MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu:
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng về giáo dục Kỹ năng sống tại trường Tiểu học
Nga Điền I – Nga Sơn – Thanh Hóa.
3. Các giải pháp chỉ đạo các hoạt động giáo dục kỹ năng
sống trong trường Tiểu học Nga Điền I.
3.1. Tổ chức quán triệt, triển khai chủ trương, kế hoạch và phối
hợp thực hiện.
3.2.Tổ chức buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần thành sân chơi bổ
ích.
3.3.Tổ chức việc giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt
động xã hội, đền ơn đáp nghĩa.
3.4 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua việc tổ chức các
Câu lạc bộ năng khiếu
3.5 Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc giáo
dục kỹ năng sống.
3.6 Tổ chức giáo dục lao động cho học sinh
3.7 Tổ chức giáo dục sức khỏe, hướng dẫn học sinh vui chơi
đúng cách, phòng tránh tai nạn thương tích.
3.8 Tăng cường công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường,
xã hội trong việc giáo dục kỹ năng sống cho các em.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Lý do chọn đề tài:
Chúng ta biết rằng kĩ năng sống là nhân tố quan trọng để con người vươn lên
gặt hái thành công. Tuy nhiên kĩ năng sống không phải tự nhiên mà có. Kĩ năng
sống là kết quả của quá trình học tập và rèn luyện bản thân mỗi con người. Ở tất
cả các bậc học, giáo dục kĩ năng sống đều cần phải được quan tâm giáo dục, đặc
biệt là đối với học sinh tiểu học. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là giúp trẻ rèn
luyện những hành vi có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng; giúp trẻ có khả
1
năng bảo vệ, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi có nguy cơ gây hại cho sức
khỏe, sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Kĩ năng sống còn giúp trẻ ứng xử
kịp thời với các tình huống. Nó giúp trẻ có cách thức tích cực để đối phó với
những thách thức trong cuộc sống.
Xét từ góc độ xã hội, sự hình thành và phát triển kỹ năng sống đã trở thành
một yêu cầu quan trọng trong nhân cách con người hiện đại. Đặc biệt là đối với
các công dân trẻ Việt Nam hiện nay, khi cuộc sống ngày càng có nhiều biểu hiện
tiêu cực, lệch chuẩn trong một bộ phận hoc sinh, sinh viên như vấn đề nạn bạo
lực học đường, sự lạnh lùng vô cảm trước nỗi đau của người khác, sự ỷ lại, thiếu
thích nghi, thiếu nghị lực sống, không biết quý trọng bản thân….
Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống
cho thế hệ trẻ nhưng thực tiễn công tác triển khai giáo dục kỹ năng sống trong
các nhà trường vẫn gặp những trở ngại nhất định.
Thứ nhất, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chưa thành môn học, chưa có
trong thời khóa biểu của các nhà trường, mới chỉ dừng lại ở việc lồng ghép, tích
hợp giáo dục kỹ năng sống vào các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Qua
việc dự giờ và kiểm tra thực tế việc thực hiện nội dung giáo dục này trong hoạt
động chuyên môn của trường thì trong thời gian qua tuy đã được giáo viên chú
trọng trong việc soạn giảng và thể hiện khá tốt trong các tiết dạy trên lớp. Về cơ
bản các tiết giảng có tích hợp nội dung giáo dục KNS được giáo viên thực hiện
sống sau này. Vì vậy, tôi đã chọn và nghiên cứu vấn đề “ Một số biện pháp chỉ
đạo các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Nga Điền
I - Nga Sơn – Thanh Hóa” .
2. Mục đích nghiên cứu
Giáo dục Kỹ năng sống trong nhà trường nhằm tăng cường và nâng cao hiệu
quả và góp phần giáo dục học sinh nhận thúc đúng về vai trò, tầm quan trọng của
việc học hỏi các kỹ năng sống, biết cách sử dụng các kỹ năng sống để nâng cao
chất lượng cuộc sống.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua việc tổ chức các câu lạc bộ
trong trường học.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về vấn đề
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
4.2 Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm:
+ Quan sát các hoạt động Giáo dục kĩ năng sống của thầy và trò nhà trường
qua các buổi hoạt động GDNGLL, các buổi sinh hoạt kỷ niệm các ngày lễ lớn,
một số giờ học,các tiết sinh hoạt tập thể cuối tuần;
+ Quan sát các hoạt động hàng ngày của học sinh để tìm hiểu thái độ, hành vi,
kỹ năng sống của các em trong các mối quan hệ ứng xử đối với người lớn tuổi,
thầy cô giáo, bạn bè…
- Phương pháp phỏng vấn: phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu về
nhận thức của giáo viên và học sinh về kỹ năng sống, về thực trạng, hành vi kỹ
năng sống trong trường Tiểu học hiện nay.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra qua giáo viên nhằm tìm hiểu nhận
thức, hành động, của Giáo viên đối với vấn đề Giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh hiện nay; điều tra học sinh nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của học
sinh đối với các mối quan hệ ứng xử, các hành vi kỹ năng sống, thực trạng kỹ
khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai
trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh
thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội
này.
UNESCO (2003) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng
làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp
con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức
trong cuộc sống hàng ngày.
Xét từ góc độ giáo dục Kĩ năng sống của người học được xác định là một
biểu hiện của chất lượng giáo dục. Vì thế KNS được coi là một khía cạnh của
chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí
đánh giá KNS của người học. Tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong
các nhà trường, xét cho cùng là để nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục KNS
là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu cầu của
người học có năng lực để đáp ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao
chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác, thực hiện giáo dục KNS thông
qua những phương pháp hướng đến người học (lấy học sinh làm trung tâm) và
phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò tham gia chủ động,
tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích
cực đối với những mối quan hệ người dạy và người học, người học với người
học. Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham gia vào các vấn đề có liên
quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn. Như
vậy giáo dục KNS cho người học, cụ thể là học sinh Tiểu học đồng thời thể hiện
tính khoa học và nhân văn của giáo dục.
Xét từ góc độ văn hóa, chính trị Giáo dục KNS giải quyết một cách tích
cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong pháp luật Việt
Nam và quốc tế. Giáo dục KNS giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có
chất lượng trong một xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng và với nền kinh tế phát
triển và thế giới được coi là một mái nhà chung.
Trong các giờ sinh hoạt dưới cờ đầu tuần các nội dung giáo dục kỹ năng
sống cũng được lồng ghép triển khai. Cụ thể như việc tuyên truyền giáo dục về
thực hiện an toàn giao thông, việc thực hiện bảo vệ môi trường của các lớp, việc
vui chơi của các em trong tuần …
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp do Đội thiếu niên tổ chức như : thi vẽ tranh
tuyên truyền về ma túy – HIV, bảo vệ môi trường, trò chơi dân gian …
Tuy nhiên qua thực tế nhiều hoạt động còn chưa có chiều sâu:
Ví dụ: Trong giáo dục an toàn giao thông: Giáo viên tổng phụ trách thực
hiện trong giờ chào cờ đầu tuần của thì chủ yếu là dùng lời nói để vận động mà
chưa có những tiểu phẩm, chưa tổ chức được các cuộc thi, các tình huống thực tế
để giáo dục các em; Giáo viên chủ nhiệm sau khi dạy học sinh các tiết an toàn
giao thông trên lớp chưa tổ chức thực hành được cho các em bằng các tình huống
cụ thể ngoài giờ lên lớp.
Trong giáo dục lao động cho học sinh của một số lớp: Đôi khi giáo viên suy
nghĩ đây là những việc đơn giản em nào cũng biết làm rồi giao khoán cho các em
thực hiện như việc lau bàn ghế, quét dọn lớp học, lau sàn lớp học ….mà không
hướng dẫn các em cách làm sao cho đúng cách dẫn đến có trường hợp các em lau
cửa xong mà vẫn không sạch. Thực tế không phải học sinh nào cũng biết làm
5
những công việc này, thậm chí có em từ nhỏ đến khi học tiểu học các em chưa
bao giờ phải cầm tới cái chổi, chưa từng phải quét nhà.
Việc hướng dẫn học sinh đi vệ sinh đúng cách: Hầu hết giáo viên chỉ thực
hiện bằng lời nói mà rất ít giáo viên dẫn các em vào nhà vệ sinh để hướng dẫn cụ
thể các em thực hiện việc đi vệ sinh đúng cách.
Trong quá trình theo dõi thực tế sinh hoạt và việc tham gia các hoạt động
của các em học sinh tại trường thông qua quan sát thực tế thì về cơ bản các em
học sinh đều ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, cha mẹ, lắng nghe và tiếp thu khá tốt
những nội dung tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện của giáo viên chủ nhiệm, tổng
Số học sinh chưa
Số học sinh có nền
Số học sinh còn mơ
Tổng số học
có nhận thức về kỹ
tảng để phát triển
hồ về kỹ năng sống
sinh được
năng sống
kỹ năng sống
khảo sát
SL
TL
SL
TL
SL
TL
292
250
85,7%
27
9,2%
15
5,1%
6
* Nhận thức của giáo viên:
Kết quả điều tra cho thấy đại đa số giáo viên kể cả có làm công tác chủ
nhiệm hay không đều có nhận thức đầy đủ và chính xác về công tác giáo dục kỹ
3.1. Tổ chức quán triệt, triển khai chủ trương, kế hoạch và phối hợp
thực hiện:
Việc quán triệt , triển khai chủ trương, kế hoạch và phối hợp thực hiện là
bước đi đầu tiên rất quan trọng, là định hướng trọng tâm để thực hiện thành công
nội dung giáo dục Kỹ năng sống trong nhà trường.
Nội dung giáo dục Kỹ năng sống là một trong những nội dung của phong
trào “xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”, đồng thời đây cũng là
một trong những nội dung quan trọng được tích hợp vào các môn học và kết hợp
giáo dục thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Về mặt tổ chức, Hiệu trưởng nhà trực tiếp phụ trách tiêu chí “ Rèn luyện
kỹ năng sống” trong Ban chỉ đạo phong trào “xây dựng trường học thân thiện học
sinh tích cực” và phụ trách công tác chỉ đạo các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
7
lớp. Đồng chí Tổng phụ trách Đội là nòng cốt chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí
các hoạt động.
Các lực lượng phối hợp gồm Công đoàn, Đoàn thanh niên, phụ huynh học
sinh, một số các ban ngành đoàn thể của xã. Các tổ khối trưởng có trách nhiệm
đôn đốc chỉ đạo giáo viên trong tổ thực hiện theo kế hoạch.
Hoạt động giáo dục Kỹ năng sống được định hướng trong kế hoạch năm
học của nhà trường, và được đưa ra bàn bạc thống nhất nội dung trong đội ngũ
cán bộ cốt cán để xây dựng thành kế hoạch hoạt động NGLL của cả năm học,
trong kế hoạch tập trung sâu vào các nội dung nhằm giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh. Tiếp theo tiến hành phổ biến, quán triệt trong hội đồng giáo viên, học
sinh và trong cuộc họp cha mẹ học sinh về mục đích, ý nghĩa và vai trò của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh.
Hàng tháng tổng phụ trách Đội lập kế hoạch hoạt động từng tháng theo chủ
đề, chủ điểm của tháng, đồng thời lập kế hoạch tổ chức hoạt động tuần của tháng
đó. Hiệu trưởng là người trực tiếp duyệt các kế hoạch tháng, tuần. Sau khi duyệt
của thầy cô nhà trường tổ chức “ Tìm hiểu lịch sử Đoàn, Đội” với hình thức thi
hái hoa dân chủ dười cờ; tổ chức hoạt cảnh dưới cờ; tổ chức kể chuyện các tấm
gương anh hùng liệt sĩ …
Ở nội dung này để thực hiện được nhà trường giao sự chủ động, sáng tạo
cho tổng phụ trách Đội, Tổng phụ trách Đội trực tiếp phối hợp với giáo viên chủ
nhiệm tổ chức thực hiện căn cứ theo chủ đề, chủ điểm hoạt động hàng tháng, tuần
của Đội để có nội dung tổ chức thực hiện phù hợp. Đồng thời hiệu trưởng cũng
quán triệt trong hội đồng sư phạm, yêu cầu tất cả giáo viên và các bộ phận liên
quan phối hợp thực hiện theo kế hoạch của Đội.
Trong sinh hoạt đầu tuần nhà trường tập trung chỉ đạo Tổng phụ trách Đội
phải kết hợp với công tác tuyên dương khen thưởng . Sinh hoạt chào cờ đầu đầu
tuần có thể nói là nơi lý tưởng để giáo dục học sinh: trước tất cả con mắt của thầy
cô, bạn bè, thật hãnh diện nếu được động viên, khen thưởng … vì vậy nhà trường
chỉ đạo Tổng phụ trách Đội chú ý đặc biệt tới nội dung này. Tuyên dương khen
thưởng những cá nhân, tập thể thực hiện tốt dưới cờ có thể là được nêu tên, được
tặng một tràng vỗ tay, một phần thưởng nhỏ như cây bút, quyển vở….cho các em
thực hiện tốt đó là một niềm hành diện cho học sinh.
Tóm lại: Sinh hoạt dười cờ là một hình thức mang lại hiệu quả giáo dục
cao nếu Tổng phụ trách đội nếu biết khai thác hết thế mạnh của hình thức này.
Phải làm cho các em háo hức, chờ đợi buổi sinh hoạt dưới cờ. Muốn vậy phải
biến buổi sinh hoạt dưới cờ thành sân chơi cho các em. Để thực hiện được điều
này ngoài sự sáng tạo, chủ động của Tổng phụ trách đội thì phải cần có sự phối
hợp chặt chẽ, nhiệt tình của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, vì thế nhà
trường phải thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, tạo mọi điều kiện thì tổng phụ trách
đội mới có thể thực hiện tốt nội dung này.
3.3.Tổ chức việc giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động xã hội,
đền ơn đáp nghĩa.
Truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn” , “ Lá lành đùm lá rách” …. Là
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thực hiện tốt hoạt động này góp phần
9
lớp …..
Sau khi tuyên truyền thì trường tổ chức cho một số lớp tới thăm gia đình
thương binh liệt sĩ trong xã, dâng hương viếng tượng đài liệt sĩ….
Qua cách tổ chức này thì đã phối hợp giữa giáo dục qua tuyên truyền với
việc các em có hành động thực tế để thể hiện lòng biết ơn của mình với các thế hệ
cha anh đi trước.
Chăm sóc tượng đài liệt sĩ
Tóm lại: Để tổ chức tốt hoạt động GDKNS qua các hoạt động xã hội, đền
ơn đáp nghĩa cho học sinh thì phải phối hợp chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền
vận động kết hợp với hành động thực tế. Trong đó phải đặc biệt chú ý đến cách
thức thực hiện sao cho đạt hiệu quả cao.
3.4 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua việc tổ chức các Câu lạc bộ
năng khiếu:
Sinh hoạt Câu lạc bộ năng khiếu cũng là một hình thức hoạt động tập thể.
góp phần hết sức quan trọng đối với kỹ năng giao tiếp của học sinh, thông qua
hoạt động giao tiếp bộc lộ khả năng, tính cách của từng học sinh. Khi sinh hoạt
trong Câu lạc bộ các em có nhiều cơ hội giao tiếp với nhau, có thể chia thành 2
dạng: cá nhân với cá nhân, tập thể với tập thể. Tổ chức các Câu lạc bộ trong nhà
trường cần thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Thành lập Câu lạc bộ năng khiếu
Để thành lập các Câu lạc bộ, đầu tiên tôi phối hợp với Tổng phụ trách Đội,
giáo viên dạy các môn năng khiếu (Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), giáo viên chủ
nhiệm lớp chọn những học sinh có năng khiếu từng lĩnh vực, từng bộ môn qua
các giờ học chính khoá của các môn năng khiếu. Các Câu lạc bộ năng khiếu được
thành lập: Câu lạc bộ bóng đá, Câu lạc bộ đá cầu, Câu lạc bộ cờ Vua, Câu lạc bộ
văn nghệ, Câu lạc bộ vẽ tranh...
Khi có nhân sự của các Câu lạc bộ, tôi phân công Tổng phụ trách Đội xây
dựng kế hoạch và một số quy định của Câu lạc bộ. Trong quy định có nội dung
11
Cụ thể:
Câu lạc bộ Cờ vua, đá cầu: các em thi đấu giao hữu với hình thức cá nhân.
Câu lạc bộ vẽ tranh: các em hoạt động cá nhân hoặc nhóm.
Câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, TDTT: hoạt động theo nhóm.
Thông qua các câu lạc bộ này có thể rèn kỹ năng giao tiếp trong xưng hô.
Ví dụ: Khi vào sinh hoạt, Đội trưởng kiểm diện các thành viên trong Câu
lạc bộ và nêu nội dung sinh hoạt. Lúc đầu, phần kiểm diện có số ít em xưng hô
“cộc lốc”, chẳng hạn: Đội trưởng gọi tên bạn A, bạn A vắng thì có một vài em trả
lời “chưa đến”, “không có” hoặc “bệnh rồi, không đi”. Sau khi kết thúc phần
kiểm diện, tôi nhắc nhở các em khi có bạn vắng mặt thì các em phải báo với Đội
trưởng rõ ràng hơn, ví dụ: bạn A vắng, thì bạn nào gần nhà hoặc cùng xóm, biết
lý do bạn A vắng thì các em báo “Bạn (anh, em) A, hôm nay (ốm, xe hư...) vắng
mặt hoặc đến muộn”. Khi mới đến điểm sinh hoạt, các em cần chào hỏi nhau,
như: “Chào bạn! Bạn đến khi nào?”; “Chào anh!”; ...
12
Câu lạc bộ TDTT dành giải Nhì môn Bóng đá cấp huyện
Thông qua các Câu lạc bộ rèn kỹ năng giao tiếp trong ứng xử: (cá nhân
với cá nhân, cá nhân với nhóm, nhóm với nhóm). Khi vào nội dung hoạt động
chính của Câu lạc bộ là luyện tập, thi đấu giữa các thành viên hoặc giữa các
nhóm. Đây là hoạt động thể hiện rõ tính cách của từng em trong giao tiếp ứng xử.
Mục đích nhà trường tổ chức Câu lạc bộ nhằm bồi dưỡng năng khiếu cho học
sinh có điều kiện để các em trao đổi, học tập, rèn luyện và phát huy năng khiếu cá
nhân. Tuy nhiên, khi vào thi đấu, tập luyện có số ít em do “cay cú” về “thắng,
thua” nên các em không nhớ những quy định về phát biểu, xưng hô với nhau,
nhất là ở môn bóng đá, môn cờ vua thường xảy ra trường hợp này. Đối với các
em trong Câu lạc bộ văn nghệ, kể chuyện thì còn một số các em chưa thể hiện tốt
tính hợp tác với các thành viên trong nhóm, tham gia qua loa, ít tập trung diễn
bộ), những hạn chế (không nêu tên cụ thể thành viên chưa tốt). Sau khi Đội
trưởng nhận xét, các thành viên trong Câu lạc bộ có ý kiến. Sau cùng là phần
nhận xét chung của giáo viên phụ trách hoặc Tổng phụ trách Đội. Trong hoạt
động này, tôi kiên trì và kịp thời uốn nắn, sửa sai cho các em giữ nhiệm vụ Đội
trưởng để các em trình bày hay, ví dụ: “Thay mặt Câu lạc bộ, mình xin đánh giá
hoạt động của Câu lạc bộ trong tháng như sau: ...”. Hoặc “Trong tháng qua Câu
lạc bộ đã đạt được một số kết quả sau...”. Nếu các em trình bày trước tập thể chưa
thành công thì tôi giúp các em luyện nói, tập nói ngay tại chỗ khi nào hoàn thành
mới dừng lại. Tôi không phê bình các em khi trình bày còn lủng củng, chưa đủ ý,
đủ câu...
14
tránh để các em mất tự tin, trở nên tự ty, mặc cảm. Cứ như thế tạo cơ hội cho các
em có tự tin để luyện nói và được trình bày ý kiến của mình trước tập thể. Riêng
các thành viên dự sinh hoạt, khi muốn có ý kiến thì phải giơ tay theo đúng quy
định đã được thực hiện trong lớp học và khi được mời có ý kiến thì mới trình bày
ý kiến của mình. Khi các em phát biểu ý kiến, tôi theo dõi và kịp thời uốn nắn,
sửa sai về dùng từ, câu cho các em và tập cho các em có cử chỉ, thái độ lịch sự
khi phát biểu như: đúng thẳng người, ngay ngắn, vui vẻ, mắt nhìn thẳng về
trước... Còn các thành viên khác lắng nghe, không được nói ngang hoặc nhận
xét khi bạn trình bày và chưa được Đội trưởng mời có ý kiến.
Tóm lại: Qua thời gian tổ chức thực hiện sinh hoạt ở Câu lạc bộ tôi nhận
thấy các em có chuyển biến rõ rệt trong quan hệ giao tiếp, ứng xử với các bạn
trong Câu lạc bộ kể cả các bạn khác trong lớp, trong nhà trường. Các em xưng
hô, giao tiếp với thầy, cô, người lớn đúng chuẩn mực, thái độ kính trọng, lễ phép;
với bạn bè, các em nhỏ thì hoà nhã, gần gũi, thân thiện. Các em còn biết hợp tác,
giúp đỡ nhau mọi lúc, mọi nơi, mạnh dan, tự tin không chỉ trong hoạt động học
tập mà còn trong các hoạt động giáo dục khác do nhà trường tổ chức.
3.5 Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc giáo dục kỹ
động nhân đạo, từ thiện trong nhà trường.
Tóm lại: Đối với học sinh tiểu học thì giáo viên chủ nhiệm có thể coi là
người mẹ thứ hai của các em, là người gần gũi và có thể hiểu tính cách, hành vi
của từng em trong lớp. Vì thế giáo viên chủ nhiệm là một trong những nhân tố
quan trọng để thực hiện hiệu quả công tác giáo dục KNS cho các em. Vì vậy nhà
trường phải thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, và có những định hướng cụ thể để
giáo viên thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp của mình.
3.6 Tổ chức giáo dục lao động cho học sinh
Đây là một loại hình đặc trưng của rèn kỹ năng sống. Thông qua lao động
công ích sẽ giúp các em gắn bó với đời sống xã hội. Ngoài ra lao động công ích
còn góp phần làm cho trẻ hiểu thêm về giá trị lao động, từ đó giúp trẻ có ý thức
lao động lành mạnh. Lao động công ích giúp trẻ vận dụng kiến thức vào đời sống
như: Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, làm đẹp bồn hoa, cây cảnh cho đẹp
trường, lớp.
Ngay từ đầu năm học nhà trường xây dựng kế hoạch lao động. Phân công
trách nhiệm cụ thể cho từng lớp phụ trách từng khu vực, giáo viên chủ nhiệm
chịu trách nhiệm trước nhà trường về nhiệm vụ được giao.
Các lớp vừa có trách nhiệm lao động, vệ sinh khu vực được phân công
hàng ngày, đồng thời cũng thực hiện nhiệm vụ kịp thời phát hiện và báo cáo sao
đỏ, tổng phụ trách Đội nếu có học sinh lớp khác làm mất vệ sinh khu vực của lớp
mình quản lý.
Ngoài ra 1 tháng/lần các lớp thực hiện vệ sinh toàn bộ lớp học như lau bàn
ghế, lau tủ và tất cả học sinh thực hiện tổng vệ sinh chung toàn trường. Giao cho
khối 3 tới khối 5 thực hiện dãy cỏ, quét dọn toàn bộ khuôn viên trường, khối 1&2
thực hiện nhặt cỏ trong các bồn hoa, đội Thanh thiếu niên Chữ thập đỏ xung kích
chăm sóc khu vực tượng đài liệt sĩ…
Phân công mỗi lớp phụ trách một bồn hoa, lớp phụ trách vườn cây thuốc
nam: Đây là một phần trong những kế hoạch của trường để giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, giúp các em biết cách chăm sóc cây ra sao và biết để được
vụ và trách nhiệm của nhà trường đối với các em học sinh và cha mẹ của các em.
Một số nội dung trọng tâm được nhà trường đặc biệt quan tâm thực hiện giáo dục
các em trong các năm qua đó là:
Trường tiểu học Nga Điền I nằm ngay cạnh tuyến đường liên tỉnh do đó
tôi xác định nội dung quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt phong trào đó là thực
hiện an toàn khu vực cổng trường. Vì vậy tôi tập trung thực hiện các biện pháp cụ
thể sau:
Qui định tất cả học sinh đi xe đạp khi ra khu vực cổng trường giờ tan học
không được chạy xe mà phải dắt xe qua khu vực đông người mới được phép lên
xe đi. Không đi bộ tràn ra lòng lề đường khi tan học. Giao cho tổng phụ trách Đội
và giáo viên chủ nhiệm triển khai thực hiện.
Thành lập đội trật tự cổng trường: hàng ngày các em có trách nhiệm nhắc
nhở mọi người thực hiện hành vi ứng xử văn hóa, chấp hành an toàn giao thông,
không làm ùn tắc cổng trường.
Giao cho bảo vệ trực tiếp thường trực và thực hiện công tác ổn định trật tự
giao thông khu vực cổng trường vào giờ đưa, rước học sinh.
Ngoài ra, tôi cũng đã chỉ đạo Đội TNTP Hồ Chí Minh nhà trường thực
hiện chương trình phát thanh măng non “Chúng em với an toàn giao thông" (mỗi
17
tuần 02 lần) vào giờ tan trường để nhắc nhở học sinh và phụ huynh cùng thực
hiện.
Nhờ thực hiện các biện pháp trên mà trong năm học khu vực cổng trường
an toàn, không có tai nạn giao thông xảy ra.
Ngoài việc chú trọng thực hiện nội dung trên thì nhà trường cũng thường
xuyên hướng dẫn các em kỹ năng vui chơi, sinh hoạt đúng cách để không để xảy
ra tai nạn. Công việc này được giao cho Tổng phụ trách Đội và giáo viên chủ
nhiệm phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn, nhắc nhở các em thực hiện.
Ví dụ: Nhắc nhở học sinh không sờ tay vào lỗ ổ cắm điện; không leo lên
sinh trường cùng với việc triển khai các nội dung khác thì nhà trường đặc biệt
chú ý đến vấn đề phối hợp để giáo dục kỹ năng sống cho các em. Có thể nói rằng
gia đình là cái nôi giáo dục tối quan trọng để hình thành kỹ năng sống cho các
em. Một số nội dung nhà trường trao đổi, phối hợp để phụ huynh thực hiện như:
Giáo viên chủ nhiệm gợi ý phụ huynh học sinh xây dựng và kiểm tra
việc thực hiện thời gian biểu ở nhà : Trao đổi với phụ huynh học sinh về quy định
18
thời gian biểu trong ngày cho các em. Giáo viên chủ nhiệm sẽ chịu trách nhiệm
hướng dẫn các em thực hiện thời gian biểu phù hợp. Ví dụ thời gian biểu buổi
sáng ngày bình thường của một học sinh như sáng 6 giờ dậy, đánh răng, rửa mặt,
quét nhà, ăn sáng sau đó đi học … sẽ phối hợp theo dõi, động viên, nhắc nhở các
em thực hiện theo thời gian biểu. Vào ngày thứ bảy, chủ nhật các em được nghỉ
thì cùng với mẹ nhặt rau nấu cơm, các em học sinh lớp lớn hơn có thể cắm cơm
phụ cha mẹ, chế biến một số món ăn đơn giản; dọn dẹp nhà cửa, lau bàn ghế …
Phối hợp giáo dục các em về các ứng xử văn hóa. Ví dụ như có khách
đến nhà, hoặc đi chơi nhà người khác các em phải thưa người lớn tuổi hoặc đơn
giản ở gia đình khi ăn cơm các em phải so đũa cho mọi người, cha mẹ ăn xong
phải lấy tăm cho cha mẹ …
Phối hợp trong việc tạo điều kiện cho các em tham gia các hoạt động
ngoại khóa: Vận động cha mẹ học sinh hỗ trợ và đồng ý cho các em tham gia các
hoạt động ngoại khóa như Hội khỏe Phù Đổng, biễu diễn văn nghệ, tham gia các
Câu lạc bộ….
Học sinh tham gia Hội khỏe Phù Đổng cấp trường
Ngoài việc phối hợp với gia đình thì việc phối hợp với các ban ngành
đoàn thể của xã để thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho các em cũng được nhà
trường chú trọng: Ví dụ phối hợp với Đoàn thanh niên xã để tổ chức các hoạt
động vui chơi trong hè cho các em học sinh, phối hợp với trạm y tế của xã để
cách giáo dục phù hợp. Phụ huynh học sinh đã quan tâm hơn đến việc GDKNS
cho con em của mình khi các em ở gia đình, phụ huynh không chỉ nhắc các em
học văn hóa mà còn chú ý đến việc GDKNS cho các em.
* Về phía học sinh
Thông qua các biện pháp giáo dục thì các em từng bước được bồi dưỡng
thêm các kỹ năng sống.
Học sinh nhà trường từ chỗ đa số các em chỉ biết đã đi đến hành động
bằng những việc làm cụ thể, các em đã biết biến cái "biết" thành cái "làm" trong
thực tế cuộc sông một cách tích cực, hài hòa, hiệu quả. Kĩ năng làm các công việc
lao động đơn giản; kĩ năng thực hiện nếp sống văn minh nơi công cộng; kĩ năng
tham gia giao thông an toàn; kĩ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của học
sinh … có những chuyển biến mạnh mẽ.
Kết quà về nhận thức của học sinh
Số học sinh chưa
Số học sinh có nền
Số học sinh còn mơ
tảng để phát triển
Tổng số học có nhận thức về kỹ
hồ về kỹ năng sống
năng sống
kỹ năng sống
sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
292
0
công tác giáo dục kỹ năng sống để các ngfkhacs học tập, rút kinh nghiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thị Tuyển – Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học –
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
2. Bộ giáo dục và đào tạo – Chương trình Giáo dục phổ thông cấp Tiểu
học,ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT của Bộ
Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thị Bảy – Bùi Ngọc Diệp – Bùi Đức Thiệp –
Ngô Thị Tuyên. Cẩm nang xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cuwjcc. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,2009.
4. Ngô Thị Tuyên (Chủ biên). Hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dung thân
thiện môi trường dành cho các trường Tiểu học.
XÁC NHẬN
Nga Sơn, ngày 01 tháng 4 năm 2016
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nguyễn Văn Sơn
Phạm Thị Hạnh
21
PHỤ LỤC 1
a. Gì cũng được.
b. Sinh hoạt truyền thống.
c. Sắm vai (diễn kịch, văn nghệ)
Câu 7: Em có cảm giác bức bối vì bị cha mẹ và thầy cô giám sát chặt chẽ
không?
a. Không có vấn đề gì?
b. Đôi khi.
c. Khó chịu quá.
Câu 8: Em thích giữ vai trò gì khi tham gia thảo luận trong nhóm học tập?
a. Gì cũng được.
b. Thư kí nhóm.
c. Nhóm trưởng.
22
Câu 9: Nếu có cơ hội lựa chọn, em sẽ chọn sinh hoạt dạng câu lạc bộ nào?
a. Em bận học lắm.
b. Câu lạc bộ môn học ưa thích.
c. Câu lạc bộ thể thao.
Câu 10. Em đang ở nhà một mình, một người tự xưng là nhân viên tiếp thị
đến và giới thiệu quảng cáo sản phẩm. Hành động của em là:
a. Kệ họ, nói hết họ sẽ đi.
b. Chọn hàng và mua hàng.
c. Mời họ đi luôn vì em không có nhu cầu mua.
Xin chân thành cảm ơn các bạn!
Cách đánh giá: Nếu phiếu chọn đa số đáp án a: Học sinh thiếu hiểu biết
tối thiểu về KNS, không có hiểu biết cần thiết về các vấn đề xung quanh nhận
thức về KNS. Nếu học sinh đa số chọn phương án b có thể nói độ tin cậy của
phiếu không đảm bảo vì nó nói lên sự lưỡng lự của học sinh giữa cách chọn một
phương án thực tế như suy nghĩ của em với một cách chọn phương án mà các em
C. Mệt mỏi
5. Có ý kiến cho rằng: “Học tập không cần thiết phải có hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp”, theo thầy (cô) ý kiến này là:
A. Hoàn toàn sai
B. Bình thường
C. Sáng suốt
6. Theo thầy (cô), có phải tất cả các môn học đều cần có hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp?
A. Cần cho tất cả các môn
B. Chỉ cần cho một số môn
C. Hoàn toàn không cần cho bất cứ môn học nào
7. Nếu có kế hoạch bỏ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thầy (cô) sẽ:
A. Dứt khoát phản đối
B. Còn tuỳ
C. Đồng ý ngay
8. Nếu được giảm một số tiết học trên lớp để tăng thời lượng cho hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp, thầy (cô) sẽ:
A. Đồng ý ngay
B. Sao cũng được C. Không đồng ý
9. Thầy (cô) có tổ chức đầy đủ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho
học sinh theo kế hoạch không?
A. Đầy đủ
B. Không đầy đủ C. Hoàn toàn không
10. Xin thầy (cô) hãy vui lòng cho biết suy nghĩ của thầy (cô) về vấn đề giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học
sinh phổ thông hiện nay là như thế nào?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................