DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
Cán bộ quản lý
CBQL
Giáo dục kỹ năng sống
GDKNS
Giáo dục
GD
Giáo viên
GV
Học sinh tiểu học
HSTH
Kỹ năng
KN
Kỹ năng sống
nhà trường
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng
Chương 2
sống
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
15
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU
2.1.
2.2.
HỌC Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Một vài nét về đặc điểm Bạc Liêu
Thực trạng về kỹ năng sống học sinh tiểu học ở thành phố
2.3.
Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
Chương 3
học sinh tiểu học ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
35
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ thứ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thế kỷ mà nền tri
thức hiện đại khoa học được đặt lên hàng đầu. Thực tiễn này đòi hỏi mỗi công
dân Việt Nam ra sức học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề, vì thế nền giáo dục
phải kịp thời nắm bắt nhu cầu trên mà từng bước thay đổi nội dung, chương
trình, phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với tình hình thực tế.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi,
thanh niên, học sinh đang trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt
trái của kinh tế thị trường và sự bùng nổ thông tin, với nhiều thông tin thiếu
lành mạnh đang tác động mạnh đến đời sống làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu
hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, tình
trạng bạo lực học đường ngày một gia tăng. Một trong các nguyên nhân là do
các em thiếu kỹ năng sống, các em chưa bao giờ được dạy cách đối mặt với
những khó khăn của cuộc sống như bị mất hy vọng, lòng tin, gia đình rạn nứt,
kết quả học tập kém… dần dần, các em có thể bị lôi cuốn vào lối sống thực
dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu. Các em không được
dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống và những KNS cần thiết nhằm giúp cho
các em có được cuộc sống tích cực hơn, năng động và sáng tạo hơn.
KNS không phải tự nhiên mà có, mà nó là cả quá trình rèn luyện, học
tập từ thực tế cuộc sống thông qua các mối quan hệ: gia đình – nhà trường –
xã hội, dưới sự ảnh hưởng của giáo dục. Trong đó, GD nhà trường có vai trò
hết sức quan trọng, GD nhà trường tạo ra những cơ sở quan trọng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách nói chung và KNS của trẻ nói riêng.
Việc GDKNS phải được bắt đầu từ nhỏ, đặc biệt là lứa tuổi HSTH.
HSTH tiếp cận với KNS bằng những nội dung thiết thực sẽ giúp cho các em
có được cách sống tích cực trong xã hội hiện đại. GD cho trẻ những kỹ năng
3
trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất
một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các
KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu trong
giai đoạn này quan niệm về KN sống theo nghĩa hẹp và đồng thời đồng nhất
nó với các kỹ năng xã hội.
Ở các nước phương Tây, KNS đã được quan tâm từ rất lâu. Mô hình
giáo dục của Edgard Morin người Pháp là phải giảng dạy về hoàn cảnh con
người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào, con
người xử lý bằng cách nào) và học cách sống.
Vấn đề giáo dục KNS cho người học đều được các nước quan tâm và
cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO,
tuy nhiên quan niệm và nội dung giáo dục KNS của các nước không giống
nhau. Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS
vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào trong chương trình chính
khóa Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước
được thực hiện theo 3 hình thức:
- KNS là một môn học riêng biệt.
- KNS được tích hợp vào một môn học chính thức.
- KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong nhà
trường.
GDKNS ở khu vực Asean đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều
nước:
Ở Lào, từ năm 1997 GDKNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo
chính quy, không chính quy và trường sư phạm đào tạo giáo viên nội dung
GD được tích hợp vào chương trình về cách phòng chống HIV/AIDS. Năm
2001 GDKNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như: GD dân số, giới
tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân, GD môi trường…
5
6
Tóm lại, GDKNS hiện nay của các nước trên thế giới ở mỗi quốc gia là
khác nhau về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện đúng chuẩn kỹ năng,
nhưng có nước cũng còn hạn chế về nội dung giáo dục. Những quan niệm, nội
dung giáo dục kỹ năng sống được triển khai vừa thể hiện nét chung nhưng
đồng thời cũng thể hiện nét riêng đặc thù của mỗi quốc gia. Nhìn chung các
quốc gia chưa có hệ thống các tiêu chuẩn đánh giá; hệ thống phương pháp
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Vì thế, việc quản lý GDKNS cần
được tiếp tục nghiên cứu ở các quốc gia cho nhiều độ tuổi khác nhau.
* Các nghiên cứu ở Việt Nam
Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong nhà trường từ những năm 1995
– 1996, thông qua dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và
phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do
quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào
tạo cùng Hội chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay nhiều cơ quan,
tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành GDKNS gắn với các vấn đề xã hội
như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ
nữ và trẻ em, phòng chống tại nạn thương tích… Các lớp dạy KNS như: “Học
kỳ quân đội”, “Hi Teacher”, “Teen năng động @.com”, “Học làm người có
ích”, “Một ngày để sống”, “Bữa cơm gia đình”, “Học làm bác nông dân”,…
Tại Việt Nam, vào đầu những năm 90, Thủ tướng chính phủ đã có văn
bản chỉ đạo số 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ
thống giáo dục quốc dân”, tuy công văn này chưa nói về GDKNS ở nhà
trường, tuy nhiên nội dung của công văn cũng đã đề cập đến việc trang bị cho
người học những vấn đề văn hóa ứng xử, về thái độ sống… Ở Chỉ thị số
10/GD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị số 24/CT&GD năm 1996 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống
HIV/AIDS hay tăng cường công tác phòng chống ma túy ở học đường ít
niên các cấp trong việc xây dựng các hoạt động phòng chống AIDS dựa trên
cơ sở cộng đồng, thực hiện các hoạt động phòng chống AIDS và KNS dựa
8
vào cộng đồng để nâng cao nhận thức, khuyến khích thay đổi hành vi cho
nhóm có nguy cơ cao. [4, tr.86]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã xuất bản cuốn “Bạn trẻ và kỹ năng sống”
(năm 2009). Nội dung cuốn sách này bàn về vấn đề hành trang cần có của
thanh niên hiện đại đó là KNS. Tác giả đưa ra những KNS cần thiết cho thanh
niên là: Tự đánh giá mình, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tác động đến tâm
lý của người khác.[44]
Hướng thứ 2, quan tâm đến KNS hướng vào sức khỏe, hành vi, cách
ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay GD lòng yêu hòa
bình cho học sinh. Theo hướng này có thể kể đến các công trình nghiên cứu
về KNS được đặc biệt chú ý, cụ thể là: Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp với
ngành Công an và Ủy ban an toàn giao thông Quốc gia đưa chương trình giảng
dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu Luật an toàn giao thông cho trẻ
em các trường từ mẫu giáo cho đến phổ thông trung học để trang bị cho các em
kiến thức ban đầu về luật lệ an toàn giao thông. [4, tr90]
Chương trình thực nghiệm mang tên “giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ
năng sống cho học sinh trung học” do UNICEF hỗ trợ (năm 2003). Ngoài
ngành GD, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là Trung ương
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Chương trình này nhằm tạo điều kiện cho học sinh trung học được tiếp cận
với thông tin liên quan đến những vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống khỏe
mạnh bao gồm cả HIV/AIDS; Giúp học sinh rèn luyện các KNS thiết thực để
ứng phó với các vấn đề như HIV/AIDS, lạm dụng ma túy và các chất kích
thích, tình trạng quan hệ tình dục và mang thai ở tuổi chưa thành niên. Huy
động sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng trong việc GDKNS cho
có KNS phù hợp với những tình huống gặp phải trong cuộc sống.
Tóm lại, cho đến nay, GDKNS vẫn còn là một trong những vấn đề mới
trong khoa học cũng như trong hệ thống GD Việt Nam. Các nghiên cứu về
GDKNS tại Việt Nam hay triển khai chương trình rèn luyện KNS cho học
10
sinh chỉ mới thể hiện rõ ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình
đào tạo. Chưa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình về giảng dạy KNS
cho học sinh. Đây chính là một trong những nguyên nhân hạn chế trong việc
GDKNS tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên kết quả các công trình nghiên cứu
về GDKNS cho học sinh như trình bày trên đã tạo cơ sở cho tác giả kế thừa
phát triển để xây dựng cơ lý luận cho đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh tiểu học ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn GDKNS cho
HSTH, luận văn đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng GDKNS nhằm
góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HSTH ở thành phố Bạc Liêu,
tỉnh Bạc Liêu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về GDKNS cho HSTH. Đánh giá thực
trạng của công tác GDKNS cho HSTH ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý GDKNS cho HSTH, nhằm nâng cao
chất lượng GD toàn diện ở các trường tiểu học ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc
Liêu.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDKNS cho HSTH ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
nói riêng. Đồng thời vận dụng các quan điểm logic - lịch sử, hệ thống - cấu
trúc và các quan điểm thực tiễn để xem xét phân tích các vấn đề có liên quan
đến luận văn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
12
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng dạng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của khoa học GD, cụ thể là:
6.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Mục đích: Thu thập thông tin, nắm bắt tình hình liên quan đến
GDKNS ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
+ Cách tiến hành: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các báo cáo có liên
quan đến GDKNS ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
+ Mục đích: Nắm được thực trạng giải quyết vấn đề có vận dụng KNS
của học sinh.
+ Cách tiến hành: quan sát thực tế học sinh của 4 trường khảo sát thông
qua các buổi ra chơi, sinh hoạt, nhất là các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp,
nhằm nắm bắt tình hình thực tế về KNS của các em học sinh.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
+ Mục đích: Thu thập thông tin từ cán bộ quản lý, GV, học sinh và phụ
huynh về thực trạng GDKNS, thực trạng nhận thức, các biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng GDKNS.
+ Cách tiến hành: sử dụng phiếu điều tra để khảo sát một vấn đề cần
nghiên cứu, thông qua hình thức trả lời trắc nghiệm, xử lý tình huống và
những ý kiến cần thiết khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn
Chng 1
C S Lí LUN QUN Lí HOT NG GIO DC
K NNG SNG CHO HC SINH TIU HC
1.1. Mt s khỏi nim c bn ca ti
1.1.1. Qun lý giỏo dc
GD là một hiện tợng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội, vì
thế nó cần và phải đợc quản lý. Từ đó, hình thành một dạng quản lý trong hệ
thống quản lý xã hội.
Cú nhiu quan nim khỏc nhau v QLGD, song thng ngi ta a ra
quan nim QLGD theo hai cp ch yu: cp v mụ v cp vi mụ.
* cp v mụ:
Qun lý v mụ tng ng vi khỏi nim v qun lý mt nn GD (h thng
giỏo dc) v qun lý vi mụ tng ng vi khỏi nim v qun lý mt nh trng.
cp v mụ, QLGD c hiu l h thng tỏc ng cú mc ớch, cú
k hoch ca ch th qun lý vo h thng GD quc dõn nhm huy ng v
t chc thc hin cú hiu qu cỏc ngun lc phc v cho mc tiờu phỏt trin
GD, ỏp ng yờu cu phỏt trin kinh t - xó hi ca quc gia.
Nh vy, QLGD theo ngha tng quan l hot ng iu hnh, phi
hp cỏc lc lng xó hi nhm lm cho ton b h thng giỏo dc vn hnh
theo ng li nguyờn lý GD ca ng, thc hin cú cht lng v hiu qu
mc tiờu phỏt trin GD v o to th h tr m xó hi t ra.
* cp vi mụ:
QLGD l h thng nhng tỏc ng cú mc ớch, cú k hoch ca ch
th qun lý vo h thng t chc GD ca nh trng nhm iu khin cỏc
thnh t trong h thng phi hp hot ng theo ỳng chc nng, ỳng k
hoch, m bo cho quỏ trỡnh giỏo dc t c mc ớch, mc tiờu ó xỏc
nh vi hiu qu cao nht.
15
Có nhiều cách định nghĩa về KN. Những định nghĩa này thường bắt
nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết. Tuy
nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng KN được hình thành khi chúng ta
áp dụng kiến thức vào thực tiễn. KN học được do quá trình lặp đi lặp lại một
hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. KN luôn có chủ đích và định
hướng rõ ràng.
Vậy, KN được hiểu là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện
thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc
kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
1.1.2.2. Kỹ năng sống
KNS (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào lứa tuổi
trong mọi lĩnh vực hoạt động: KNS là khả năng hay thao tác thực hiện một
hoạt động nào đó diễn ra trong cuộc sống.
Các tài liệu về KNS đề cập đến một lĩnh vực hoạt động từ học tập để
chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, KN làm cha mẹ đến tổ chức trại hè.
Tuy nhiên, một số tác giả phản biện giữa những KN để sống còn (livelihood
skills, survival skills) như: học chữ, học nghề, học làm toán… với KNS theo
cách đề cập này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với
những yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày, mà đặc biệt tuổi trẻ rất
cần để vào đời.
KNS là tất cả những kỹ năng cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống
thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp những khả năng, phẩm chất, hành
vi tâm lý, xã hội và văn hóa phù hợp, đương đầu được với những tác động của
môi trường.
Theo nhóm biên soạn tài liệu GDKNS của Vụ giáo dục thể chất chủ
biên là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì: “KNS là khả năng có được những hành vi
thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi
hỏi và thử thách của cuốc sống thường ngày”. [1, tr.19]
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành
vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ,
hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và
18
thái độ (ta đang làm gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào)
thành hành động (làm gì, và làm như thế nào). [33, tr.123]
GDKNS là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể GD
đến đối tượng GD nhằm nâng cao hiểu biết, khả năng vận dụng những kiến
thức, thái độ và phương thức hành động vào những tình huống nhất định
của đời sống, giúp họ thích ứng nhanh, xử lý, giải quyết đúng những đòi
hỏi, thách thức nảy sinh trong hoạt động và quan hệ xã hội.
1.1.3. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu
học
1.1.3.1. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu
học
Bản chất của quá trình quản lý hoạt động GD là sự tác động qua lại
giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm trao đổi thông tin, kiểm soát
và điều khiển hoạt động của các cá nhân và các bộ phận, bảo đảm cho bộ máy
tổ chức vận hành thông suốt, hoạt động GD đạt tới mục đích đã đề ra.
Do đó, quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học là những tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD ở đó đến toàn bộ quá trình
GDKNS nhằm nắm vững và điều khiển, điều chỉnh các hoạt động, nâng cao
nhận thức, định hướng thái độ và rèn luyện hành vi ứng phó một cách chủ
động, tích cực và phù hợp của học sinh với những tác động của môi trường
tự nhiên và xã hội.
- Chủ thể quản lý GDKNS cho HSTH.
- Đối tượng quản lý GDKNS cho HSTH.
- Mục đích quản lý GDKNS cho HSTH.
- Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng.
- Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Thực tế trong nhà trường, thông qua môn
Đạo đức, các hoạt động tập thể học sinh được dạy cách lễ phép nhưng khi đi
vào thực tế, nhiều em thiếu KN giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới
20
thiệu mình với người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc
không biết nói lời xin lỗi khi các em làm sai.
- Biết phân biệt hành vi đúng sai, phòng tránh tai nạn. Đây là KN quan
trọng mà không phải em nào cũng xử lý được nếu chúng ta không rèn luyện
thường ngày.
- Biết kiềm chế cảm xúc, thái độ hành vi của mình khi ứng xử với mọi
người, với mọi vật xung quanh, tránh những việc gây căng thẳng, cải vả trong
cuộc sống.
- Biết giải quyết các mâu thuẫn một cách hài hòa, hợp lý, biết khuyên
ngăn những hành vi sai trái, biết thông cảm và chia sẽ với mọi người xung
quanh. Thai độ và xử sự được chuẩn mực hơn, hài hòa hơn và tích cực hơn,
tạo ra được các môi quan hệ tốt với mọi người.
- Biết xin lỗi khi làm sai, biết khen khi có việc làm tốt và biết phê bình
tích cực khi một ai đó sai phạm.
Nhóm kỹ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí
Bao gồm các KN: KN giao tiếp, KN hợp tác, KN tư duy sáng tạo. Ờ
nhóm KN này đòi hỏi các em phải thực hành những nội dung cơ bản sau:
- Biết lắng nghe, đọc, quan sát, đưa ra ý kiến chia sẻ trong nhóm.
- Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung.
- Biết ứng xử tốt trong giao tiếp sinh hoạt, biết chia sẽ công việc, chia
sẽ những khó khăn từ các bạn khác.
- Biết hoạt động nhóm trong học tập vui chơi, lao động hợp tác và
luyện các kỹ năng sống cho học sinh trong các buổi sinh hoạt dưới cờ.
- Xây dựng trường, lớp xanh-sạch-đẹp-an toàn. Trong đó cần chú trọng
tạo môi trường tự nhiên gần gũi với cuộc sống như trồng vườn cây thuốc nam,
các câu khẩu hiệu ở các cây xanh, bồn hoa để thông qua đó mà giáo dục ý
thức bảo vệ mô trường ở các em.
22
GDKNS cho học sinh trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết
ở nhà trường nói chung, bậc tiểu học nói riêng. Trong lúc nội dung về rèn
luyện KNS chưa được đưa vào thành một chương trình riêng mà chủ yếu
được giáo viên lồng ghép trong từng bộ môn như giáo dục Đạo đức, Tiếng
Việt… hay trong các tiết chào cờ đầu tuần.
GDKNS bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, gần gũi với cuộc sống hằng ngày
để tạo cho trẻ một thói quen với những câu từ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với tâm lý
lứa tuổi của từng bậc học. GDKNS tuyệt đối không được áp đặt suy nghĩ chủ quan
của người lớn. Không ít thầy cô giáo, các bậc phụ huynh thẳng thắn phê bình khi
các em làm điều chưa tốt mà không tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân dẫn đến việc trẻ
làm sai. Dorothy Holte chuyên gia tâm lý học người Nga đã nói: “Nếu trẻ sống với
sự phê bình, thì trẻ sẽ học cách chỉ trích”. Vì vậy, chương trình GDKNS phải làm
sao xóa bỏ tư tưởng này.
* Sự cần thiết phải dạy kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Nó cần thiết đối với
HSTH để các em có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi
của bản thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của tự nhiên, cuộc sống với
mọi người xung quanh mang lại cho mỗi cá nhân cuộc sống thoải mái, lành
mạnh về thể chất, tinh thần và bền vững trong các mối quan hệ tự nhiên, xã hội.
Sau một thời gian áp dụng GDKNS ở một số nước trên thế giới, các
cuộc nghiên cứu đánh giá kết quả người ta nhận thấy những thanh thiếu nhi
đã được GDKNS có những hành vi đổi mới như:
Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực
tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.
Quản lý kỹ năng tự nhận thức tức là quản lý tốt sự giao tiếp, cảm nhận,
tâm lý của cá nhân với mọi vật xung quanh cuộc sống, quản lý tốt KN này
giúp con người phát triển tốt hơn sự hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con
người từ đó thích nghi và ứng xử đạt hiệu quả tốt hơn.
1.2.1.2. Quản lý kỹ năng kiểm soát cảm xúc
24
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của
mình trong một tình huống nào đó, hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với
bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể
hiện cảm xúc một cách phù hợp. KN xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác
như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống
gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên, có những tình huống có thể gây căng
thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và
ngược lại. Vì vậy, việc kiểm soát cảm xúc rất cần thiết đối với quá trình phát
triển của trẻ.
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng
giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách
hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề
tốt hơn.
Khi bị căng thẳng mỗi người có tâm trạng, cảm xúc khác nhau: cũng có
khi là những cảm xúc tích cực nhưng thường là những cảm xúc tiêu cực gây
ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Ở một
mức độ nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng thì đó
có thể là một tác động tích cực, tạo sức ép buộc cá nhân đó phải tập trung vào
công việc của mình, bứt phá thành công. Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn