LUẬN văn THẠC sĩ GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN THƯỜNG tín, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1.

Trang
3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học phổ thông
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trung học phổ thông
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát về tình hình giáo dục huyện Thường Tín, Thành
phố Hà Nội
2.2. Thực trạng việc quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín,
Thành phố Hà Nội
Chương 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI HIỆN NAY
3.1. Các nguyên tắc lựa chọn biện pháp
3.2. Một số biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín,

và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con
người chưa gặp phải. Con người muốn tồn tại được, sống được phải trang bị
KNS để giúp họ có thể giải quyết được những khó khăn thách thức của cuộc
sống. Nói cách khác, mỗi con người ngày nay muốn đến được bến bờ thành
công và hạnh phúc trong cuộc đời cần phải có một cách sống, có một số kiến
thức nhất định về các vấn đề của cuộc sống mà người ta thường gọi là KNS
để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hoá mà mục
đích chính là nâng cao chất lượng cuộc sống. GD KNS cho học sinh THPT là
một trong những nhiệm vụ quan trọng để giáo dục toàn diện trong nhà trường
nhằm giúp học sinh có khả năng thích ứng với yêu cầu luôn thay đổi của nhà
trường và của xã hội. GD KNS cho học sinh THPT có thể tiến hành theo con
đường dạy học và các con đường tổ chức hoạt động giáo dục, hoạt động xã
hội. GD KNS cho học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Năng lực giáo dục
của giáo viên, nội dung chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường, tính
tích cực chủ động của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục và tham
gia vào cuộc sống trải nghiệm, môi trường giáo dục trong và ngoài nhà
trường, các yếu tố quản lý của nhà trường và của người hiệu trưởng.
Thông qua các yếu tố quản lý giáo dục giúp cho mục tiêu, nội dung,
chương trình GD KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông được tiến
hành một cách có kế hoạch, có tính tổ chức và được kiểm soát một cách hệ
thống. Thực tế giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THPT nói riêng đã
đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên còn thiên lệch về mặt học vấn; gia đình,
nhà trường chưa quan tâm nhiều đến GD KNS cho học sinh, do vậy hiện
tượng lệch chuẩn về hành vi đạo đức, các biểu hiện thiếu văn hóa trong học

3


sinh vẫn thường xuyên xảy ra, nguy cơ bạo lực học đường có chiều hướng
ngày càng gia tăng.

động kĩ năng cao và công việc thu thập cao.
Tác giả Stephen R. Covey đã viết cuốn (7 thói quen của người thành
đạt). Đây là một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thế
giới. Tác giả muốn giới thiệu một phương pháp kết hợp toàn diện và thực tiễn
để giải quyết các vấn đề về tính cách con người và sự nghiệp. Tác giả cho
thấy từng bước của con đường phải đi để sống một cuộc đời trung thực, nhất
quán, lương thiện và xứng đáng với nhân phẩm. Gồm 7 thói quen:
Thói quen 1: Luôn chủ động
Thói quen 2: Bắt đầu bằng định hướng tương lai
Thói quen 3: Việc quan trọng làm trước
Thói quen 4: Lợi người - lợi ta
Thói quen 5: Hiểu rồi được hiểu
Thói quen 6: Cùng hiệp đồng
Thói quen 7: Sự tương hỗ lẫn nhau
Như vậy, nội dung cuốn sách cho người đọc thấy được những giá trị
sống cơ bản để thành công trong cuộc sống.
Một nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of
Labor) cùng Hiệp hội đào tạo và phát triển Mỹ (The American Society of
Training and Development) đã nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản trong công
việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần để thành công trong
công việc:
1. Kỹ năng học và tự học
2. Kỹ năng lắng nghe
3. Kỹ năng thuyết trình
4. Kỹ năng giải quyết vấn đề
5. Kỹ năng tư duy sáng tạo
6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn
5




Những kinh nghiệm và bài học rút ra từ các hoạt động GD KNS ở Lào là
cần phải biên soạn và in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn giảng dạy đào tạo giáo viên,
CBQL nhà trường để mở rộng việc học tập và giảng dạy KNS ở nhà trường.
Tháng 2 năm 2003 tại Bali – Inđonexia đã diễn ra hội thảo về GD KNS
trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước vùng Châu Á
Thái Bình Dương. Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung
nhưng cũng có nhiều nét riêng trong quan niệm về GD KNS của các nước.
Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của GD KNS trong giáo dục không
chính quy của các nước Châu Á – Thái Bình Dương là nhằm nâng cao tiềm
năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng yêu
cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự
thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hội thảo Bali đã đưa ra yêu cầu khi thiết kế chương trình GD KNS phải
đảm bảo 3 thành tố:
- Kỹ năng cơ bản: Đọc, viết, ghi chép, báo cáo.
- Kỹ năng chung: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải
quyết vấn đề…
- Kỹ năng cụ thể: Tạo thu nhập, tạo bình đẳng giới, bảo vệ sức khoẻ…
Tổng hợp các công trình nghiên cứu về KNS, chúng tôi nhận thấy đối
với học sinh THPT tập trung nghiên cứu và giáo dục, thực hành những kĩ
năng sau: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng
tạo, tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng
đương đầu với xúc cảm...
* Ở Việt Nam
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình
của UNICEF năm 1996 “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về
KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng cốt
7

8


Hướng thứ hai: Quan tâm đến các KNS hướng vào GD hành vi, cách
ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng
yêu hoà bình cho học sinh. Theo hướng này có thể kể đến các công trình như:
Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với ngành công an và Uỷ ban An toàn
giao thông quốc gia giảng dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật
An toàn giao thông cho trẻ em các trường từ mẫu giáo đến THPT để trang bị
cho các em những kiến thức ban đầu về luật An toàn giao thông.
Đề tài cấp Bộ “Giáo dục một số KNS cho học sinh THPT” Mã số
B.2005 – 75 – 126 do bà Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm đề tài và các cộng sự
trường Đại học sư phạm Hà Nội bắt đầu triển khai nghiêm cứu từ năm 2005 –
2006. Đề tài đã tiếm hành điều tra nhu cầu học sinh THPT về những KNS cần cho
lứa tuổi của các em, xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định chương trình giáo
dục KNS cho đối tượng này và tiến hành thử nghiệm một số chủ đề [3]
Nghiên cứu "GD KNS ở Việt Nam"- Trưởng nhóm là bà Nguyễn
Thanh Bình, nghiên cứu tập trung tìm hiểu quá trình nhận thức KNS và tổng
quan về các chủ trương, chính sách, điều luật phản ánh yêu cầu tiếp cận KNS
trong giáo dục và GD KNS ở Việt Nam từ mầm non đến người lớn thông qua
giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên [4,5].
UNICEF đã hỗ trợ xây dựng tài liệu GD KNS cho HS tiểu học miền
núi bao gồm những nội dung bổ trợ như giáo dục kĩ năng an toàn giúp các em
biết phòng tránh hoặc xử lý những tai nạn về sông nước, điện giật, sét đánh...
giáo dục trẻ em gái ở miền núi với các kĩ năng tự nhận biết mình thuộc giới
nào, giữ vẻ đẹp con gái, biết về tuổi dậy thì...
Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Uẩn bàn về: “Khái niệm KNS xét
dưới góc độ tâm lí học” (năm 2008). Tác giả đã đưa ra khái niệm “KNS là
một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của
con người. Giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với

các cảm xúc của bản thân, chưa biết đương đầu một cách hiệu quả với các
cảm xúc tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu với cảm xúc
tiêu cực [36].

10


Luận án tiến sỹ Giáo dục học của Phan Thanh Vân: “GD KNS cho học
sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL” (năm 2010). Luận án đã xác
định các KNS để hình thành cho học sinh THPT thông qua hoạt động GD
NGLL là các kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp; Xác định giá trị; kỹ
năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một
cách tích cực. Kết quả của việc hình thành những kĩ năng này là giáo dục cho
các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay
đổi hành vi ở các em theo hướng tích cực phù hợp mục tiêu phát triển toàn
diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái
độ và kĩ năng phù hợp [43].
Từ các công trình nghiên cứu về KNS ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã đưa
vào chương trình GD KNS cho học sinh THPT tập trung nghiên cứu, giáo dục và
thực hành KNS bao gồm: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lí GD KNS, từ đó đề xuất
một số biện pháp quản lý GD KNS cho học sinh các trường THPT huyện Thường
tín, Thành phố Hà Nội góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý GD KNS cho học sinh.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý GD KNS cho học sinh các
trường THPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội và nguyên nhân của

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt tư tưởng giáo dục và quản
lý giáo dục của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vận dụng
phương pháp luận nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, các phương

12


pháp nghiên cứu dựa trên các chủ trường chính sách của Đảng, nhà nước về
quản lý giáo dục KNS ở các nhà trường trên toàn quốc.
Khái quát hóa các văn bản có liên quan đến quản lý giáo dục KNS theo quan
điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử lôgíc và quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
chuyên ngành, bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu
thực tiễn,... để luận giải các nhiệm vụ của đề tài. Cụ thể là:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu, các văn bản, quy định, chỉ
thị hướng dẫn của nhà nước liên quan đến giáo dục KNS
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát:
+ Dự giờ lên lớp của một số lớp của trường THPT
+ Tìm hiểu những điều kiện dạy học, giáo dục KNS ở trường.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: quản lý hoạt động giáo dục KNS qua
các báo cáo thực hiện nhiệm vụ của trường, của ngành giáo dục và đào tạo.
Phương pháp Toạ đàm, Trao đổi kinh nghiệm quản lý dạy học.
Phương pháp Điều tra bằng phiếu hỏi: thăm dò ý kiến của cán bộ quản
lý, giáo viên và học sinh.
Phương pháp phân tích hồ sơ quản lý.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm quản lý giáo dục
* Khái niệm quản lý
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu
của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được
các mục đích của nó với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít
nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức
thì quản lý là một khoa học.
Nhà triết học V.G.Afanetser cho rằng: Quản lý xã hội một cách khoa
học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triển xã hội
và hướng sự vận động xã hội cho phù hợp khuynh hướng ấy, phát hiện và
giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại, duy trì
sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống, tiến hành một đường lối
đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan,
mối tương quan giữa những lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó, chặt chẽ
với nền kinh tế và sự phát triển tinh thần xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là
khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong
một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý song có thể khái
quát nội hàm của khái niệm quản lý đã đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau:

trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.

16


Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt
động dạy học, có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính
chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được
giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối ấy
thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại quan niệm về quản lý giáo dục như
sau: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch
hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối
giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ
trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mối về chất”.
Từ những quan niệm trên cho thấy khi nói đến quản lý giáo dục chứa
đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục.
Ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường THPT.
Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình kế hoạch
thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục
trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội. Phải có một lực lượng đông đảo những
người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật
tương ứng. Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụ
công tác giáo dục.
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,
trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất,
đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục.
Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng

chức quốc tế định nghĩa khái niệm KNS như sau:
Theo tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc
(UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và
tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
18


Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cho rằng: KNS là những kỹ năng mà
con người cần để có cuộc sống an toàn khoẻ mạnh. Đó là những kỹ năng mang
tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Theo chương trình GD KNS của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF, 1996): KNS bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận
thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ
năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình
của UNICEF (1996) “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường”. Khái niệm KNS được
giới thiệu trong chương trình này bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng
tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết
định, kỹ năng kiên định và kỹnăng đạt mục tiêu. Tham gia chương trình đầu
tiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. Sang giai đoạn 2 chương
trình này mang tên: “Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS”. Ngoài ngành Giáo
dục còn có Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Hội Liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: KNS là các kỹ năng thiết
thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh và hiệu quả. Theo
họ những kĩ năng cơ bản như: Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng từ chối, kỹ
năng thương thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết...

nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
1.1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trung học phổ thông
* Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục là một quá trình xã hội hóa nhân cách con người được tiến
hành có mục đích, có kế hoạch, có nội dung chương trình và được thực hiện
20


bởi đội ngũ những nhà sư phạm. Trong nhà trường THPT giáo dục được tiến
hành với nhiều nội dung khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện đó là: Giáo dục trí tuệ, giáo dục lao động, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ,
GD KNS vv...
Giáo dục KNS cho học sinh THPT được đặt trong mối quan hệ với
hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể của học sinh và các
hoạt động khác, thông qua những hoạt động đó giúp học sinh THPT có cơ
hội trải nghiệm nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học, giáo dục của
nhà trường và phát triển năng lực cá nhân học sinh đáp ứng yêu cầu của
cuộc sống.
“GD KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là
xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu
cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng
thích hợp” (www.vjol.info/Chuyên đề KNS - Nguyễn Thanh Bình [Tr11]).
Như vậy, GD KNS làm thay đổi những thói quen, hành vi tiêu cực
thành những thói quen, hành vi tích cực, nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống. Chất lượng đó được thể hiện thông qua việc các cá nhân đó giải quyết
các vấn đề của mình trong xã hội một cách hiệu quả.
Có thể quan niệm về giáo dục KNS cho học sinh là một quá trình tác
động có mục đích của chủ thể, thông qua các hoạt động giáo dục và tổ chức
cuộc sống nhằm hình thành cách sống tích cực, xây dựng những thói quen,

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm:
Quản lý GD KNS là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch,
có nội dung chương trình và được thực hiện bởi đội ngũ những nhà sư phạm
nhằm hình thành cách sống tích cực, xây dựng những thói quen, hành vi lành
mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học
có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp.
1.2. Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học phổ thông
22


Để đạt được mục tiêu của GD KNS cho học sinh, Hiệu trưởng nhà
trường tạo ra sự thống nhất những KNS cần được hình thành cho học sinh,
xây dựng một kế hoạch thống nhất, xác định được cơ chế hoạt động thống
nhất , từ đó lựa chọn, tổ chức, điều hành các nguồn lực, các tác động của nhà
quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch đã
vạch ra và chương trình giáo dục đã lựa chọn nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết.
1.2.1. Quản lý mục tiêu, kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông
1.2.1.1. Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học phổ thông
* Mục tiêu về nhận thức
Củng cố, bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp,
mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, với cộng đồng xã hội với các
em học sinh.
Vận dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề do thực tiễn
đời sống đặt ra, tạo cơ hội kiểm nghiệm những tri thức đó, làm cho nó đi vào
tiềm thức của học sinh một cách chắn chắn và lâu bền, kích thích sự phát triển
tư duy của các em.

tuổi, và tính khả thi của kế hoạch.
Huy động được các nguồn lực tham gia giáo dục một cách tích cực, cả
trong nhà trường và các lực lượng ngoài xã hội.
Có sự tham gia đóng góp xây dựng của lực lượng học sinh, vì các em là
chủ thể chính trong hoạt động GD KNS.
1.2.2. Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học phổ thông
* Kỹ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp có nghĩa là hiểu được các quy tắc giao tiếp ứng
xử chung như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, nói lời yêu cầu, đề nghị; biết cách
24


ứng xử phù hợp, bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ...với một số đối tượng,
gần gũi, quen thuộc với các em như thầy cô giáo, bạn bè, người thân trong gia
đình hoặc những đối tượng đặc biệt như phụ nữ có thai, người già, người có
hoàn cảnh khó khăn, người nước ngoài, người bị nhiễm HIV/AIDS; biết
cách làm việc theo nhóm, thuyết trình trước tập thể lớp, chi đoàn, chi
đội, giờ chào cờ đầu tuần; biết lắng nghe những ý kiến đóng góp của bạn bè,
người thân, người trên và có hành vi tự uốn nắn kịp thời, tích cực.
*Kỹ năng tự nhận thức, tự đánh giá về bản thân
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu biết về chính bản
thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân;
biết nhìn nhận, đánh giá đúng tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm
mạnh, điểm yếu....của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được
đang làm gì, kể cả lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng. Tự nhận thức là
một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng
xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được
với người khác.
Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết

các giai đoạn trưởng thành của con người. Giá trị phụ thuộc vào giáo dục
vào nền văn hoá, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân.
*Kỹ năng ra quyết định
Là kỹ năng có khả năng quyết định đúng, nên và không nên làm gì để
bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, để bảo vệ môi trường,
để phòng tránh bị xâm hại.
1.2.3. Quản lý hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh các trường trung học phổ thông
* Quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống
- Hình thức dạy học trên lớp: Hình thức GD KNS trên lớp là hình thức
tổ chức dạy học mà thời gian dạy và học được quy định một cách xác định và
ở một địa điểm xác định, giao viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất
tập thể theo từng môn. Tuỳ theo đặc điểm của từng môn học và đặc điểm của
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status