Tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người tày ở huyện nà hang tỉnh tuyên quang giai đoạn 1986 2010 - Pdf 65

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
--------------------------------

VŨ THỊ HÀ

TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI
TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở
HUYỆN NÀ HANG - TỈNH TUYÊN QUANG
GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thuỷ

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................... 2


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tri thức tộc người là một thành tố không thể thiếu của văn hoá tộc người,
không những góp phần khẳng định mà còn là nhân tố quan trọng quyết định
việc duy trì, bảo tồn bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Nghiên cứu văn hoá
tộc người không thể không tìm hiểu kho tàng tri thức dân gian. Những kết quả
nghiên cứu về tri thức tộc người sẽ bổ sung tư liệu góp phần hoàn thiện bức
tranh văn hoá tộc người.
Trong kho tàng tri thức đồ sộ, đa dạng và phong phú của các tộc người
thiểu số, tri thức về văn hoá ứng xử là một trong những bộ phận quan trọng.
Nó không những cho ta hiểu về văn hoá ứng xử của một tộc người nào đó
mà còn góp phần tạo nên nền văn hoá bản địa chung của các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam.
Ngày nay, trong bối cảnh xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến đang
là động lực quan trọng trong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự an
ninh xã hội, giữ gìn môi truờng và bảo tồn văn hoá. Tri thức dân gian của các
dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam đã và đang là
một trong các nguồn lực quan tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
hiện nay ở nước ta. Chính vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu về tri thức các tộc người
nói chung và của người Tày nói riêng là nhiệm vụ cần thiết hiện nay. Tri thức
về văn hoá ứng xử của họ cũng như vậy.
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày là một cộng đồng người

chất, tinh thần cổ truyền của các dân tộc Tày Nùng ở Việt Bắc. Đây là nguồn tư
liệu cần thiết giúp tác giả tiếp cận về đặc điểm văn hóa truyền thống của dân
tộc Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang.
Công trình “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng
Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn,
Nxb Văn hoá dân tộc, 1993, đã đề cập đến một cách khái quát về đặc điểm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


3
của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc trên hai phương diện lớn của nền văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Tác phẩm “Văn hoá dân gian Tày” của Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa
Toàn, Vũ Anh Tuấn đã trình bày về nguồn gốc tộc người, văn hoá vật chất
truyền thống và văn hoá tinh thần của người Tày ở Việt Bắc.
Tác phẩm “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” Hà Văn Viễn và Hà Văn
Phụng - Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang, xuất bản năm 1997, đã đề cập tới các
dân tộc tỉnh Tuyên Quang như Tày, Dao, Mông….bằng những tư liệu thực tế,
công trình viết với mục đích phục vụ công tác dân tộc của tỉnh Tuyên Quang
trong những năm gần đây.
Công trình “Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên
Quang”(2003) của Nịnh Văn Độ (chủ biên), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, là
chuyên khảo về văn hóa dân tộc ở Tuyên Quang. Tác phẩm đề cập một cách
khái quát về văn hóa dân tộc Tày dưới các góc độ, các loại hình văn hóa, đặc
biệt là văn hóa ứng xử của cộng đồng người Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang.
Nhìn chung, đề tài được thừa hưởng một khối lượng lớn các công trình
nghiên cứu về người Tày. Đây là cơ sở để tác giả tiếp cận, nghiên cứu hoàn

như Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu những tri thức bản địa về ứng xử xã hội
của người Tày ở Nà Hang từ 1986 đến 2010 nghĩa là từ thời kỳ đổi mới đất
nước tới năm 2010.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Nguồn tư liệu
- Tài liệu thành văn: Đề tài kế thừa nguồn tư liệu khá phong phú của đã
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm các công trình nghiên cứu
như sách báo, chuyên khảo, tạp chí, báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu về
người Tày đã công bố, xuất bản.
- Tư liệu địa phương bao gồm các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn
hoá tộc người ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Nà Hang nói riêng.
- Tư liệu điền dã bao gồm các tài liệu thu thập được qua quan sát trực tiếp,
địa bàn nghiên cứu và phỏng vấn các nhân chứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


5
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là: Phương
pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Phương pháp lịch sử nghiên cứu khái quát
về huyện Nà Hang, nguồn gốc tộc người, các tập quán trong giáo dục cộng
đồng của người Tày nơi đây và những biến đổi của nó trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phương pháp lôgíc nhằm rút ra những nhận xét, đánh
giá kết quả về vấn đề nghiên cứu, giúp người đọc có cái nhìn hệ thống và kết
quả về những tri thức trong giáo dục cộng đồng của người Tày ở huyện Nà
Hang - Tuyên Quang.
Trên cơ sở đó, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học nhằm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Nà Hang tỉnh
Tuyên Quang
Nà Hang là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang,
cách thị xã Tuyên Quang 113 km. Nằm trong hệ toạ độ từ 22o14’ đến 22o42’ vĩ
Bắc và 105o08’ đến 105o36’ kinh Đông. Phía Bắc huyện Nà Hang giáp với các
huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), huyện Bắc Mê
(tỉnh Hà Giang); Phía Nam giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang);
Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây giáp với huyên
Bắc Quang (tỉnh Hà Giang).
Về địa hình, Nà Hang nằm trong vùng đồi núi cao của tỉnh Tuyên Quang,
độ chia cắt mạnh, nhiều sườn dốc và khe sâu. Địa thế Nà Hang có hướng thấp
dần từ Bắc xuống Nam. Điểm cao nhất trong huyện là 1.060 m so với mực
nước biển, điểm thấp nhất là 50 m. 65% đất đai Nà Hang có độ dốc 25-30o,
phía Bắc và phía Nam của huyện có rất nhiều dãy núi đá vôi hiểm trở. Huyện
được chia làm 3 khu:
Khu A: Ở phía Nam, gồm 5 xã Vĩnh Yên, Sơn Phú, Thanh Tương, Trùng
Khánh, Năng Khả và thị trấn Nà Hang, có độ cao từ 50 - dưới 300m. Khu vực
này có khí hậu ẩm, nhiều mưa và sương mù. Đây là vùng thấp nhất trong
huyện, có thị trấn huyện lỵ, các trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã
hội của huyện. Dân cư khu vực này khá đông đúc, đường xá đi lại thuận lợi
nhiều hơn so với các khu vực khác.
Khu B: Ở phía Bắc, gồm các xã Thượng Lâm, Khuôn Hà, Lăng Can,

đường thuỷ duy nhất nối huyện Nà Hang với tỉnh lỵ Tuyên Quang. Sông Năng bắt
nguồn từ cửa hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy vào huyện Nà Hang theo hướng
Đông Tây trên độ dài 25 km. Sông Năng chảy qua các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn
Phú, Vĩnh Yên và hợp lưu với sông Gâm tại chân núi Pắc Tạ gần huyện lỵ. Ngoài
sông Gâm và sông Năng, huyện Nà Hang còn có hai con suối lớn là suối Khuổi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


9
Trang và Bắc Vẵng ( Nặm Vang) cùng hàng chục suối nhỏ khác. Sông suối của
huyện có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác nghềnh thường lũ vào mùa mưa. Ngoài
cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất nông, lâm nghiệp, sông suối Nà Hang
còn có nguồn thuỷ sản phong phú và là đường giao thông quan trọng giữa các
vùng, đồng thời cho phép phát triển thuỷ điện nhỏ cũng như những công trình
thuỷ điện lớn.
Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, địa hình chi phối nên
quần thể động thực vật ở Nà Hang rất đa dạng và phong phú. Thực vật tự nhiên
có nguồn tài nguyên rừng, Nà Hang có 38.125,67 ha rừng sản xuất, 22.399,45
ha rừng đặc dụng và 62.969,12 ha rừng phòng hộ. Trong rừng có nhiều loại gỗ
quý như: nghiến, lát, mun, đinh, sến, thông…, các lâm thổ sản: nấm hương,
mộc nhĩ...và các loài động vật quý hiếm: hổ, báo, trăn, gấu, đặc biệt đây là nơi
duy nhất có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn được ghi tên trong
sách đỏ của thế giới [6, tr 44].
Về tài nguyên khoáng sản, Nà Hang có 4 điểm ăngtimoan, với trữ lượng
khoảng 1 triệu tấn, có 1 điểm măng gan, trữ lượng khoảng 1,5 triệu tấn, ngoài
ra còn có các loại khoáng sản như: thiếc, vàng sa khoáng…Tuy vậy, trữ lượng
khoáng sản không lớn, khó khai thác vì địa hình phức tạp, giao thông vận tải.
Về đất đai, thổ nhưỡng, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 146.368

Mông - Dao, Việt - Mường…Theo số liệu thống kê năm 2009 huyện Nà Hang
có 60.151 nhân khẩu được phân bố theo dân tộc như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


12
Bảng 1: Thành phần các dân tộc ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang
Dân tộc

STT

Tổng số

Tổng số

Tỷ lệ

60.151

100%


7.52%

5

Các dân tộc khác

16.053

26.68%

Ghi chú

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang )
Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở huyện Nà Hang có số dân đông
nhất 33.196 người, chiếm 55,2% tổng dân số toàn huyện, cư trú ở hầu khắp các
xã, thị trấn trong huyện. Nên các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt là văn
hóa ứng xử của người Tày đã có tác động nhất định tới đời sống của các dân
tộc trong huyện.
Người Tày, Nùng vốn thuộc nhóm Âu - Việt trong khối Bách Việt mà địa
bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam Trung Quốc. Vào thế kỷ
thứ III trước công nguyên liên minh bộ lạc Âu- Việt của nhóm Tày- Nùng (với
nền văn minh nương rẫy) đã cùng với liên minh bộ lạc Việt của nhóm ViệtMường (với nền văn minh lúa nước) nằm trong khối Bách Việt thành lập nên “
Vương quốc” Âu Lạc. Người thủ lĩnh đứng đầu là thủ lĩnh An Dương Vương.
Thời Lý - Trần, nhất là thời Lê Sơ, nhà nước phong kiến Việt Nam đặt chế
độ “ thế tập phiên thần” tức chế độ thổ ty, phái một số công thần hay con cháu
của họ chọn những phần tử trung kiên nhất đem theo gia đình, thân tộc lên
chiêu dân lập ấp ở các tỉnh biên giới. Sau mỗi trận chiến thắng, quét sạch quân
xâm lược ra khỏi bờ cõi, các vị lưu quan này đời đời kế tục cai trị địa phương
hết lòng trung thành với chính quyền trung ương làm nhiệm vụ bảo vệ biên

Phúc, một dòng họ không thật phổ biến ở dân tộc Tày. Tuy nhiên, để biết về
nguồn gốc của họ cần phải có những nghiên cứu của các nhà khoa học.
Theo cuốn thư tịch Hán Nôm “Nguyễn Quảng tộc phả” (gia phả dòng họ
Nguyễn Quảng) ở xã Côn Lôn, huyện Nà Hang có ghi: …Nguyễn Quang Khải
trong cuộc khởi nghĩa của Nùng Văn Vân là người Kinh (người Việt) quê ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


14
Quảng Nam đã lên đây làm rể đời trong một gia đình người Tày. Để tưởng nhớ
tới quê hương của mình nên đã dùng chữ Quảng làm tên đệm…”. Ngày nay,
các con cháu dòng họ Nguyễn Quảng đều tự nhận mình là người Tày, mọi
phong tục, tập quán, lối sống sinh hoạt đều giống người Tày. Như vậy, đồng
bào Tày ở Nà Hang một bộ phận là người Tày cư trú từ lâu đời, bộ phận còn lại
là người Kinh bị “Tày hoá” [18, tr 23].
Người Tày hiện nay sống dải rác khắp nơi trong huyện Nà Hang, tập trung
chủ yếu ở các xã Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can. Địa vực cư trú của
người Tày thường là vùng thấp, nơi có các thung lũng nhỏ, soi bãi rộng, nơi gần
nguồn nước… đặc biệt bản của người Tày thường quần cư ở ven lưu vực của hai
con sông lớn đó là sông Gâm và sông Năng, ngoài ra đồng bào còn tập trung cư
trú ở một số con suối lớn như suối Nặm Vang, Bắc Vãng.
Bảng 2: Thống kê dân số người Tày theo xã ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

Stt

Tên xã, thị trấn

Tổng số dân Dân số người Tày


71.8%

4

Phúc Yên

2.781

1.055

37.9%

5

Thượng Nông

4.310

2.474

57.4%

6

Xuân Lập

1.916

180


71.7%

10

Hồng Thái

1.502

32

2.1%

11

Đà Vị

5.290

3.804

72%

12

Khau Tinh

1.395

557


2.781

476

17.1%

16

Năng Khả

5.149

3.271

63.5%

84%

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang 2009 ).
Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở Nà Hang tập trung đông nhất ở
các xã Thượng Lâm (4.323 người, chiếm 84% tổng số dân trong xã), Đà Vị
(3.804 người, chiếm 72% tổng số dân trong xã), Lăng Can (3.731 người,
chiếm 77,5% tổng số dân trong xã), số ít sinh sống ở các xã Sinh Long, (97
người, chiếm 3,62% tổng dân trong xã), Hồng Thái (32 người, chiếm 2,2%
tổng dân trong xã). Việc phân bố không đồng đều giữa các xã, thị trấn không
làm ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày nơi đây.
Cùng với các dân tộc khác trong huyện mỗi dân tộc đều lựa chọn địa bàn
cư trú phù hợp với phong tục tập quán riêng. Sự xen kẽ nhiều dân tộc trên cùng
một địa bàn ngày càng trở nên phổ biến, đan xen vào nhau góp phần làm cho văn

các cây lấy gỗ khác. Ngoài trồng trọt đồng bào còn chú trọng phát triển chăn
nuôi gia súc như trâu, bò lấy sức kéo, ngựa để thồ hàng, dê, lợn để lấy thịt,
chó để giữ nhà, đi săn. Các loại gia cầm hầu hết đều có gà, vịt, ngan, ngỗng…
Ngày nay, chăn nuôi đã trở thành hoạt động kinh tế mang lại thu nhập lớn cho
các gia đình. Không những chỉ để thịt, cung cấp thực phẩm cho các dịp tế lễ,
cưới xin họ còn bán ra thị trường. Nhiều hộ nông dân đã phát triển chăn nuôi
trâu, bò, gà, ngan, vịt, cỏ…theo hướng sản xuất hàng hóa. Hầu hết các gia
đình người Tày đều chú trọng tới môi trường sinh thái quanh nhà ở có vườn
tược và ao cá, do đó ở những nơi thuận tiện nguồn nước đồng bào đều đào ao,
thả cá, cải thiện đời sống. Hiện nay chăn nuôi chiếm tỷ trọng thu nhập khá lớn
trong nhiều gia đình Tày. Tuy vậy, so với nghề trồng trọt thì chăn nuôi vẫn
chỉ là một hoạt động phụ.
Bên cạnh các hoạt động kinh tế sản xuất, chăn nuôi, người Tày còn duy
trì phát triển các hình thức kinh tế chiếm đoạt như: săn bắn, đánh cá, hái lượm
truyền thống. Làm các nghề phụ gia đình: dệt vải, đan lát, nghề rèn đúc, nghề
mộc, thêu thùa, khâu vá…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


17
Nghề trồng bông dệt vải của đồng bào Tày ở đây rất phát triển, gia đình
nào cũng có từ một đến hai khung dệt, sản phẩm bao gồm các loại vải thô, vải
may quần áo, mặt chăn, mặt địu…Để sử dụng và trao đổi với các dân tộc láng
giềng. Theo các cụ già ở xã Thượng Lâm huyện Nà Hang kể lại: nghề dệt ở
đây còn gắn với phong tục nếp nghĩ xưa của đồng bào Tày: “Con gái đi lấy
chồng phải có từ 15 đến 20 cái chăn, màn để tặng bố mẹ chồng và làm của hồi
môn về sau này cho mình và có đồ để sử dụng, bởi khi có con sẽ ít có thời gian
trồng bông dệt vải để làm chăn màn.” Hoa văn trên thổ cẩm của người Tày ở

nay, nghề rèn ở đây hầu như đã bị mai một, các loại dụng cụ đồng bào đều mua
của người Việt.
Phương tiện vận chuyển chính của người Tày là đôi dậu gánh để
chuyển chở sản phẩm nặng đòi hỏi phải mang vác hoặc sử dụng khi đi
nương, đi chợ. Còn đối những thứ nhẹ và sạch sẽ thì chiếc túi vải lại đóng
vai trò khá quan trọng.
Việc dùng ngựa thồ cũng thấy ở nhiều nơi, nhưng hiện nay đã không còn
phổ biến do có ít đồng cỏ để chăn thả ngựa. Trong thời kỳ hợp tác xã nông
nghiệp, ở nơi đây cũng xuất hiện một số loại xe thô sơ giống như máng gỗ để
chở phân từ nhà ra đến cánh đồng. Một loại xe khác như xe quyệt dùng để sức
kéo của trâu hoặc bò để chở củi, hoa màu…cũng được đồng bào tận dụng. Tại
một số đoạn đường khó đi, người ta còn dùng trâu trực tiếp kéo gỗ hoặc tre,
nhất là kéo cột nhà. Còn những bản ở ven sông ven suối lớn thì từ lâu người ta
đó biết tận dụng sức nước để chở bè gỗ nứa và nhiều thứ lâm thổ sản khác.Và
phương tiện đi lại trên sông thường là chiếc thuyền độc mộc. Vào mùa nước lũ,
để qua sông thì chiếc mảng lại là phương tiện quý giá.
Về trao đổi, buôn bán, hiện nay ở Nà Hang có 7 điểm họp chợ, các chợ
trong vùng thường có phiên họp theo một quy ước thống nhất, ít trùng lặp,
được cư dân trong vùng chấp nhận, và trở thành hoạt động không thể thiếu
trong tiềm thức của họ. Ví dụ như chợ phiên ở xã Đà Vị được họp vào các ngày
mùng 9, 19, 29 hàng tháng âm lịch. Chợ phiên ở Lăng Can họp vào các ngày 5,
15, 25 hàng tháng. Các chủ cửa hàng buôn bán tại các chợ thường là người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


19
Kinh, Tày, Hoa…Tại các phiên chợ có bán đầy đủ các sản phẩm như: các loại
thực phẩm, gia súc, gia cầm, lâm thổ sản, các loại dược liệu, dầu muối, chỉ

20
nước rửa chân, cầu thang, khu sàn để nước, nơi để dụng cụ lao động cầm tay và
sàn phơi ngoài trời .
Nhà sàn của người Tày mang bản sắc văn hóa tộc người đậm nét, là kết quả
của quá trình lao động và sáng tạo, là nơi chứa đựng tình cảm, mối quan hệ ứng
xử thường nhật. Ngôi nhà mang dáng dấp vững chãi, thoáng đãng và là niềm tự
hào của người Tày.
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày qua đó ta thấy khả năng và trí tuệ
của những “Kiến trúc sư” người nghệ nhân dân gian Tày đã biết sáng tạo hết sức
tài tình ngay trong điều kiện thô sơ của xã hội có nền kinh tế tự cấp, tự túc là chủ
yếu “Mối quan hệ giữa con người, nếp nhà và tự nhiên, quả là mối quan hệ đa
dạng mà nghệ thuật kiến trúc Việt Nam đã phát hiện và giải quyết hài hòa, cân
xứng trong những điều kiện cụ thể của khí hậu, thời tiết, địa hình, cảnh vật và tài
nguyên…” [38, tr 64].
Về trang phục, trang phục truyền thống của người Tày chủ yếu là dùng vải
chàm đen không trang trí hoa văn. Trang phục nam giới mặc quần chân què,
cạp lá toạ, áo cánh bốn thân, áo dài năm thân, áo may theo kiểu xẻ ngực, cổ
tròn không có cầu vai, có bẩy chiếc khuy vải, có hai túi ngực và hai túi ở hai
vạt trước. Khăn quấn trên đầu may bằng vải chàm đen hoặc tơ tằm, khi quấn
người ta xếp chéo hình chữ nhân chéo trên chán. Trang phục của nữ giới màu
chàm đen không trang trí hoa văn gồm: áo cánh, áo dài năm thân, quần, váy,
thắt lưng, khăn vấn tóc và khăn vuông đội trên đầu. áo cánh là loại bốn thân xẻ
ngực, cổ tròn, có hai túi nhỏ ở hai vạt, ống tay nhỏ.áo cánh thường mặc ở nhà,
khi đi làm hoặc mặc lót bên trong áo dài khi dự lễ hội, đám cưới, áo cánh của
các thiếu nữ thường may màu trắng, khi mặc bên trong áo dài họ thường để lộ
hai mép gấu áo hai bên sườn tạo thêm nét trẻ trung, duyên dáng. áo dài nữ là
loại áo năm thân, có năm cúc bằng nút vải hoặc bằng đồng cài bên nách phải.
Cổ áo tròn, ống tay dài và hẹp. Phụ nữ thường mặc quần ống rộng, một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


đồ uống hợp với mùa, hợp với điều kiện sinh hoạt của gia đình, của cộng đồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


22
1.2.2.2. Văn hóa tinh thần
Người Tày ở Nà Hang quan niệm vũ trụ là vô cùng, vô tận. Trời và đất
đều có nguồn gốc sinh thành. Trời và đất gồm 3 mường, mường trời là thế giới
thần tiên, mường người là thế giới mặt đất; mường âm là thế giới của những
người sống trên mặt đất. Mặt trời, mặt trăng và các vì sao là tai mắt của trời.
Riêng ở nơi trần gian còn có muôn vật, muôn loài, do con người làm chúa tể.
Người Tày thờ thần không thờ phật.
Người Tày có tín ngưỡng đa thần giáo, xuất phát từ quan niệm “vạn vật
hữu linh”, do Pụt Luông - Ngọc Hoàng sinh ra và đều có linh hồn. Tín ngưỡng
của người Tày xuất phát từ việc con người nhỏ bé, bất lực trước thiên nhiên
không lí giải được sức mạnh cũng như nhiều điều thần bí, do đó đều cho là ma
(Pji). Việc tin vạn vật đều có linh hồn, có ma nhưng chưa có hệ thống giáo lý,
cho thấy tín ngưỡng của người Tày còn ở dạng thức tín ngưỡng bản địa nguyên
thủy, thờ đa thần “vạn vật hữu linh”.
Người Tày ở huyện Nà Hang thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ trong nhà.
Thường thắp hương vào ngày mùng 1 và ngày giằm hàng tháng với nghi lễ và
đồ lễ đơn giản. Người Tày không có tập tục làm giỗ hàng năm, sau khi làm ma
cho người chết xong, bài vị của người chết đươc nhập vào bát hương tổ tiên.
Văn học nghệ thuật dân gian của người Tày ở Nà Hang rất phong phú và
đa dạng thể hiện qua các điệu dân ca như: hát then, lượn, phong slư, quan
làng… các thể loại truyện chữ nôm, truyện viết tay, các thành ngữ, tục ngữ. Hát
Then là loại hình nghệ thuật vừa mang tính tôn giáo, vừa là yếu tố nghệ thuật
truyền thống đặc sắc được đồng bào yêu thích, cả về giai điệu tha thiết của cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status