i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
----------------
----------------
VŨ THỊ HÀ
TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ
HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
TÀY Ở HUYỆN NÀ HANG - TỈNH
TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 1986 –
2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thuỷ
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tnu.edu.vn
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 87
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tri thức tộc người là một thành tố không thể thiếu của văn hoá tộc người,
không những góp phần khẳng định mà còn là nhân tố quan trọng quyết định
việc duy trì, bảo tồn bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Nghiên cứu văn hoá
tộc người không thể không tìm hiểu kho tàng tri thức dân gian. Những kết quả
nghiên cứu về tri thức tộc người sẽ bổ sung tư liệu góp phần hoàn thiện bức
tranh văn hoá tộc người.
Trong kho tàng tri thức đồ sộ, đa dạng và phong phú của các tộc người
thiểu số, tri thức về văn hoá ứng xử là một trong những bộ phận quan trọng.
Nó không những cho ta hiểu về văn hoá ứng xử của một tộc người nào đó mà
còn góp phần tạo nên nền văn hoá bản địa chung của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam.
Ngày nay, trong bối cảnh xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến
đang là động lực quan trọng trong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Tày của
nhiều tập thể, cá nhân. Trong đó phải kể đến một số công trình sau:
Tác phẩm “Văn hoá Tày - Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, Nxb Văn
hoá, 1984, là công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về xã hội,
con người, văn hoá của hai dân tộc Tày – Nùng nói chung ở Việt Nam.
Công trình “Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1992, đã cho thấy một cách khái quát về đời sống kinh tế-xã hội, vật
chất, tinh thần cổ truyền của các dân tộc Tày Nùng ở Việt Bắc. Đây là nguồn
tư liệu cần thiết giúp tác giả tiếp cận về đặc điểm văn hóa truyền thống của
dân tộc Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang.
Công trình “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng
Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn,
Nxb Văn hoá dân tộc, 1993, đã đề cập đến một cách khái quát về đặc điểm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc trên hai phương diện lớn của nền văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Tác phẩm “Văn hoá dân gian Tày” của Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa
Toàn, Vũ Anh Tuấn đã trình bày về nguồn gốc tộc người, văn hoá vật chất
truyền thống và văn hoá tinh thần của người Tày ở Việt Bắc.
Tác phẩm “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” Hà Văn Viễn và Hà Văn
Phụng - Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang, xuất bản năm 1997, đã đề cập tới các
dân tộc tỉnh Tuyên Quang như Tày, Dao, Mông….bằng những tư liệu thực tế,
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và nguồn
gốc người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang, đề tài đi sâu nghiên cứu
những tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày ở Nà Hang
- Tuyên Quang. Bên cạnh đó làm rõ quá trình biến đổi của tri thức bản địa về
ứng xử xã hội dưới tác động của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế hiện nay.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, đề tài nghiên cứu chủ yếu tại địa bàn huyện Nà Hang
hiện nay, tập trung nghiên cứu điển hình tại các xã có đông người Tày sinh
sống như Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu những tri thức bản địa về ứng xử xã hội
của người Tày ở Nà Hang từ 1986 đến 2010 nghĩa là từ thời kỳ đổi mới đất
nước tới năm 2010.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Nguồn tư liệu
- Tài liệu thành văn: Đề tài kế thừa nguồn tư liệu khá phong phú của đã
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm các công trình nghiên cứu
như sách báo, chuyên khảo, tạp chí, báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu
về người Tày đã công bố, xuất bản.
- Tư liệu địa phương bao gồm các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn
hoá tộc người ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Nà Hang nói riêng.
- Tư liệu điền dã bao gồm các tài liệu thu thập được qua quan sát trực
tiếp, địa bàn nghiên cứu và phỏng vấn các nhân chứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chương 2: Tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày
ở Nà Hang - Tuyên Quang giai đoạn 1986 - 2010
Chương 3: Quá trình biến đổi của tri thức bản địa về ứng xử xã hội của
người Tày ở Nà Hang - Tuyên Quang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Nà Hang tỉnh
Tuyên Quang
Nà Hang là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang,
cách thị xã Tuyên Quang 113 km. Nằm trong hệ toạ độ từ 22 o14’ đến 22o42’
vĩ Bắc và 105o08’ đến 105o36’ kinh Đông. Phía Bắc huyện Nà Hang giáp với
các huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), huyện Bắc
Mê (tỉnh Hà Giang); Phía Nam giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên
Quang); Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây giáp
với huyên Bắc Quang (tỉnh Hà Giang).
Về địa hình, Nà Hang nằm trong vùng đồi núi cao của tỉnh Tuyên
Quang, độ chia cắt mạnh, nhiều sườn dốc và khe sâu. Địa thế Nà Hang có
khoảng 22o C, tối đa 38oC (tháng 7) và tối thiểu 0oC (tháng 12) với nhiệt độ
trung bình vào mùa đông là 16o C. Lượng mưa trung bình trong năm khoảng
1800 (mm/năm), cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (83%), và thấp nhất vào
tháng 1, tháng 2, có mưa đá. Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3
năm sau. Gió mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11. Độ
ẩm trung bình khoảng 85%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong
năm (tháng 11, 12), ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp.
Về sông ngòi, Nà Hang có hai con sông là sông Gâm và sông Năng. Sông Gâm
chảy qua huyện trên độ dài 53 km, qua các xã Thuý Loa, Xuân Tân, Xuân Tiến,
Thượng Lâm, Trùng Khánh, Năng Khả, Vĩnh Yên, Thanh Tương và thị trấn Nà
Hang sau đó chảy qua huyện chiêm Hoá rồi hợp lưu với sông Lô. Đây là đường
thuỷ duy nhất nối huyện Nà Hang với tỉnh lỵ Tuyên Quang. Sông Năng bắt nguồn
từ cửa hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy vào huyện Nà Hang theo hướng Đông Tây
trên độ dài 25 km. Sông Năng chảy qua các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn Phú, Vĩnh
Yên và hợp lưu với sông Gâm tại chân núi Pắc Tạ gần huyện lỵ. Ngoài sông Gâm
và sông Năng, huyện Nà Hang còn có hai con suối lớn là suối Khuổi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Trang và Bắc Vẵng ( Nặm Vang) cùng hàng chục suối nhỏ khác. Sông suối
của huyện có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác nghềnh thường lũ vào mùa
mưa. Ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất nông, lâm nghiệp, sông
suối Nà Hang còn có nguồn thuỷ sản phong phú và là đường giao thông quan
trọng giữa các vùng, đồng thời cho phép phát triển thuỷ điện nhỏ cũng như
những công trình thuỷ điện lớn.
Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, địa hình chi phối nên
quần thể động thực vật ở Nà Hang rất đa dạng và phong phú. Thực vật tự
Thượng Lâm, Lăng Can, Vĩnh Yên…rất thích hợp cho việc canh tác các loại
cây nông nghiệp.
Nhìn chung, tài nguyên thiên nhiên phong phú là tiềm năng để Nà Hang
phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp. Tuy nhiên sự phức tạp của tự nhiên ở đây
cũng gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Song chính môi trường cảnh quan và lịch sử tộc người đã hình thành nên bản
sắc văn hoá của các dân tộc ở nơi đây.
1.2. Khái quát về tộc người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang
1.2.1. Nguồn gốc, địa bàn cư trú
Huyện Nà Hang có 18 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm người
Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh…thuộc các nhóm ngữ hệ khác nhau: Tày- Thái,
Mông - Dao, Việt - Mường…Theo số liệu thống kê năm 2009 huyện Nà Hang
có 60.151 nhân khẩu được phân bố theo dân tộc như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Bảng 1: Thành phần các dân tộc ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang
STT
Nùng
295
0.49%
4
H’Mông
4.527
7.52%
5
Các dân tộc khác
16.053
26.68%
Ghi chú
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang )
Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở huyện Nà Hang có số dân đông
nhất 33.196 người, chiếm 55,2% tổng dân số toàn huyện, cư trú ở hầu khắp
các xã, thị trấn trong huyện. Nên các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt là
văn hóa ứng xử của người Tày đã có tác động nhất định tới đời sống của các
dân tộc trong huyện.
lưu truyền một câu chuyện kể rằng. Cách đây khoảng 300 năm có một người
Nùng tên là Nông Văn Buồm đã dẫn người đến khai phá vùng đất nay thuộc
Bản Chư. Một bộ phận người Nùng chỉ cư trú ở đó một thời gian rồi chuyển
đi nơi khác, song một số vẫn ở lại và nhập vào với người Tày. Như vậy, ít nhất
cũng đã có một bộ phận người Tày ở Vĩnh Yên vốn gốc dân tộc Nù ng. Một
bộ phận dân cư tự nhận là người Tày song không phải dân bản địa mà mới
chuyển từ Cao Bằng hoặc Hà Giang đến Nà Hang cách ngày nay vài ba thế
kỷ. Gia đình ông Tô Minh Tuyên (71 tuổi) ở bản Na Pài là một ví dụ. Theo lời
kể, dòng họ nhà ông vốn ở Chợ Đồn (Cao Bằng), tổ tiên ông mới chuyển đến
Nà Hang tính đến ông được sáu đời tức khoảng 200 năm. Thậm chí ông cũng
không dám chắc tổ tiên mình vốn là người gốc Tày, Nùng hay Hoa bởi theo
ông người Tày rất hiếm họ Tô. Tại thôn Khánh Hòa 2, xã Trùng Khánh cũng
có một vấn đề tương tự. Đa số cư dân thôn này thuộc họ Phúc, một dòng họ
không thật phổ biến ở dân tộc Tày. Tuy nhiên, để biết về nguồn gốc của họ
cần phải có những nghiên cứu của các nhà khoa học.
Theo cuốn thư tịch Hán Nôm “Nguyễn Quảng tộc phả” (gia phả dòng họ
Nguyễn Quảng) ở xã Côn Lôn, huyện Nà Hang có ghi: …Nguyễn Quang Khải
trong cuộc khởi nghĩa của Nùng Văn Vân là người Kinh (người Việt) quê ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Quảng Nam đã lên đây làm rể đời trong một gia đình người Tày. Để tưởng
nhớ tới quê hương của mình nên đã dùng chữ Quảng làm tên đệm…”. Ngày
nay, các con cháu dòng họ Nguyễn Quảng đều tự nhận mình là người Tày,
mọi phong tục, tập quán, lối sống sinh hoạt đều giống người Tày. Như vậy,
đồng bào Tày ở Nà Hang một bộ phận là người Tày cư trú từ lâu đời, bộ phận
còn lại là người Kinh bị “Tày hoá” [18, tr 23].
2.677
97
3.62%
3
Thượng giáp
1.863
1.338
71.8%
4
Phúc Yên
2.781
1.055
37.9%
5
Thượng Nông
4.799
3.041
63.3%
9
Khuôn Hà
3.565
2.556
71.7%
10
Hồng Thái
1.502
32
2.1%
11
Đà Vị
14 Thượng Lâm
5.147
4.323
84%
15 Sơn Phú
2.781
476
17.1%
16 Năng Khả
5.149
3.271
63.5%
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang 2009 ).
Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở Nà Hang tập trung đông nhất ở
các xã Thượng Lâm (4.323 người, chiếm 84% tổng số dân trong xã), Đà Vị
(3.804 người, chiếm 72% tổng số dân trong xã), Lăng Can (3.731 người,
chiếm 77,5% tổng số dân trong xã), số ít sinh sống ở các xã Sinh Long, (97
người, chiếm 3,62% tổng dân trong xã), Hồng Thái (32 người, chiếm 2,2%
ngày và loại dài ngày. Ngày nay, do khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển và
thâm nhập vào vùng nông thôn Tày, nhiều nơi đã từ bỏ giống cũ, nhập những
loại mới có thời gian ngắn hơn, năng suất cao hơn, chống sâu bệnh và chịu
úng, chịu hạn tốt hơn. Bên cạnh việc canh tác lúa nước, bà con vẫn duy trì
những hình thức trồng trọt nương dẫy hoặc làm soi bãi để trồng ngô, khoai,
sắn, rau, đỗ các loại và trồng bông dệt vải; Xung quanh nhà ở trồng cây ăn
quả, tre và các cây lấy gỗ khác. Ngoài trồng trọt đồng bào còn chú trọng phát
triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò lấy sức kéo, ngựa để thồ hàng, dê, lợn để
lấy thịt, chó để giữ nhà, đi săn. Các loại gia cầm hầu hết đều có gà, vịt, ngan,
ngỗng… Ngày nay, chăn nuôi đã trở thành hoạt động kinh tế mang lại thu
nhập lớn cho các gia đình. Không những chỉ để thịt, cung cấp thực phẩm cho
các dịp tế lễ, cưới xin họ còn bán ra thị trường. Nhiều hộ nông dân đã phát
triển chăn nuôi trâu, bò, gà, ngan, vịt, cỏ…theo hướng sản xuất hàng hóa. Hầu
hết các gia đình người Tày đều chú trọng tới môi trường sinh thái quanh nhà ở
có vườn tược và ao cá, do đó ở những nơi thuận tiện nguồn nước đồng bào
đều đào ao, thả cá, cải thiện đời sống. Hiện nay chăn nuôi chiếm tỷ trọng thu
nhập khá lớn trong nhiều gia đình Tày. Tuy vậy, so với nghề trồng trọt thì
chăn nuôi vẫn chỉ là một hoạt động phụ.
Bên cạnh các hoạt động kinh tế sản xuất, chăn nuôi, người Tày còn duy
trì phát triển các hình thức kinh tế chiếm đoạt như: săn bắn, đánh cá, hái lượm
truyền thống. Làm các nghề phụ gia đình: dệt vải, đan lát, nghề rèn đúc, nghề
mộc, thêu thùa, khâu vá…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Nghề trồng bông dệt vải của đồng bào Tày ở đây rất phát triển, gia đình
nào cũng có từ một đến hai khung dệt, sản phẩm bao gồm các loại vải thô, vải
18
Nghề mộc tuy đã có từ lâu đời, cho đến nay vẫn còn tồn tại, song các sản
phẩm chưa đạt tới trình độ cao, mang tính chất tự túc, tự cấp, chủ yếu là làm
nhà, đóng các loại hòm gỗ, quạt hòm…
Trước kia, nghề rèn ở Nà Hang cũng khá phát triển trong từng gia đình
nhưng chủ yếu là sửa chữa lại một số dụng cụ phục vụ cho nông nghiệp. Hiện
nay, nghề rèn ở đây hầu như đã bị mai một, các loại dụng cụ đồng bào đều
mua của người Việt.
Phương tiện vận chuyển chính của người Tày là đôi dậu gánh để chuyển
chở sản phẩm nặng đòi hỏi phải mang vác hoặc sử dụng khi đi nương, đi chợ.
Còn đối những thứ nhẹ và sạch sẽ thì chiếc túi vải lại đóng vai trò khá quan
trọng.
Việc dùng ngựa thồ cũng thấy ở nhiều nơi, nhưng hiện nay đã không còn
phổ biến do có ít đồng cỏ để chăn thả ngựa. Trong thời kỳ hợp tác xã nông
nghiệp, ở nơi đây cũng xuất hiện một số loại xe thô sơ giống như máng gỗ để
chở phân từ nhà ra đến cánh đồng. Một loại xe khác như xe quyệt dùng để sức
kéo của trâu hoặc bò để chở củi, hoa màu…cũng được đồng bào tận dụng. Tại
một số đoạn đường khó đi, người ta còn dùng trâu trực tiếp kéo gỗ hoặc tre,
nhất là kéo cột nhà. Còn những bản ở ven sông ven suối lớn thì từ lâu người ta
đó biết tận dụng sức nước để chở bè gỗ nứa và nhiều thứ lâm thổ sản khác.Và
phương tiện đi lại trên sông thường là chiếc thuyền độc mộc. Vào mùa nước
lũ, để qua sông thì chiếc mảng lại là phương tiện quý giá.
Về trao đổi, buôn bán, hiện nay ở Nà Hang có 7 điểm họp chợ, các chợ
trong vùng thường có phiên họp theo một quy ước thống nhất, ít trùng lặp, được
cư dân trong vùng chấp nhận, và trở thành hoạt động không thể thiếu trong tiềm
thức của họ. Ví dụ như chợ phiên ở xã Đà Vị được họp vào các ngày mùng 9, 19,
29 hàng tháng âm lịch. Chợ phiên ở Lăng Can họp vào các ngày 5, 15, 25 hàng
tháng. Các chủ cửa hàng buôn bán tại các chợ thường là người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ngôi nhà còn có những phần phụ nhưng hết sức quan trọng, đó là máng đựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
nước rửa chân, cầu thang, khu sàn để nước, nơi để dụng cụ lao động cầm tay
và sàn phơi ngoài trời .
Nhà sàn của người Tày mang bản sắc văn hóa tộc người đậm nét, là kết
quả của quá trình lao động và sáng tạo, là nơi chứa đựng tình cảm, mối quan
hệ ứng xử thường nhật. Ngôi nhà mang dáng dấp vững chãi, thoáng đãng và
là niềm tự hào của người Tày.
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày qua đó ta thấy khả năng và trí
tuệ của những “Kiến trúc sư” người nghệ nhân dân gian Tày đã biết sáng tạo
hết sức tài tình ngay trong điều kiện thô sơ của xã hội có nền kinh tế tự cấp, tự
túc là chủ yếu “Mối quan hệ giữa con người, nếp nhà và tự nhiên, quả là mối
quan hệ đa dạng mà nghệ thuật kiến trúc Việt Nam đã phát hiện và giải quyết
hài hòa, cân xứng trong những điều kiện cụ thể của khí hậu, thời tiết, địa
hình, cảnh vật và tài nguyên…” [38, tr 64].
Về trang phục, trang phục truyền thống của người Tày chủ yếu là dùng vải
chàm đen không trang trí hoa văn. Trang phục nam giới mặc quần chân què, cạp
lá toạ, áo cánh bốn thân, áo dài năm thân, áo may theo kiểu xẻ ngực, cổ tròn
không có cầu vai, có bẩy chiếc khuy vải, có hai túi ngực và hai túi ở hai vạt
trước. Khăn quấn trên đầu may bằng vải chàm đen hoặc tơ tằm, khi quấn người
ta xếp chéo hình chữ nhân chéo trên chán. Trang phục của nữ giới màu chàm đen
không trang trí hoa văn gồm: áo cánh, áo dài năm thân, quần, váy, thắt lưng,
khăn vấn tóc và khăn vuông đội trên đầu. áo cánh là loại bốn thân xẻ ngực, cổ
tròn, có hai túi nhỏ ở hai vạt, ống tay nhỏ.áo cánh thường mặc ở nhà, khi đi làm
đồng người Tày nói chung và người Tày ở huyện Nà Hang nói riêng.
Hầu hết nam giới đều biết uống rượu. Rượu được nấu từ gạo, ngô, trước kia
nấu cả bằng sắn, đồng bào tự làm men bằng lá gọi là men lá, sau này người ta ít
dùng men lá hơn. Đồng bào Tày còn có một loại rượu đặc sản đó là rượu ngô,
người ta dùng ngô chưa xay trộn với thân cây móc rừng đã đẽo bỏ phần vỏ, băm
nhỏ nấu chín cả ngô và móc, dỡ ra để nguội, tra men vào ủ, khoảng 5-6 ngày
đem nấu cất thành rượu, rượu có mùi thơm, hương vị đặc trưng, vùng Nà Hang
có rượu ngô ngon nổi tiếng. Nhìn chung, người Tày cũng giống như các dân tộc
khác họ biết dùng những sản vật tự nhiên có sẵn để chế ra các loại đồ uống hợp
với mùa, hợp với điều kiện sinh hoạt của gia đình, của cộng đồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên