CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN
LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Hiện nay các vấn đề về KNS, giáo dục KNS được nhiều
nước trên thế giới quan tâm, nghiên cứu, cụ thể:
- Công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Đầu thế kỷ thứ XX, với quan điểm “Việc tạo ra một môi
trường thích hợp, một giai đoạn quan trọng cho sự phát triển
bước đầu giúp trẻ tự học”, bắt đầu từ Mỹ, nhưng nó nhanh
chóng lan rộng tới các nước khác và trở thành khuynh hướng
với truyền thống của Anh và Tây Âu, một số người gọi đó là
chương trình thực dụng hay còn gọi là giáo dục lấy học sinh
làm trung tâm. Herbert Spencer là người đầu tiên đặt ra câu
hỏi: “Kiến thức nào là quý giá nhất? ” và câu trả lời là: “Đó
là kiến thức giúp cho người trẻ tuổi có thể giải quyết các vấn
đề và chuẩn bị cho họ biết cách giải quyết các vấn đề mà họ
sẽ gặp phải” [17]. Giáo sư người Mỹ John Dewey đã tiếp
nhận ý tưởng này và biến nó thành trào lưu chung: Phong trào
lấy học sinh làm trung tâm (học thuyết thứ tư). Triết lý tiến bộ
này ngày càng được quan tâm và phát triển ở nhiều nước, tuy
nhiên vẫn chứa đựng hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ
nhất cho rằng giáo dục cần phải lấy học sinh làm trung tâm và
giáo dục cần dựa trên nhu cầu của từng học sinh. Xu hướng
thứ hai là lấy xã hội làm trung tâm, coi mục đích căn bản của
trường học là xây dựng lại xã hội.
nhau, và để phát triển đầy đủ nhất tiềm năng của mỗi người
trong xã hội dẫn đến sự xây dựng nhân cách của mỗi người.
[22]
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” được người Việt Nam biết đến
bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) về “Giáo dục kỹ
năng sống để bảo vệ sức khỏe và chống HIV/AIDS cho thanh
niên trong và ngoài nhà trường”. Chương trình do chuyên gia
Australia tập huấn
Năm 2003: UNICEF tài trợ cho giáo dục nhằm mục đích
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và từ đây giáo dục bắt
đầu quan tâm đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trên
mọi lứa tuổi.
- Công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Đầu thập niên 90: “Thủ tướng chính phủ Ban hành Quyết
định số 1362/QĐ.TTg về việc đưa nội dung giáo dục môi
trường vào hệ thống giáo dục quốc dân, nội dung Quyết định
đã đề cập đến việc trang bị cho người học những vấn đề về
văn hóa ứng xử, thái độ”.
Năm 2001: Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống
khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” do
UNICEF tài trợ.
Năm 2005: Luật giáo dục của Nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã đề cập đến kỹ năng sống, giáo dục Việt
Nam quan tâm đến vấn đề phát triển toàn diện cho người học
nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và phát triển
của nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ công nghệ thông tin như
hiện nay.
sinh”.
Năm 2009: Trung tâm hỗ trợ sinh viên thành phố Hồ Chí
Minh đã viết cuốn tài liệu “Những kỹ năng thực hành xã hội
dành cho sinh viên”.“Tài liệu là cẩm nang gồm các kỹ năng
sống và việc làm dành cho những người trẻ trong thời kỳ hội
nhập và phát triển đất nước.”
Năm 2012: Bộ GD&ĐT mở khóa tập huấn tăng cường
giáo dục KNS trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở
trường phổ thông cho hơn 700 giáo viên đại diện cho giáo
viên ở 23 tỉnh phía Nam; một số chương trình dự án như:
chương trình thực nghiệm “giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ
năng sống” do UNICEF hỗ trợ đã được triển khai thí điểm ở
20 trường học thuộc các quận, huyện của các tỉnh: Lạng Sơn,
An Giang, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2013: Bộ GD&ĐT xây dựng kế hoạch số 1088/KHBGDĐT ngày 29/8/2013 về việc hoàn thiện bộ tài liệu giáo
dục KNS trong một số môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu
học, THCS và THPT trên toàn quốc. Kế hoạch đã điều chỉnh
việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh phổ thông ở các môn
học Ngữ văn, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân và Hoạt
động giáo dục NGLL.
Từ năm học 2013-2014 Bộ GD&ĐT Ban hành Thông tư
số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012; Thông tư số
31/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 ban hành quy định, quy
chế, nội dung, chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo
viên Mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, trong
đó có nội dung về giáo dục KNS cho học sinh. Thông qua
việc thực hiện bồi dưỡng thường xuyên đã trang bị cho giáo
viên những kiến thức, phương pháp tổ chức các hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần giảm
thiểu các tệ nạn trong xã hội. Các công trình nghiên cứu về
giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua các hoạt động
giáo dục NGLL, thông qua việc dạy lồng ghép các môn học
cơ bản như:
Tác giả Nguyễn Thanh Bình, nghiên cứu giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh THCS, đề tài được triển khai dưới góc độ
tiếp cận xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của
các tỉnh, vùng khó khăn của Việt Nam. Tác giả Lê Hồng Sơn
nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống dưới góc độ tiếp
cận giáo dục kĩ năng hoạt động xã hội cho sinh viên. Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hạnh nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống
thông qua dạy học môn đạo đức lớp 3 ở trường tiểu học. Tác
giả Nguyễn Thị Tính nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc. Tác giả Phan
Thanh Vân nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
THPT theo tiếp cận mục tiêu giáo dục toàn diện với 4 trụ cột:
“Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để
làm người”.
- Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh ĐHSP Hà Nội (2008).
Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học “Biện pháp giáo dục giá trị
sống cho học sinh trường THCS thị trấn Nam Sách, huyện
Nam Sách, tỉnh Hải Dương”.
- Tác giả Trần Phúc Nam ĐHSP Hà Nội (2012). Luận
văn Thạc sỹ Giáo dục học “Quản lý giáo dục KNS cho học
sinh các trường PT DTNT tỉnh Đắk Lắk”.
- Tác giả Lâm Thị Thanh Hương ĐHSP Hà Nội (2013).
Luận văn Thạc sỹ Quản lý Giáo dục học “Quản lý giáo dục
giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống,
những thách thức diễn ra trong cuộc sống”.
Theo UNICEF: “KNS là khả năng chuyển đổi kiến thức
(phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào
hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm
như thế nào)” [10].
Theo UNESCO (tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục
của Liên hiệp quốc): KNS là những kỹ năng thiết thực để xây
dựng năng lực nhằm giúp một cá nhân thực hiện đầy đủ các
chức năng khi tham gia các hoạt động hàng ngày. KNS gắn
với bốn trụ cột của giáo dục đó là:
- Học để biết (Learning to know)“gồm các kỹ năng tư duy
như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải
quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả”...
- Học để làm (Learning to do)“gồm các kỹ năng thực hiện
công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm
nhận trách nhiệm”…
- Học để cùng chung sống
(Learning to live
together)“gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương
lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện
sự cảm thông”…
- Học để tồn tại (Learning to be)“gồm các kỹ năng cá
nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự
- Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Theo UNICEF hay UNESCO cho rằng giáo dục KNS
không phải là một lĩnh vực hay môn học nhưng nó cần và được
giáo dục cho học sinh thông qua giảng dạy các môn học, tổ
chức các hoạt động giáo dục và là kỹ năng quan trọng trong quá
trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời.
Ở một số quốc gia, giáo dục KNS cho học sinh được lồng
ghép vào các môn học, chủ đề, ngoại khoá.
Ở nước ta giáo dục KNS được xem xét dưới hai khía cạnh
khác nhau:
- Giáo dục KNS là một lĩnh vực học tập như: giáo dục sức
khỏe, giáo dục về truyền thống, giáo dục giới tính ...
- Giáo dục KNS như là một cách tiếp cận giúp giáo viên
tiến hành giáo dục có chất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học
tập.
Như vậy giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp
cận giáo dục nhằm mục đích giúp người học có khả năng tự
giải quyết những những tình huống, những vấn đề nảy sinh
trong cuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả phù hợp với
mục tiêu giáo dục, người học có cách sống phù hợp với xã hội
hiện đại.
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi cho
người học về hành vi, làm cho con người tích cực, chủ động
hơn trong mọi tình huống của cuộc sống, con người có kỹ
năng ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc
sống và trong học tập; thông qua đó mà người học được rèn
luyện năng lực tư duy và là đòn bẩy làm tiền đề cho chất
lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn diện
+“Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:
Là các kỹ năng cụ thể như là kỹ năng tự nhận thức bản thân,
kỹ năng tự xác định giá trị cho bản thân, ứng phó với những
khó khăn trong cuộc sống về tâm sinh lý, điều kiện, môi
trường sống”…
+“Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với người khác
gồm các kỹ năng như giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu
thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác”…
+“Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả
gồm các kỹ năng cụ thể như: tìm kiếm và xử lý thông tin, tư
duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn
đề”…
Với đề tài này tác giả nghiên cứu 10 kỹ năng sống cơ bản
trong giáo dục cho học sinh THCS là: Kỹ năng hợp tác và chia
sẻ, kỹ năng giao tiếp và ứng xử, kỹ năng tự nhận thức và đánh
giá bản thân, kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông, kỹ
năng đánh giá , kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng đối diện và ứng
phó với khó khăn trong cuộc sống, kỹ năng định hướng mục
tiêu, kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả, kỹ năng điều chỉnh và
quản lý cảm xúc.
- Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
- Đặc điểm học sinh THCS
Các nhà nghiên cứu cho rằng giữa giáo dục và phát triển
nhân cách tác động qua lại với nhau mật thiết, vì thế để tác
động có hiệu quả đến sự phát triển nhân cách của con người
thì giáo dục phải dựa vào những đặc điểm nhân cách của từng
lứa tuổi nhất định.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Các nhà tâm lý học
trò quan trọng: đó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi
trưởng thành.
Đây là lứa tuổi có sự thay đổi đặc biệt về thể chất cũng
như tinh thần của các em. Có sự thay đổi về cả thể chất, trí
tuệ, tình cảm, đạo đức … và ngược lại ở lứa tuổi này cũng lại
có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”.
Tuy nhiên ở cùng độ tuổi nhưng các em lại có sự khác biệt về
sự thay đổi đó, nguyên nhân chính là do phụ thuộc vào điều
kiện sống, môi trường, hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau
của các em đã tạo nên.
“Còn xét về những giai đoạn phát triển của một đời
người, lứa tuổi học sinh THCS hay còn gọi là lứa tuổi thiếu
niên có một vị trí và ý nghĩa rất quan trọng, đó là thời kì
chuẩn bị cần thiết nhất cho những bước trưởng thành sau này.
Làm nền tảng cho sự hình thành và sẽ được tiếp tục phát triển
trong tuổi thanh niên nhân cách của một con người.”
Nếu chúng ta hiểu rõ về vị trí và ý nghĩa của các giai
đoạn phát triển tâm lý của lứa tuổi thiếu niên, thì chúng ta có
cách nuôi dưỡng, đối xử và GD đối tượng này một cách đúng
đắn giúp các em hình thành một nhân cách toàn diện.
- Tâm sinh lý HS THCS
Ở lứa tuổi học sinh THCS hay còn gọi là lứa tuổi thiếu
niên có sự phát triển mạnh về cơ thể nhưng lại không cân đối
dẫn đến làm cho các em lúng túng, vụng về và lóng ngóng
trong mọi hoạt động của các em, làm tinh thần bất an dẫn đến
ảnh hưởng về việc học tập của các em.
Với sự phát triển mạnh mẽ của các tuyến nội tiết trong cơ
thể của các em ở giai đoạn này đã tạo ra nhiều thay đổi trong
em lên đến lứa tuổi học sinh THCS ít được bố, mẹ chăm sóc
chu đáo.
Với những khó khăn như trên mà đã làm cho học sinh dân
tộc lứa tuổi này tạo ra những giá trị khác nhau trong từng gia
đình, và các em thường hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ
trong cuộc sống của các em.
(b) Trong nhà trường
Với trường PT DTNT THCS thì học sinh được học tập và
sinh hoạt tại trường hàng ngày, học sinh ở lại trường.
Vì vậy hoạt động học tập và các hoạt động khác của học
sinh tại trường DTNT đòi hỏi các em có thái độ tích cực và
độc lập hơn, tạo điều kiện cho các em thể hiện khả năng của
bản thân và thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của mình.
Bên cạnh đó sự thay đổi về nội dung dạy học đã tác động
đến các em. Vào học trường THCS, các em được tiếp xúc với
nhiều môn học khác nhau khác so với học tiểu học. Từ đó đòi
hỏi các em phải có sự thay đổi về cách học, cách sinh hoạt có
nề nếp khác với sống tự do như ở gia đình.
Ở lứa tuổi này các em thường hay năng động, đùa nghịch,
tự do những ở trường nội trú thì phải chịu các nội quy của nhà
trường, nội quy khu nội trú, học tập, lao động, sinh hoạt theo
giờ giấc đó cũng là một khó khăn cho các em khi mới vào
trường.
Đặc biệt là ở trường các em phải học 2 buổi trên ngày
theo quy định tại công văn Số: 7291/BGDĐT-GDTrH “V/v:
Hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày đối với các trường trung
học”.Ngoài ra buổi tối các em cũng phải lên lớp tự học bài và
được cô giáo, thầy giáo trực hướng dẫn các em học bài. Với