tiểu luận kinh tế lượng mức độ tác động của các yếu tố đến kết quả kinh doanh của các NHTM việt nam thông qua chỉ số ROA quý 4 năm 2018 - Pdf 64

TRƯỜNG

ĐẠI

HỌC

NGOẠI

THƯƠNG

KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
----------

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
ĐỀ TÀI:
MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN KẾT QUẢ KINH
DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG
QUA CHỈ SỐ ROA QUÝ 4 NĂM 2018
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thúy Quỳnh
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 - Lớp: KTE309.3







Nguyễn Thị Ngọc Ánh –
Vũ Thùy Dương
Nguyễn Thị Khánh Hạ
Võ Thị Nga - 1713310110

lượng, bên cạnh đó, xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
các nhân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 2018 từ đó đưa ra một số gợi ý với
nhà quản trị để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Để thực hiện đề tài, đối tượng tập trung là các ngân hàng TMCP Việt Nam, nghiên
cứu sử dụng số liệu của 20 ngân hàng lớn nhỏ thống kê trong báo cáo tài chính đã
được kiểm toán toàn bộ năm 2018.
Cấu trúc tiểu luận
Chương I: Cơ sở lý thuyết về ROA : Trình bày tổng quan ROA, các yếu tố nghiên
cứu từ công trình trước có ảnh hưởng đến.
Chương II: Xây dựng mô hình: Tiến hành xây dựng mô hình, phân tích dự đoán sự
ảnh hưởng của các yếu tố
Chương III: Kết quả ước lượng và suy diễn thống kê: Tiền hành hồi quy trên Gretl,
kiểm định và khắc phục mô hình.

4


Trong quá trình nghiên cứu, chúng em gặp một số khó khăn, hạn chế: thiếu kinh
nghiệm trong thực hiện một đề tài nghiên cứu, các kĩ năng cũng như kiến thức về
Kinh tế lượng chưa thành thục, mức độ hiểu biết về hệ thống ngân hàng chưa thật
sự sâu rộng, luồng thông tin chính là báo điện tử,.. Vì những khó khăn và hạn chế
đó, chắc chắn tiểu luận sẽ có những sai sót, rất mong cô có thể thông cảm, đưa ý
kiến đóng góp để bài tiểu luận của chúng em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành
cảm ơn!
Chương I: Chỉ số ROA phản ánh hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP
Việt Nam
1. Các lý thuyết liên quan đến đề tài:


Đo lường hiệu quả kinh doanh qua chỉ số ROA-tỷ số lợi nhuận ròng


Mối quan hệ giữa hệ số nợ trên tổng tài sản và hiệu quả kinh doanh

Tỷ số nợ trên tài sản (hay Tỷ lệ nợ trên tài sản, Tỷ số nợ trên tổng tài sản, Tỷ số nợ
D/A) là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh
nghiệp.
Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ
ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị
tổng tài sảntrong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp. Công thức tính như sau:

Tỷ số nợ trên tài sản = 100% x

Tổng nợ
Tổng tài sản

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay.
Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá
nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả
năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết
khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi
vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài
chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi
ro của doanh nghiệp cao hơn.
.3

Mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và hiệu quả kinh doanh

Lãi suất ngân hàng là tỷ lệ phần trăm giữa tiền vốn gửi vào hoặc cho vay với mức
lãi trong một thời kỳ nhất định do ngân hàng quy định hoặc thỏa thuận phù hợp với

2/ Xét trên góc độ vi mô, sự ảnh hưởng của thay đổi lãi suất tín dụng thể hiện ở hai
góc độ:

7


Một là, lãi suất tín dụng là công cụ thực hiện các hoạt động của các trung gian tài
chính trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh để đảm bảo tính tự chủ tài chính của các
tổ chức này, tạo ra nguồn lực tài chính để các tổ chức này tồn tại và phát triển.
Hai là, lãi suất tín dụng tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh
nghiệp và đời sống của dân cư. Đối tượng sử dụng dịch vụ này thông thường các
khách hàng cá nhân. Khi gửi tiết kiệm một số tiền vào một khoảng thời gian nhất
định, bạn được hưởng lãi suất tiết kiệm tương ứng với kỳ hạn đó. Ngân hàng sẽ phát
hành cho bạn sổ tiết kiệm tương ứng số tiền, kỳ hạn và lãi suất...
Tóm lại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm càng lớn càng thu hút người có tiền gửi vào ngân
hàng. Thay vì trước đây, mọi người có tiền đều để dưới dạng “tiền chết”, đồng tiền
không được sinh lời. Hơn nữa trước đây lãi suất tiền gửi tiết kiệm lại rất thấp khiến
họ không muốn gửi. Bởi vậy, các Ngân hàng cũng không có thêm vốn để kinh
doanh => hiệu quả kinh doanh còn thấp
.3

Mối quan hệ giữa sự niêm yết cổ phiếu và hiệu quả kinh doanh

Khi niêm yết giá cổ phiếu sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Cụ
thể như sau:
Tiếp cận kênh huy động vốn dài hạn: khi tham gia niêm yết cổ phiếu trên TTCK,
doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng từ
việc phát hành cổ phiếu dựa trên tính thanh khoản cao và uy tín của doanh nghiệp
được niêm yết trên thị trường. Huy động theo cách này, doanh nghiệp không phải
thanh toán lãi vay cũng như phải trả vốn gốc giống như việc vay nợ, từ đó sẽ rất chủ


Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ
về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi
các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ
quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của
khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu
hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với
các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các
doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ
hoặc phá sản,.... Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những
9


khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì
trước.
Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho doanh
nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh nghiệp là không
thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng để thu thập các số
tiền nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc chi phí của
việc theo đuổi hành động hơn nữa trong một nỗ lực để thu thập các khoản nợ vượt
quá các khoản nợ của chính nó.
Như vậy, tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng càng lớn dẫn đến thu hồi vốn kém làm cho
hiệu quả kinh doanh thấp. Ngược lại, tỉ lệ nợ xấu càng bé dẫn đến thu hồi vốn cao
làm hiệu quả kinh doanh cao.
3.

Giả thuyết nghiên cứu: các yếu tố kể trên có tác động đến hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng
.3 Ảnh hưởng của quy mô đến kết quả kinh doanh

thuận lợi hơn cho việc huy động vốn kinh doanh. Mọi doanh nghiệp khi niêm yết cổ
phiếu đều phải công khai minh bạch báo cáo tài chính của mình và điều này làm
tăng thêm phần nào uy tín cho chính ngân hàng. Nhóm nghiên cứu kỳ vọng có thể
tìm được tác động thuận chiều của việc niêm yết cổ phiếu với chỉ số ROA trong bài
nghiên cứu này.
.3

Tác động của lãi suất tiết kiệm
Khách hàng luôn muốn số tiền của mình phải được sinh lời ở mức cao nhất.

Chính vì vậy, một ngân hàng có mức lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút khách hàng
hơn, từ đó tiềm lực tài chính vững chắc hơn. Lãi suất tiền gửi sẽ tác động phần nào
đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Chương II. Xây dựng mô hình
.1. Phương pháp luận của nghiên cứu
 Mô hình hồi quy

Hồi quy là phương pháp chính trong kinh tế lượng, lần đầu tiên phương
pháp được thực hiện do nhà khoa học Franisis Galton, năm 1886 ông sử dụng
nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao người cha và người con trai. Thuật ngữ
Regression to mediocrity (quy về giá trị trung bình) do Galton dùng cho đến nay
các nhà nghiên cứu gọi là phân tích hồi quy.
• Về toán học: Phân tích hồi quy nói lên mối quan hệ phụ thuộc giữa một

biến với một hay nhiều biến khác


Biến phụ thuộc vào biến khác được gọi là biến phụ thuộc: biến Y



X thay đổi. Hàm tổng thể có một biến X là hàm hồi quy đơn, nếu có nhiều biến X
được gọi là hàm hồi quy bội. Chúng ta sẽ xem xét mô hình hồi quy tuyến tính k
biến:
Yi = β1 + β2X2i + … + βkXki + Ui
Trong đó:
β1: Hệ số hồi quy ( hệ số chặn ), nó chính là giá trị trung bình của biến Y khi
X2i = … = Xki = 0
βj j=2,k : Các hệ số hồi quy riêng, chúng phản ánh ảnh hưởng của biến giải
thích đối với giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi giá trị của biến giải thích
khác chứa trong mô hình không đổi.
Ui: Sai số ngẫu nhiên của tổng thể ứng với quan sát thứ i
Trong mô hình chúng ta sẽ nghiên cứu, ngoài các biến giải thích là các biến số
lượng còn có biến giả: STOCK. Biến giả STOCK giải thích cho việc niêm yết cổ
phiếu của các ngân hàng. STOCK nhận một trong hai giá trị:


STOCK = 0 nếu ngân hàng không niêm yết cổ phiếu



STOCK = 1 nếu ngân hàng niêm yết cổ phiếu
12


Hàm hồi quy mẫu được xây dựng trên cơ sở chúng ta thống kê số liệu ngẫu
nhiên, số liệu mẫu. Các quan sát dưới đây là các quan sát ngẫu nhiên, chúng là
những ngân hàng khác nhau, bao gồm các ngân hàng tư nhân, ngân hàng nhà nước;
ngân hàng lớn, ngân hàng nhỏ; ngân hàng phía Bắc, ngân hàng phía Nam.
 Phương pháp ước lượng OLS



o

Giả thiết 7: Không có hiện tượng đa cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến độc
lập
Với các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển, ước lượng của mô

hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương tối thiểu thông thường là
ước lượng tuyến tính, không chệch và tốt nhất.
.2. Xây dựng mô hình lý thuyết

Dựa trên phương pháp luận, xây dựng mô hình cho nghiên cứu ảnh hưởng các yếu
tố lên hiệu quả hoạt động ngân hàng ở Việt Nam năm 2018.

13


Biến phụ thuộc: ROA
Các biến độc lập: netrevenue, rate, scale, stock, DA, baded, asset.
Các biến sẽ được mô tả chi tiết trong bảng sau:
Tên biến

Dạng Đơn vị
dữ
liệu

Ý nghĩa

ROA



Scale

Int

Phòng

Quy mô (sô phòng giao dịch)

Stock

Byte

Đơn vị

=1 nếu ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên SGD, 0 nếu
ngân hàng không niêm yết

DA

Float

Đơn vị

Hệ số nợ trên tổng tài sản

baded

Float


này khá cạnh tranh giữa các ngân hàng vì chúng quyết định tỉ lệ huy động vốn, tạo
ra dòng tiền cho ngân hàng lưu chuyển trong quá trình hoạt động để sinh lời. Tuy
nhiên, thực tế không phải ngân hàng nào cũng thiết lập lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12
tháng cao nhưng vẫn lượng vốn huy động vẫn lớn.
2.2.4. Quy mô hoạt động (SCALE)
Quy mô hoạt động của ngân hàng được lượng hóa bằng số các phòng giao dịch trên
toàn quốc vào quý 4 năm 2018 thể hiện sự phủ sóng hệ thống của mỗi ngân hàng,
sự tiếp cận khách hàng và chất lượng dịch vụ tại các điểm giao dịch xây dựng lên
hình ảnh ngân hàng, niềm tin với khàng. Như thế số phòng giao dịch biểu thị cho
quy mô hoạt động có thể phản ánh một phần nào đó hiệu quả hoạt động ngân hàng.
2.2.5. Tổng tài sản (ASSET)
Dựa vào bảng cân đối của mỗi ngân hàng ta có thể dễ dàng nhận thấy tổng tài sản,
cách tính toán:

15


Tổng tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
2.2.6. Hệ số nợ trên tổng tài sản (D/A)
Hệ số nợ trên tổng tài sản (D/A) cho biết tổng số tài sản hiện tại của ngân hàng
được tài trợ khoảng bao nhiêu phần trăm là nợ vay, phản ánh mức độ sử dụng nợ
vay của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản.
Hệ số nợ trên tổng tài sản =
2.2.7. Tỷ lệ nợ xấu (BADEB)
Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng,
bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay.
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng nợ xấu = Nợ dưới tiêu chuẩn + Nợ nghi ngờ + Nợ có khả năng mất vốn
Tổng dư nợ = Nợ đủ tiêu chuẩn + Nợ cần chú ý + Nợ dưới tiêu chuẩn + Nợ nghi
ngờ + Nợ có khả năng mất vốn

Tên biến

Số quan sát

ROA
20
Netrevenue 20
Rate
20
Asset
20
Scale
20
Stock
20
DA
20
baded
20
Bình quân chỉ số

Giá
trị Độ
lệch
trung bình
chuẩn
.3578
.3380252
1017412
1232164

.9583
.0052
.047
đồng tài sản đang sở hữu, các

ngân hàng thu được trung bình 35,78% lợi nhuận. Mức chênh lệch giữa ngân hàng có
hệ số ROA lớn nhất và nhỏ nhất là khá lớn (gấp 25 lần) cho thấy hiệu quả kinh doanh
giữa các ngân hàng không đồng đều. Điều đó cũng được thể hiện ở mức chênh lệch lợi
nhuận ròng giữa các ngân hàng có lợi nhuận lớn nhất và nhỏ nhất trong quý 4 năm
2018 lên đến 5 nghìn tỉ đồng.
Hệ số nợ D/A bình quân là 0,919605 cho thấy cứ 100 đồng tài sản thì có tới gần 92
đồng ngân hàng đi vay. D/A giao động trong khoảng 0,8387-0,9583, đây là mức tương
17


đối cao nhưng phổ biến trong ngành ngân hàng. Ngoài ra tỷ lệ nợ xấu trung bình là
1,906% cho thấy khả năng kiểm soát nợ của các ngân hàng khá tốt.
Tỉ lệ lãi suất bình quân là 7.135% và tương đối đồng đều giữa các ngân hàng với
nhau, dao động từ 6%-7.7%.
Khác với lãi suất, quy mô lại có sự khác biệt rõ rệt giữa các ông lớn trong ngành
ngân hàng với các ngân hàng nhỏ thể hiện qua số phòng giao dịch, với mức chênh lệch
lên đến hơn 15 lần.
Bên cạnh đó để miêu tả chi tiết các biến có trong mô hình, ta dùng lệnh tab. Sử
dụng lệnh tab cho phép miêu tả tần suất các giá trị của các biến, ví dụ ta có tần suất các
ngân hàng niêm yết chứng khoán như sau:
=1 nếu ngân hàng niêm yết chứng khoán
0
1
Total


0.0362
0.5078
-0.0404
-0.0022

rate

1.0000
-0.2879
-0.0624
-0.4079
0.0669
0.2835

18

asset

scale

stock

DA

1.0000
0.5767
0.5365
0.4189
0.1947


Hồi quy biến ROA theo các biến netrevenue, rate, asset, scale, stock, DA, baded
bằng lệnh reg ta thu được kết quả sau:
Số quan sát: 20
F(7,12)=1.04
Prob > F = 0.4562
R-squared = 0.3765
Adj r-squared= 0.0128
Root MSE= 0.33585
Tóm tắt kết quả hồi quy ta được bảng sau:
Biến

Sai số
(Std.Err)

chuẩnT quan sát

P>|t|

Khoảng tin cậy

Netrevenue

9.17e-08

1.33

0.208

-7.78e-8;3.22e-7


19


Stock

0.2039597

1.24

0.237

0.9679891

DA

3.856464

-0.27

0.788

7.344062

baded

3.468025

-0.00

0.997



β1^= 0.5913643 có nghĩa là khi các biến độc lập =0 thì hệ số ROA trung bình

của quý 4 sẽ là 0.5913643.
 β2^=1.22e-0.7 có nghĩa là khi lợi nhuận ròng tăng 1 đơn vị và các biến khác
không đổi thì hệ số ROA trung bình sẽ tăng 1.22e-0.7 đơn vị.
 β3^=8.99306 có nghĩa là khi lãi suất tăng 1 đơn vị và các biến khác không đổi
thì hệ số ROA trung bình sẽ tăng 8.99306 đơn vị.

20




β4^=-3.94e-10 có nghĩa là khi tài sản tăng lên 1 đơn vị và các biến khác không

đổi thì ROA trung bình sẽ giảm đi 3,94e+10 đơn vị.
 β5^= 0.0000984 có nghĩa là khi quy mô ngân hàng tăng lên 1 đơn vị và các biến
khác không đổi thì hệ số ROA trung bình tăng lên 0.000984 đơn vị.
 β6^= 0.2536 có nghĩa là khi các biến khác không đổi thì ngân hàng có niêm yết
chứng khoán sẽ có hệ số ROA trung bình cao hơn các ngân hàng không niêm
yết chứng khoán là 0.2536 đơn vị.
 β7^= -1.05845 có nghĩa là khi tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tăng 1 đơn vị và các biến
khác không đổi thì hệ số ROA trung bình giảm 1.0584 đơn vị.
 β8^= -0.0269 nghĩa là khi nợ xấu tăng lên 1 đơn vị và các biến khác không đổi
thì hệ số ROA trung bình giảm 0.0269.
.2. Kiểm định, khắc phục các khuyết tật của mô hình. Kết quả mô hình ước
lượng đã khắc phục khuyết tật
.2.1 Kiểm định các khuyết tật của mô hình.

Scale
DA
Stock
Baded
Rate
Mean VIF

VIF
4.06
2.15
2.06
1.99
1.77
1.50
1.42
2.14

1/VIF
0.246347
0.465308
0.484339
0.501671
0.564894
0.65210
0.706311

Các gái trị VIF đều nhỏ hơn 10, do đó có thể đi đến kết luận mô hình không có hiện đa
cộng tuyến.
.2.1.4 Kiểm định phương sai sai số thay đổi.


Heteroskedasticity

20.00

19

0.3946

Skewness

4.23

7

0.7532

Kurtosis

1.47

1

0.2249

Total

25.07

27



Kiểm định sự phù hợp của kết quả.

Kiểm định này được thực hiện nhằm kiểm tra các biến độc lập có đồng thời
không ảnh hưởng đến ROA hay không. Ta xét cặp giả thuyết
23


· H 0 : β 2 =β 3 =β 4 =β 5 =0
· H 1: β 2 2 + β 3 2 +β 4 2 +β 5 2 ≠0
Dựa vào kết quả hồi quy ta có F qs=1.04
Tra bảng giá trị tơi hạn Fisher: F0.05(7,12)=
.4

Giải pháp thực tiễn

Việc phân tích tỉ suất lợi nhuận trên tài sản ròng (ROA) giúp nhà quản lí nắm được
thực trạng hiệu quả tài chính cũng như năng lực tài chính, từ đó, thực hiện cơ cấu lại hệ
thống ngân hàng một cách khoa học, tiến đến phát triển bền vững và duy trì khả năng
cạnh tranh với các tổ chức tài chính quốc tế trong tương lai.
Chỉ số ROA của ngành ngân hàng nếu nằm ở ngưỡng:
+ Nhỏ hơn 0,5%: Tạo lợi nhuận kém, thường chỉ các ngân hàng quốc doanh, các ngân
hàng vay nợ nhiều trong phần nợ trên bảng cân đối hoặc trích lập dự phòng nhiều khi
cho vay.
+ Từ 0,5%-1%: hầu hết các ngân hàng đều nằm ở nhóm này.
+ Từ 1%- 2%: Lợi nhuận khỏe mạnh.
+ Từ 2%- 2,5%: Lợi nhuận tốt nhưng cần lưu ý tới những mô hình bất thường trong
hoạt động (do độc quyền ngân hàng) hoặc ngân hàng tham gia vào các nghiệp vụ cho
lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro cao.
+ Lớn hơn 2,5%: Lợi nhuận bất thường, cần cẩn trọng xem xét kĩ vì hoạt động rủi ro


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status