CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG CHO học SINH TRUNG học cơ sở THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM đáp ỨNG NHU cầu xã hội - Pdf 51

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI


- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu trên thế giới
Tầm quan trọng của các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
(GDKNS) được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm, coi các
hoạt động GDKNS giúp học sinh gắn kiến thức với cuộc sống, HĐ
này có ý nghĩa quan trọng trong công tác giáo dục thế hệ trẻ. Quản
lý các hoạt động này được xem có ý nghĩa thiết thực trong trường
phổ thông thể hiện qua các quan điểm từ trước đến nay như sau:
Thế kỷ XIX, C.Mác (1818-1883) và F.Anghen (1820-1895)[3]
đã xây dựng học thuyết mới trong lịch sử phát triển loài người. Các
ông không chỉ tổng kết, tìm ra quy luật của tiến trình phát triển
trong triết học, kinh tế và xã hội; hình thành chủ nghĩa Mác Lênin
có sức sống mãnh liệt qua không gian, thời gian mà các ông còn
được coi là ông tổ của nền giáo dục hiện đại. C.Mác và F.Anghen đã
xác định mục đích nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là tạo ra "con
người phát triển toàn diện". Quan điểm giáo dục của hai ông là phát
triển nhân cách con người về mọi mặt theo "phương thức giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất". Chính quan điểm này đã được Lênin
kế thừa và phát triển thành hiện thực nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Theo quan điểm của C.Mác và F.Anghen, kết quả của giáo dục là
con người có sức khoẻ, biết làm và có khả năng thích ứng với sự


biến đổi của nghề nghiệp. Trong những nghiên cứu về giáo dục,

phong phú thêm vốn sống cho các bạn trẻ, trang bị những giá trị tích
cực, các kỹ năng sống thiết thực, hữu ích trong hành trang bước vào
đời.
Như vậy, với quan niệm và cách phân loại có những nét khác
nhau. Nhưng tựu chung lại hầu hết các nước đều nhận thấy vai trò
quan trọng của việc hình thành kỹ năng sống cho người học.
- Nghiên cứu trong nước
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ
chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức
khỏe và phòng chông HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và
ngoài nhà trường”. Theo đó, KNS bao gồm những kỹ năng cốt lõi
như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá
trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đạt mục tiêu
v.v..


Trong giai đoạn hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu
trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói chung và KNS trong nhà
trường nói riêng như:
Ngành giáo dục đã triển khai chương trình giáo dục KNS vào
hệ thống GD chính quy và không chính quy. Nội dung GD của nhà
trường phổ thông được định hướng bởi nhiều mục tiêu, trong đó có
mục tiêu GD KNS. Bộ GD&ĐT cũng tăng cường công tác chỉ đạo
biên soạn sách, tài liệu GD KNS, công tác bồi dưỡng cán bộ, GV
trang bị kiến thức GD KNS cho HS.
Ngày 31 tháng 5 năm 2012, Bộ trưởng bộ GD&ĐT đã ban
hành Kế hoạch số 444/KH-BGDĐT [5] về việc tổ chức chương
trình tập huấn cán bộ cốt cán trường trung học phổ thông về việc
GD&ĐT, giá trị sống và giao tiếp ứng xử trong QLGD.
Trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kĩ năng sống” Nguyễn

- Nghiên cứu về “thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trung học cơ sở” (2010) của tác giả Mai Thị Kim Oanh, Viện
Khoa học giáo dục Việt Nam; đề tài này chuyên sâu tìm hiểu thực
trạng KNS của học sinh THCS và tổ chức GDKNS cho học sinh
trường THCS. Nghiên cứu về “Kỹ năng sống của sinh viên tại
trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa” (2013), tác giả
đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp giáo dục KNS cho người
học thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm.
- Đề tài: “Xây dụng hệ thống bài tập thực hành để luyện tập kỹ
năng giải quyết tình huống giao tiếp cho sinh viên Sư phạm Kỹ
thuật Công nghiệp, Trường ĐHSP Kỹ thuật Hưng Yên”. Ở đề tài
này mục tiêu là nhằm rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, nâng cao
khả năng giao tiếp cho sinh viên trong trường.
- Đề tài thạc sĩ của Huỳnh Phú Thịnh trường Đại học An
Giang (2013) “Rèn luyện KNS cho sinh viên thiệt thòi Trường Đại
học An Giang. Bài viết của Nguyễn Thị Tuấn Anh, trường Đại học
Thủ Dầu Một “Các bước chuẩn bị một bài thuyết trình hiệu quả”.
Đề tài thạc sĩ của giáo viên tâm lý học Nguyễn Hữu Long “Kỹ năng
sống cho lứa tuổi học trò” nghiên cứu nhận thức kỹ năng sống để tiến
đến việc hình thành kỹ năng hành vi cho học sinh. Đề tài “Xây dựng
hệ thống bài tập thực hành để luyện tập kỹ năng giải quyết tình huống


giao tiếp cho sinh viên Sư phạm kỹ thuật công nghiệp trường Đại học
Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên”; do nhóm giáo viên thực hiện nhằm rèn
luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, nâng cao khả năng giao tiếp cho các
sinh viên trong khoa.
Như vậy, HĐ GD KNS đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác
giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các
công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng

huống hàng ngày một cách có hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn
cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc, bao gồm:
1) Kỹ năng ra quyết định một cách đúng đắn
2) Kỹ năng sáng tạo
3) Kỹ năng giải quyết xung đột


4) Kỹ năng phân tích và đánh giá tình hình
5) Kỹ năng giao tiếp
6) Kỹ năng quan hệ liên nhân cách
7) Kỹ năng làm chủ cảm xúc
8) Kỹ năng làm chủ được cú sốc
9) Kỹ năng đồng cảm
10) Kỹ năng thực hành.
Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến nhiều
từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo
vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và
ngoài nhà trường”. Khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong
chương trình này bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: kỹ năng
tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra
quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu. Tham gia
chương trình đầu tiên này có ngành Giáo dục và Hội chữ thập đỏ.
Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khoẻ
mạnh và kỹ năng sống”. Ngoài ngành giáo dục còn có Trung ương
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam. Hội liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: Kỹ năng


sống là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc
sống an toàn, khoẻ mạnh và hiệu quả. Theo họ những kỹ năng cơ

- Nội dung giáo dục kỹ năng sống
Hiện nay nội dung GD KNS cho HS nói chung và HS THCS
nói riêng chưa có chương trình chuẩn, do vậy vậy xây dựng nội
dung GD KNS cho HS phụ thuộc vào trình độ đội ngũ đến tài chính,
cơ sở vật chất đến văn hoc, tập quán của đọa phương phương. Mặc
dù vậy, có thể khái quát giáo dục KNS cho học sinh THCS bao gồm
giáo dục các KNS cơ bản sau, cần thiết sau:
Theo công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 1 năm
2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống
tại các cơ sở GDMN, GDPT, GDTX thì nội dung GDKNS là:
Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ


năng phù hợp. Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành
mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi thói quen tiêu cực trong các
mối quan hệ,các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Như vậy có rất nhiều KNS mà con người cần phải học trong
suốt cả cuộc đời. Trên cơ sở thực trạng của GDKNS cho học sinh
trong nhà trường THCS trong những năm qua và hướng dẫn
GDKNS của bộ Giáo dục, có thể đề xuất những nội dung GDKNS
cho học sinh THCS bao gồm một số KNS cơ bản sau: KN chủ bản
thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợp với những người
khác và với xã hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của cuộc
sống. ...
Như vậy, nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS chủ yếu
tập trung vào nhận thức, đến thái độ và vận dụng để đưa ra hành vi
phù hợp là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống
cụ thể nhằm trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng sống hòa nhập
với gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, giúp các em có bản lĩnh
đối mặt, tháo gỡ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống



Ngoài ra có thể sử dụng một số phương pháp khác như
phương pháp giao nhiệm vụ, dự án, Đàm thoại, chia sẻ, trò chuyện;
Động viên, khích lệ, khen thưởng; Sử dụng những câu chuyện đời
sống; Thông qua hoạt động trải nghiệm; Thông qua các cuộc thi;
Phương pháp giao việc...
Trên đây là một số phương pháp chủ yếu trong tổ chức giáo
dục KNS được vận dụng từ các phương pháp giáo dục và phương
pháp dạy học. Tuy nhiên, khi vận dụng những phương pháp, người
GV cần lựa chọn các phương pháp phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
đến điều kiện nhà trường.
Về các con đường GD KNS cho HS trong trường THCS, GV
có thể đưa nội dung giáo dục KNS lồng ghép, tích hợp vào một số
môn học có ưu thế như: GDCD, Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn... GV cần
chú ý mức độ tích hợp, lồng ghép kiến thức cho phù hợp, tránh làm
thay đổi kiến thức cơ bản của bài dạy. Giáo dục KNS có thể thông
qua giảng dạy các chủ đề tích hợp kiến thức mới. Chương trình GD
KNS được cấu trúc thành các chủ đề. Trong từng chủ đề đều có thể
tích hợp các kiến thức mới cho học sinh. Căn cứ vào chủ đề giáo
dục của tháng, mỗi tháng có thể xây dựng chương trình giáo dục
hướng đến tập trung giáo dục một HĐTN phù hợp.


GDKNS có thể thực hiện thông qua HĐTN thông qua các
HĐNGLL, hoạt động xã hội như: các cuộc thi tìm hiểu về truyền
thống, các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham gia các lễ hội truyền
thống, tham gia phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ
nguồn,...
GD KNS có thể thông qua hoạt động tạo lập kiến thức mới

của pháp luật.
- Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm
trong trường trung học cơ sở
- Hoạt động trải nghiệm


Cuốn Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo trong trường trung học [41, tr.19], của tác giả Đinh Thị
Kim Thoa cho rằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong
việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời
sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và chuyển hóa
dần thành năng lực.
Theo Bùi Ngọc Diệp trong cuốn Một số vấn đề chung về hoạt
động trải nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông [17, tr.16], hoạt
động trải nghiệm sáng tạo là một biểu hiện của hoạt động giáo dục
đang tồn tại trong chương trình giáo dục hiện hành. Hoạt động trải
nghiệm sáng tạo là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với
môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự chủ trải
nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm
chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều
chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng
phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động day
học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo
dục. Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực
sáng tạo của người hcoj và được tổ chức thực hiện một cách linh
hoạt sáng tạo.


Theo Lê Huy Hoàng trong cuốn Tổ chức các hoạt động trải

của hoạt động thực tế, được nhà trường và các nhà giáo dục tổ
chức trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực tự giáo dục của bản thân
người học nhằm phát triển cho họ các kỹ năng giao tiếp, giải quyết
tình huống trong cuộc sống và ứng phó với thách thức của bối cảnh.
- Vai trò giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải
nghiệm ở trường THCS
Thứ nhất: Tạo cơ hội gắn kết giữa lý luận và thực tế xã hội
GD KNS thông qua HĐTN sẽ tạo cơ hội cho học sinh trong
quá trình trải nghiệm thể hiện được giá trị bản thân mình, thiết lập
được các quan hệ giữa cá nhân với tập thể, với các cá nhân khác,
với môi trường học và môi trường sống. Sự trải nghiệm có ý nghĩa
sẽ huy động tổng thể các giá trị của cá nhân từ cảm xúc đến ý thức


và hành động. Sự trải nghiệm huy động toàn bộ năng lực hành động,
sự liên kết trách nhiệm của bản thân với xã hội.
GD KNS thông qua HĐTN có thể quan sát trực tiếp được qua
hành vi của người được giáo dục qua sản phẩm của quá trình giáo
dục. Ưu thể của GD KNS với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng,
diễn ra trên bình diện rộng, tạo môi trường gắn lí luận với thực tiễn.
Các hoạt động thực tiễn về khoa học kĩ thuật, hoạt động xã hội, văn
hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí…cùng tập thể có tác động mạnh mẽ,
sâu sắc tới đời sống tình cảm của học sinh. GD KNS là môi trường
rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tài năng, thiên hướng cá nhân cho
học sinh. Qua đó mà các mối quan hệ giữa con người với đời sống
xã hội, với thiên nhiên và môi trường sống được hình thành. GD
KNS thông qua HĐTN là môi trường tốt cho việc phát triển toàn
diện nhân cách cho học sinh, là điều kiện tốt nhất để các em phát
huy vai trò chủ thể, chủ động, sáng tạo trong quá trình rèn luyện và
học tập, góp phần hình thành tình cảm và niểm tin đúng đắn.

+ GD KNS thông qua hoạt động trải nghiệm giúp HS bổ sung,
củng cố và hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp; giúp cho
các em có những hiểu biết mới, mở rộng nhãn quan với thế giới
xung quanh, cộng đồng xã hội.
+ GD KNS thông qua hoạt động trải nghiệm giúp HS biết vận
dụng những tri thức đã học để giải quyết các vấn đề do thực tiễn đời
sống (tự nhiên, xã hội) đặt ra, giúp các em định hướng nghề nghiệp
trong tương lai, biết tự điều chỉnh hành vi, lối sống cho phù hợp
chuẩn mực đạo đức. Qua đó cũng từng bước làm giàu thêm những
kinh nghiệm thực tế, xã hội cho các em.
+ GD KNS thông qua hoạt động trải nghiệm giúp HS định
hướng chính trị, xã hội, có những hiểu biết nhất định về truyền
thống dân tộc ví dụ như về Bác Hồ, về Đảng, về Đoàn, về Đội…mà
thực hiện tốt nghĩa vụ của HS, của Đội viên, của Nhi đồng.
+ GD KNS thông qua hoạt động trải nghiệm tạo điều kiện cho
HS quan sát và trải nghiệm các hoạt động thực tiễn đến hình thành
và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội.
+ GD KNS thông qua HĐTN giúp học sinh không chỉ tạo điều
kiện cho HS được tham gia xã hội mà còn là cơ hội để HS phát huy khả
năng của cá nhân.


- Nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống thông qua
hoạt động trải nghiệm
+ Phát triển nội dung, chương trình GD KNS thông qua
HĐTN
+ Phát huy năng lực, sở trường của học sinh đặc biệt tổ chức
cho HS các hoạt động.
+ Tổ chức khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các
em tích cực tìm tòi phát hiện những kiến thức mới trên nền tảng lý


hoạt tập thể đến giao lưu

- Các

hoạt động thiện nguyện như hoạt động cộng đồng, từ

thiện...
- Hoạt

động lao động như vệ sinh đường phố, lao động công

ích,…
- Hoạt động giao lưu đến hoạt động bảo vệ môi trường (tổng
vệ sinh trường, lớp, đường làng, ngõ xóm; trồng cây, trồng hoa ở
sân trường, vườn trường, đường làng, ngõ xóm...)
- Nhu cầu xã hội về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Giáo dục Việt nam từ năm học 2002 – 2003 trở về trước chưa
thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện như đã đặt ra vì phương
thức giáo dục còn nặng nề về cung cấp kiến thức, sử dụng những
phương pháp làm cho người học thụ động, không khuyến khích,phát
huy được tư duy phê phán, sáng tạo v.v..Hiệu quả ngoài của giáo
dục (khả năng đáp ứng của người học đối với yêu cầu của cuộc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status