một số đồng chí được tham gia lớp tập huấn về giáo dục KNS cho học sinh, tổ
chức được nhiều các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo từng chủ đề nhằm giáo dục
rèn luyện KNS cho HS như tổ chức các hoạt động VHVN-TDTT, các cuộc thi tìm
9


hiểu về ATGT, địa danh lịch sử; các hoạt động trải nghiệm như “Hành trình Đỏ”,
mời chuyên gia về nói chuyện; tổ chức các giờ ngoại khóa ngoài giờ lên lớp tập
trung ngoài trời; thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Bác Hồ…. chúng tôi rút
được nhiều kinh nghiệm hơn trong quá trình giảng dạy, tổ chức các hoạt động. Học
sinh hào hứng, tích cực, chủ động sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ được
giao. Bên cạnh đó, hằng tháng, nhà trường vẫn dành thời lượng trong các tiết sinh
hoạt đầu giờ, sinh hoạt dưới cờ để định hướng, giáo dục KNS cho HS thông qua
hoạt động của Đoàn thanh niên. Mặt khác, học sinh hiện nay có xu hướng thích tìm
tòi, khám phá, mong muốn được tham gia các hoạt động. Giáo viên GDCD tâm
huyết với nghề nghiệp, luôn có ý thức học hỏi trau dồi chuyên môn, các em học
sinh say mê học tập hơn trước, hứng thú hơn trong các giờ học ngoại khóa của bộ
môn.Vì vậy, đã giúp tôi thêm say mê, tìm tòi những phương pháp dạy học tích cực
nhằm giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh không chỉ trong giảng dạy bộ
môn mà trong các giờ học ngoại khóa.
1.2. Khó khăn
Ở các trường THPT hiện nay, việc lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh khá phổ biến nhưng do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải...
chưa phù hợp với tâm sinh lý của HS nên hiệu quả lồng ghép chưa cao, kết quả
mang lại chưa khả quan. cùng với việc lồng ghép giáo dục KNS trong các môn
Giáo dục công dân, Địa lý, Văn học, Sinh học... Thế nhưng, hiệu quả giáo dục
KNS vẫn còn hạn chế. do phải chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung
trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến
thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng xử với xã

các em còn yếu, các hiểu biết về kĩ năng mềm ở các em hầu như chưa được trang
bị tốt.
Đối với việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT
trên địa bàn huyện Hưng Nguyên đã được thực hiện theo quy định của Bộ GD-ĐT.
Việc tổ chức triển khai áp dụng giáo dục KNS cho học sinh được thực hiện thông
qua nhiều nội dung, bằng nhiều hình thức như: Dạy tích hợp trong các môn
GDCD, Văn, Sinh… Giáo dục KNS cho các em thông qua hoạt động NGLL, qua
các hoạt động VHVN-TDTT…
Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện giáo dục KNS trong các Nhà trường còn
gặp nhiều khó khăn như: Nhà trường chưa có phòng tư vấn tâm lý cho học sinh mà
chủ yếu còn tập trung vào vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Cách hình thức và
phương pháp giáo dục KNS nêu trên đã thực hiện theo đúng quy định nhưng tính
thực tiễn chưa cao: Trong quá trình giảng dạy, mặc dù trong giáo án có nội dung
tích hợp KNS cho học sinh nhưng nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến nội dung bài
học mà quên mất phần giáo dục KNS cho học sinh. Mặt khác có nhiều giáo viên
không biết triển khai như thế nào, vào thời điểm nào là hợp lý. Trong một số tiết
ngoại khóa GDCD trước đây chủ yếu còn vận dụng các phương pháp truyền thống
như vấn đáp, thuyết trình, xem một số video và đưa ra kết luận. Nội dung chủ yếu
tập trung vào việc trang bị kiến thức về các loại kỹ năng sống cho học sinh mà
chưa chú trọng vào việc thay đổi các phương pháp truyền thụ, chưa kích thích,
khơi dậy được khả năng tư duy sáng tạo trong học sinh. Việc tổ chức các giờ học
ngoại khóa, hoạt động NGLL ở trường THPT Thái Lão trước đây chủ yếu giao cho
Đoàn thanh niên phụ trách với thời lượng còn ít, nội dung cũng mới chỉ dừng lại ở
việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu như: Cuộc thi “Rung chuông vàng” về bình đẳng
giới, về ATGT…….trong khi đó việc giáo dục KNS cho học sinh là hoạt
động phải được tổ chức thường xuyên mới giúp học sinh nhận diện và thực hành
tốt về kỹ năng sống.
Từ năm học 2017-2018 đến nay, cùng với việc thay đổi nhận thức về vai trò
của công tác giáo dục KNS trong trường học, do yêu cầu đổi mới các phương pháp
dạy học theo hướng phát huy năng lực học sinh, trường THPT Thái Lão đã tổ chức

Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong tổ chức giáo dục KNS cho học sinh,
tôi nhận thấy phương pháp này có nhiều ưu điểm như:
- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử, biết phân tích và
giải quyết vấn đề và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành
trong thực tiễn.
- Tạo điều kiện phát triển tính sáng tạo của học sinh, từ đó gây được sự chú ý
và hứng thú cho học sinh.
- Đóng vai giúp học sinh thực hành những kĩ năng trong môi trường an toàn,
được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực tiễn.
- Đóng vai khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng tích
cực.
- Rèn luyện cho học sinh tính tự tin, mạnh dạn khi đứng trước đông người
* Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong giáo dục KNS người giáo viên cần
phải lưu ý những vấn đề sau:
Sử dụng phương pháp đóng vai trong giáo dục KNS cung cấp cơ hội để học
sinh thực hiện các kỹ năng, kinh nghiệm ứng phó với những tình huống trong cuộc
sống, nâng cao khả năng hiểu và cảm thông với người khác, cơ hội để hiểu rõ hơn
về bản thân mình.

12


Tình huống đóng vai, hoặc vở kịch phải phù hợp với nội dung của kỹ năng
cần được giáo dục cho học sinh. Giáo viên nên khích lệ tất cả học sinh cùng tham
gia nhất là những em học sinh nhút nhát. Tình huống nên mở không cho kịch bản
trước như vậy mới có thể phát huy được tính tích cực và sáng tạo của học sinh
cũng như nắm bắt được thái độ và hành vi ứng xử của các em. Giáo viên phải dành
thời gian hợp lý cho học sinh chuẩn bị phân vai và chuẩn bị lời thoại. Tình huống
đóng vai không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép. Có thể dùng
một số đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của vở kịch hoặc tình huống đóng vai.

Cách thức thực hiện:
+ Giáo viên giao tình huống đóng vai cho các nhóm.
Nhóm 1, 2: Đóng vai về tình huống từ chối lời mời đi chơi
Nhóm 3,4: Đóng vai về tình huống từ chối quan hệ tình cảm
13


Tình huống nhóm 1,2: Đang bận rộn với số bài tập cô giao, A được B mời
đi dự sinh nhật B tối hôm nay. Dù vậy A vẫn cố gắng đến dự sinh nhật B. Bữa tiệc
sinh nhật diễn ra rất vui vẻ. Đến 9 giờ tối mọi người cũng đã về hết. Chợt B nảy ra
ý định rủ A đi sàn nhảy. A không đồng ý vì chỉ xin mẹ đi đến 9 giờ nhưng lại sợ
bạn giận.
Hãy đóng vai tình huống và thể hiện từ chối lời mời đi chơi của nhân vật A
trong tình huống trên.
Tình huống nhóm 3,4: Quen nhau được một thời gian, C học sinh lớp 11
ngỏ ý muốn thiết lập quan hệ tình cảm với D học sinh lớp 10, nhưng D không đồng
ý. Tuy vậy C rất vui vẻ và tình bạn của C và D ngày càng bền chặt hơn.
Hãy đóng vai tình huống và thể hiện lời từ chối quan hệ tình cảm với nhân
vật C
+ Thời gian chuẩn bị 3 phút.
+ Học sinh tiến hành đóng vai trong 5 phút.
+ Cả lớp cùng thảo luận, nhận xét về khả năng ứng xử, lời từ chối của các thành
viên trong nhóm.
+ Giáo viên kết luận, nhận xét về các cách ứng xử, lời từ chối của học sinh, kịp
thời uốn nắn những cách ứng xử không phù hợp để các em biết áp dụng vào cuộc
sống, đồng thời biểu dương tinh thần đóng vai của học sinh.
Đây là tình huống gần gũi với các em trong cuộc sống, ngắn gọn, rất dễ thực
hiện. Thông qua tình huống, các em sẽ phát huy được tính tích cực, sáng tạo của
mình trong thể hiện .....Từ đó các em rút ra được những yêu cầu cơ bản của kỹ
năng từ chối như: Từ chối rất khó, nhất là từ chối những người mà bạn yêu mến,

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn
đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua
một trò chơi nào đó.
Trong tổ chức giáo dục KNS có nhiều trò chơi có thể áp dụng với nhiều hình thức
chơi khác nhau như: trò chơi đối mặt, trò chơi tiếp sức, trò chơi đuổi hình bắt chữ, trò
chơi chiếc nón kỳ diệu, trò chơi tập làm phóng viên, tuyên truyền viên.....Tùy vào

đặc điểm, nội dung của từng bài học, từng hoạt động, địa điểm giáo viên có thể
thiết kế các loại trò chơi cho phù hợp với nội dung bài học, để kích thích tư duy
của học sinh, giải tỏa những căng thẳng, mệt mỏi trong học tập nhưng không làm
mất thời gian của giờ học.
Trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục KNS tôi thường sử dụng các trò
chơi như: trò chơi tiếp sức, trò chơi đối mặt, trò chơi đuổi hình bắt chữ, trò chơi tập
làm phóng viên, trò chơi tuyên truyền viên, trò chơi giải ô chữ, trò chơi hiểu ý bạn,
thi vẽ tranh…
Sử dụng phương pháp trò chơi trong tổ chức hoạt động giáo dục KNS có
những ưu điểm như:
Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm, thực hành rèn luyện các loại
KNS, người học có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi, bởi con người thể
hiện như thế nào trong trò chơi thì phần lớn nó thể hiện như thế trong cuộc sống
thực. Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở họ niềm tin vào những
thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong
cuộc sống.
Qua trò chơi, người học sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho
mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.
Qua trò chơi, người học được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ
năng nhận xét, đánh giá hành vi.
Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa người học với người
học, giữa người dạy với người học, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên
trong nhóm có một vai trò hết sức quan trọng.

chủ cảm xúc của bản thân trong mọi tình huống giao tiếp cho dù hoàn cảnh thực tế
có tiêu cực như thế nào đi nữa. Khi chúng ta không quản lý được cảm xúc của
mình sẽ tạo nên những thói quen tiêu cực như hay than vãn về cuộc sống, thường
cảm thấy bất lực về một vấn đề gì đó, vì vậy phải giữ được cảm xúc của mình ở thể
tích cực để có thể thành công trong tương lai.
Đối với học sinh THPT việc nhận diện và kiểm soát được cảm xúc vô cùng
quan trọng, bởi theo đặc điểm tâm lý lứa tuổi sự hình thành và phát triển nhân cách
của lứa tuổi này diễn ra khá mạnh mẽ. Những cảm xúc của học sinh nảy sinh và
biến đổi liên tục trong quá trình tham gia học tập, quan hệ xã hội, bạn bè...
Kiểm soát cảm xúc của học sinh thể hiện ở khả năng làm chủ bản thân khi
cảm xúc nảy sinh, biết cách giải tỏa cảm xúc một cách hiệu quả nhất và có khả
năng nhận diện cảm xúc của người khác. Nếu không tự xác định được cảm xúc của
bản thân, sẽ khiến các em có nguy cơ rơi vào trạng thái bị dồn nén, tê liệt hoặc
bùng nổ cảm xúc. Không kiểm soát được hành vi, thái độ cảm xúc thì học sinh có
những quyết định sai lầm, những hành động bốc đồng, những lời nói bột phát gây
tổn thương bản thân, tổn hại đến các mối quan hệ, sẽ dễ bị đánh mất bản thân, gây
ra lỗi lầm không đáng có.
Cách thức thực hiện
16


Để giúp học sinh hiểu, nhận diện được kỹ năng nhận diện và kiểm soát cảm
xúc, tôi tổ chức qua hai trò chơi
* Trò chơi thứ nhất: “ Hiểu ý bạn”
- Mục đích: Tăng cường khả năng nhận diện và bộc lộ cảm xúc.
- Công cụ, phương tiện: Thẻ bốc thăm viết sẵn các cảm xúc khác nhau.
- Luật chơi: Các cặp đôi xếp thành hàng dọc. Trong thời gian 3 phút và có 5
thẻ. Các thành viên của nhóm lần lượt lên bốc thăm và sau đó mô tả nội dung cảm
xúc được ghi trong thẻ để thành viên còn lại đoán được tên cảm xúc được ghi trong
thẻ.

nghĩ và hành động không thể kiểm soát được. Điều đó tác động rất lớn đến bản
thân em. Có thể giúp em có trạng thái hưng phấn, kích thích em làm nhiều việc tốt.
17


Ngược trở lại làm cho em có những lời nói và hành động thiếu suy nghĩ, bồng bột,
làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ, để lại hậu quả xấu.
Từ đó giúp học sinh hiểu được vai trò của việc phải nhận diện và kiểm soát cảm
xúc bản thân và người khác.
* Trò chơi thứ 2: Tiếp sức, tiêu đề “Ai nhanh hơn”
- Mục đích : Nhận diện biểu hiện cảm xúc ở người khác qua hình ảnh
- Công cụ, phương tiện: Giáo viên chuẩn bị 2 bức tranh có hình ảnh những
đôi mắt biểu hiện những cảm xúc của con người, được đánh dấu theo ô.
- Luật chơi. Chia lớp thành 2 đội, đặt tên cho mỗi đội.
+ Mỗi đội chơi có từ 5 – 7 em.
+ Các em đứng thành 2 hàng dọc.
+ Mỗi em lần lượt thay nhau lên bảng ghi đáp án, mỗi em chỉ được đưa ra
một đáp án, sau đó về vị trí để người kế tiếp lên ghi. Nếu đội nào có từ 2 đáp án trở
lên được coi là bị phạm quy, sẽ bị loại khỏi đội và không tính đáp án vừa ghi trên
bảng. Sau thời gian quy định, đội nào có số đáp án đúng, số lượng nhiều sẽ thắng
trong cuộc thi.
+ Thời gian thực hiện trò chơi 2 phút.
- Cách thức tổ chức trò chơi như sau :
Đầu tiên, giáo viên công bố luật chơi cho học sinh.
Sau đó tiến hành chọn đội chơi, bấm thời gian, học sinh 2 đội cùng một lúc
bắt đầu lần lượt nêu tên cảm xúc theo từng ô trên hình ảnh cho đến khi thời gian
hết thì trò chơi kết thúc.
Sản phẩm dự kiến
Học sinh tham gia trò chơi, nhận diện được cảm xúc qua hình ảnh và nêu tên
được các loại cảm xúc

sống cho học sinh đã có một số giáo viên áp dụng. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, giáo
viên sử dụng trò chơi nào, sử dụng giáo dục kỹ năng sống nào cho phù hợp để khai
thác có hiệu quả những ưu điểm của phương pháp này. Bản thân tôi, khi sử dụng
trò chơi tiếp sức “Ai nhanh hơn”, trò chơi “ Hiểu ý bạn” vào rèn luyện kỹ năng
nhận diện và kiểm soát cảm xúc giúp tôi đã tạo được không khí lớp học thoải mái,
giờ học thêm sinh động, vừa làm thay đổi hình thức học tập đồng thời giúp rèn
luyện kỹ năng học tập hợp tác và kỹ năng phản ứng nhanh cho học sinh, học sinh
bước đầu nhận diện được các cảm xúc và biết kiểm soát cảm xúc bản thân.
2.3. Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong tổ chức hoạt động giáo dục
kỹ năng sống
Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao đổi trong
nhóm nhỏ. Đây là phương pháp học sinh gặp mặt, trao đổi với nhau về một chủ đề
được đặt ra dưới dạng câu hỏi, bài tập tình huống, giải quyết một vấn đề nào đó
trong bài học. Trong phương pháp này học sinh giữ vai trò tích cực, chủ động tham
gia thảo luận, giáo viên giữ vai trò nêu vấn đề, gợi ý, thiết kế và tổng kết.
Phương pháp thảo luận nhóm là một dạng dạy học hợp tác với cách tổ chức
hợp lý, hoạt động theo nhóm với sự tham gia tích cực của mỗi cá nhân. Học sinh
các nhóm sẽ đạt được mục tiêu chung trong thời lượng có hạn.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp được sử dụng phổ biến trong
tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh. Qua thực tiễn áp dụng tôi thấy
phương pháp thảo luận nhóm có nhiều ưu điểm như:
Tạo nên sự sôi nổi trong giờ học, tạo môi trường học tập cho những học sinh
nhút nhát, ít phát biểu ý kiến xây dựng bài. Tất cả thành viên trong nhóm giải
quyết yêu cầu của giáo viên trên cơ sở hợp tác, cùng thảo luận và đưa ra kết quả
tổng hợp.
Quá trình thảo luận phát huy tốt các thao tác tư duy, khả năng hợp tác, khả
năng tổ chức của các thành viên trong nhóm. Hơn nữa, phương pháp thảo luận
nhóm mang trong nó cơ chế tự sửa lỗi và học tập lẫn nhau, theo đó các lỗi sai đều
được giải quyết trong bầu không khí rất thoải mái. Nó giúp học sinh giảm bớt tính
chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học; kiến thức sẽ trở nên sâu

Trong hoạt động giáo dục KNS, do tính chất của hoạt động luôn luôn thực
hành nên vấn đề đưa ra để học sinh thảo luận rất phong phú đa dạng, có thể chia
nhóm cùng chơi trò chơi, có thể cùng xem video dự đoán hành động, hoặc nhóm
đóng vai giải quyết tình huống, trả lời câu hỏi, thực hành các loại kỹ năng được
giáo dục.….Hơn nữa trong hoạt động rèn luyện KNS, mỗi học sinh đều phải có cơ
hội thực hành nên không tổ chức lớp quá đông, mỗi nhóm chỉ 5-7 em.
*Ví dụ: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm giáo dục cho học sinh kỹ
năng làm chủ
Cụ thể: Tôi chia lớp thành 4 nhóm, theo vị trí chỗ ngồi cho thuận lợi cho việc thảo
luận. Đặt tên nhóm theo số thứ tự: 1,2,3,4 và quy định thời gian thảo luận cho các
nhóm.
Tôi giao nhiệm vụ cho các nhóm như sau:
Nhóm 1,2: Hoàn thành thể hiện mối quan hệ giữa cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và cơ
thể trong bảng dưới đây
Khi em cảm thấy
Cơ thể có biểu Em có xu hướng Điều
em thường
hiện
suy nghĩ
làm là
Ví dụ:
Tim đập mạnh, đổ Suy nghĩ tiêu cực
Đánh
nhau, đạp
Tức giận
mồ hôi, nhức đầu
bàn ghế, nắm chặt
20



của bản thân trước các vấn đề của xã hội đang đòi hỏi học sinh phải rèn luyện,
trang bị cho mình kỹ năng làm chủ. Kỹ năng làm chủ sẽ cho phép học sinh phân
tích, đánh giá vấn đề các em gặp phải, kiểm soát được cảm xúc bản thân.Vì không
làm chủ cảm xúc, dẫn đến không làm chủ được hành vi dẫn đến những hậu quả rất
đáng tiếc.
* Một số phương pháp điều khiển và kiểm soát cảm xúc tiêu cực như:
- Không phản ứng vội.
- Nhận định lại tình hình.
- Thay đổi trọng tâm chú ý.
- Thể hiện cơn nóng giận thích
hợp. - Cần 15 phút bình tĩnh.
- Hít thở sâu.
- Xuống giọng khi nói.
21


- Nên bắt đầu bằng câu: “Tôi cảm thấy…”, “Tôi nghĩ là…”
- Tăng cường cảm xúc tích cực:
+ Đừng làm vơi cảm xúc tích cực.
+Thắp sáng những điều tốt đẹp: chú ý những ưu điểm, mặt tốt của vấn đề.
+ Kết nối tình thân với những người lạc quan, yêu đời.
Trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, ngoài giáo dục kỹ
năng tự chủ, tôi đã sử dụng có hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong việc
chia nhóm cho học sinh đóng vai tình huống ở kỹ năng từ chối; chia nhóm cho học
sinh tham gia trò chơi trong kỹ năng nhận diện kiểm soát cảm xúc.
* Kết quả đạt được
Quá trình vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong rèn luyện, giáo dục
KNS cho học sinh, tôi thấy phương pháp này phát huy có hiệu quả khả năng tư
duy, sáng tạo, hợp tác giữa các học sinh rất cao. Qua thảo luận các em học sinh
hiểu nhau hơn, tham gia học tập một cách tích cực hơn. Đặc biệt nội dung chủ đề


vấn đề của học sinh. Khác với việc tiếp thu lý thuyết một cách thụ động, học sinh
chủ động tìm kiếm và phân tích thông tin để tìm ra giải pháp cho tình huống.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong tổ chức hoạt
động giáo dục KNS có ưu điểm: Làm cho giờ học trở nên gần gũi, sinh động, dễ
hiểu đối với học sinh, học sinh chăm chú theo dõi và mong muốn được bày tỏ ý
kiến cá nhân của mình trước mỗi trường hợp điển hình.
Để sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, người giáo viên
thực hiện theo quy trình sau:
Đầu tiên, Giáo viên cho HS đọc (hoặc xem hoặc nghe) về trường hợp điển
hình và suy nghĩ về nhân vật điển hình đó (có thể viết một vài suy nghĩ trước khi
thảo luận điều đó với người khác).
Sau đó, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận về trường hợp điển hình
theo câu hỏi hướng dẫn của giáo viên. Sau khi học sinh thảo luận, bày tỏ ý kiến cá
nhân, giáo viên chốt lại vấn đề cần được đề cập.
*Ví dụ
Áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong hoạt động
giáo dục KNS bằng cách thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời sống trong sáng, nếp
sống giản dị và khiêm tốn, trung thực, chân thành, là ý chí và nghị lực tinh thần to
lớn vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt được mục đích.
Được nuôi dưỡng bởi truyền thống đạo đức của dân tộc, ở Hồ Chí Minh đã hình
thành một lý tưởng và hoài bão đúng đắn, tạo ra động lực cho Người vượt qua mọi
thử thách, chông gai để đưa cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong cuộc đời
hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh từng bị tù đày nhiều nơi, nhưng vẫn luôn giữ
thái độ lạc quan, tin tưởng vào sức mạnh của con ngưòi, vào cuộc sống, chính
nghĩa, với ý chí, nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn.
Học tập tấm gương của Bác cũng là cách để chúng ta trau dồi ý thức rèn
luyện KNS, đồng thời thực hiện tốt chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tổ chức học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đang triển khai trong mọi tầng lớp

hình có thể dài hay ngắn, tùy từng nội dung vấn đề song phải phù hợp với chủ đề,
phù hợp với trình độ học sinh và thời lượng cho phép. Tùy từng trường hợp, có
thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công
mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau.
*Kết quả đạt được
Đây là phương pháp tôi áp dụng để củng cố bài học nên tôi sử dụng vào cuối tiết
học. Vì thời gian của một tiết không nhiều nên tôi cho học sinh chuẩn bị ở nhà để
vừa tiết kiệm thời gian, vừa giúp các em chủ động trong việc nghiên cứu, rèn luyện
kỹ năng khai thác ứng dụng CNTT.
Thông qua hình thức thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, học sinh được
tham gia hoạt động một cách sôi nổi, hợp tác, sử dụng tốt kỹ năng tư duy sáng tạo,
ngôn ngữ trình bày, kỹ năng tự tin…Cũng thông qua cuộc thi học sinh học tập
được nhiều phẩm chất tốt đẹp về tấm gương đạo đưc Hồ Chí Minh.
Qua quá trình ứng dụng phương pháp này trong tiết học ngoại khóa giáo dục KNS
giúp HS thấy được vai trò cần phải rèn luyện KNS đối với bản thân mình để có khả
năng ứng phó tích cực trước các vấn đề của cuộc sống, học hỏi được những tấm
gương giàu nghị lực vươn lên trong cuộc sống như tấm gương đạo đức, phong cách
của Bác Hồ và những nhân vật hiện nay. Qua giờ học, học sinh sôi nổi, tham gia
phân tích, thảo luận, bày tỏ ý kiến cá nhân.
3.5. Sử dụng phương pháp trực quan kết hợp sử dụng CNTT trong tổ chức
hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Phương pháp trực quan là phương pháp giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học
để minh họa cho kiến thức thức bài giảng.
Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học giúp học sinh quan sát, tiếp
thu các kiến thức mới thông qua các hình ảnh và tình huống mà giáo viên đưa ra.
Việc sử dụng phương pháp trực quan kết hợp sử dụng các phương tiện dạy
học hiện đại mang nhiều hiệu quả tích cực. Phương pháp này giúp giáo viên minh
24



sống.
Bằng hình ảnh minh họa, kết hợp kể chuyện tôi giúp tôi thành công trong tổ
chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh.
*Kết quả đạt được
Việc sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint, giúp bài giảng thêm sinh
động, tạo hứng thú cho học sinh đồng thời tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng.
Vì vậy, tôi nhận thấy, sử dụng phương pháp trực quan kết hợp CNTT là
phương pháp tích cực, có hiệu quả nhằm làm phong phú thêm bài học, việc khai
thác sử dụng hình ảnh hợp lý giúp giáo viên minh họa tốt hơn về nội dung bài học,
kích thích được tính tư duy sáng tạo của học sinh, tạo sự hứng thú, lôi cuốn các em
vào bài học, phát huy được khả năng quan sát, phân tích hình ảnh, tạo niềm say
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status