ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN PHI HÙNG
NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG, DỊCH VỤ VĂN HÓA
TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG VĂN THẮNG
HÀ NỘI - Năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận án này là do tự bản thân thực hiện và không
sao chép các công trình nghiên cứu khác để làm sản phẩm của riêng mình.
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận án có nguồn gốc và được trích dẫn
rõ ràng. Tác giả luận văn hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và
nguyên bản của luận án.
Tác giả
Nguyễn Phi Hùng
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đến nay, tôi luôn nhận được
rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy, các cô, gia đình, đồng nghiệp và
1.1.7. Khái niệm du lịch văn hóa .................................................................... 10
1.1.8. Chức năng dịch vụ văn hoá ................................................................... 10
1.1.9.Chức năng sinh thái VQG ...................................................................... 11
1.2. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới .............................. 11
1.3. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam ................................ 12
1.3.1. Quan niệm về quản lý đối với dịch vụ văn hóa .................................... 13
1.3.2. Đặc điểm của quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá .................... 14
1.3.3. Sự cần thiết khách quan về quản lý đối với dịch vụ văn hóa trong nền
kinh tế thị trường ............................................................................................. 15
CHƢƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU21
2.1. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................. 21
2.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích, giao thông ......................................... 21
2.1.2. Một số đặc điểm tự nhiên ...................................................................... 22
2.1.3. Đặc trưng văn hóa, kinh tế xã hội ở vùng đệm VQG Ba Vì ................. 33
2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................. 37
2.3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 37
2.3.1. Không gian ............................................................................................ 37
2.3.2. Chuyên môn .......................................................................................... 37
2.4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ................................. 38
2.4.1. Phương pháp luận.................................................................................. 38
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 43
CHƢƠNG III:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................. 46
3.1. Hiện trạng dịch vụ du lịch của VQG Ba Vì ......................................... 46
3.1.1. Các điểm du lịch tâm linh ..................................................................... 47
3.1.2. Các tuyến du lịch khám phá thiên nhiên ............................................... 49
3.1.4. Các phế tích thời Pháp thuộc ................................................................ 49
3.1.5. Một số khu du lịch................................................................................. 51
3.2. Kết quả hoạt động du lịch của VQG Ba Vì ......................................... 52
4.1.4. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm ..................................... 73
4.2. Nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa tại VQG Ba Vì .............. 74
4.2.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức ......................................................... 74
4.2.2. Định hướng thị trường khách ................................................................ 76
4.2.3. Xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, bản sắc riêng ....................... 77
4.2.4. Đẩy mạnh công tác phối hợp ................................................................ 81
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DVVH:
Dich vụ văn hóa
DLST:
Du lịch sinh thái
ĐDSH:
Đa dạng sinh học
GDMT& DV:
Giáo dục môi trường và dịch vụ
KH&CN:
Khoa học và công nghệ
Hinh 5. Biểu đồ lượng khách đến VQG Ba Vì từ 2011-2015 ........................ 53
Hình 6. Biểu đồ lượng khách nước ngoài đến VQG từ năm 2011-2015 ........ 54
Hình 7. Biểu đồ độ tuổi khách tham quan....................................................... 60
Hình 8. Biểu đồ nơi du khách xuất phát tới Vườn .......................................... 61
Hình 9 . Biểu đồ phương tiện đi lại của du khách .......................................... 61
Hình 10. Biểu đồ mục đích tham quan của du khách ..................................... 62
Hình 11. Biểu đồ thời gian lưu trú .................................................................. 62
Hình 12. Biểu đồ thu nhập bình quân của du khách ....................................... 63
Hình 13. Biểu đồ sẵn sàng chi trả cho vé vào cổng ........................................ 64
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Núi Ba Vì từ ngàn xưa đã nổi tiếng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn
thủy hữu tình, có nhiều địa danh nổi tiếng như đỉnh Vua, đỉnh Tản Viên, đỉnh
Ngọc Hoa, cốt 400m, 600m, 800m.... Những địa danh nơi đây tạo nên một
quần thể cảnh quan kỳ vĩ cùng với nhiều bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc. Bên
cạnh đó Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì còn là nơi lưu giữ lại rất nhiều ký ức, di
tích lịch sử, văn hóa của cha ông để lại như di tích lịch sử cấp quốc gia đền
Thượng, đền Trung; đền thờ Bác Hồ, tháp Báo thiên v.v…Xung quanh chân
núi Ba Vì còn có nhiều điểm du lịch sinh thái nổi tiếng như Ao Vua, Khoang
Xanh, Thiên Sơn - Suối Ngà, hồ Tiên Sa, Đầm Long, Đồi cò Ngọc Nhị...
VQG Ba Vì là vùng núi chuyển tiếp với hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn tồn
tại khá nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và
thế giới như gà lôi trắng, khỉ, cu li, sóc bay, rắn hổ mang chúa …là đặc trưng
cho vùng trung du Bắc bộ rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và
giáo dục môi trường, nơi đây cònsở hữu một thảm thực vật vô cùng phong phú
được xem như lá phổi xanh của thủ đô Hà Nội; là nơi phòng hộ đầu nguồn, nơi
cung cấp nguồn nước sản xuất, nước sinh hoạt của người dân sinh sống quanh chân
núi Ba Vì và núi Viên Nam.
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch và tiềm năng, tài nguyên du lịch
sinh thái của VQG Ba Vì;
- Lượng giá bước đầu về dịch vụ văn hoá của VQG Ba Vì;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chức năng, dịch vụ văn
hoá VQG Ba Vì.
4. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phần phụ lục, luận văn gồm 4 chương:
Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Địa điểm, thời gian, phạm vi, phương pháp luận nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu.
Chương III: Kết quả nghiên cứu.
Chương IV: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ
văn hóa.
2
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về Vườn Quốc Gia
VQG là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp
luật của chính quyền sở tại. VQG được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác,
can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu
vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh
thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần
được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người [5].
Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên (IUCN) [5] thì VQG là:
Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, được chọn để:
- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái
Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các hàng hóa vật thể hữu hình
còn có những loại dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường. Đó là hàng
hóa phi vật thể, hay còn gọi là hàng hóa - dịch vụ. DVVH là những hoạt động
trên lĩnh vực văn hóa có tổ chức và được trả công, nhằm phục vụ trực tiếp cho
những nhu cầu nhất định của công chúng. DVVH tồn tại ở nhiều dạng: văn
hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, văn hóa du lịch, văn hóa giải trí, văn hóa
sinh hoạt xã hội…Những nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ văn hóa bao gồm:
nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống, nhân tố lịch sử. DVVH hiện nay ở Việt
Nam có cả dịch vụ văn hóa công như: các DVVH về tâm linh, du lịch và một
số dịch vụ văn hóa về sinh hoạt xã hội,.... Tuy nhiên hiện nay các DVVH
công được tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa Thể thao và Du
lịch một cách khá tốt, không có nhiều những biến tướng, phức tạp. Ngược lại,
các dịch vụ văn hóa tư nhân hiện nay lại đang có những bất cập đi ngược lại
với thuần phong mỹ tục của dân tộc nên đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ,
hiệu quả hơn [2,16,30,31].
b) Đặc điểm và vai trò của dịch vụ văn hóa
4
Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công
nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao
động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn
minh của con người. Từ đó, hoạt động dịch vụ trở thành một ngành kinh tế
độc lập. DVVH là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn nhu cầu con
người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại. Thực tế hiện
nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên,
đủ ăn, đủ mặc thì hoạt động dịch vụ văn hoá không thể thiếu. Theo đó,
DVVH có các đặc điểm như sau:
- Giá trị sử dụng của sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật thể (hữu
bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý)
[15,31,32].
Với khái niệm trên, quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và
các khách thể có quan hệ gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động có thể chỉ là
một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý
và chủ thể quản lý. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra các tác
động quản lý.
- Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế đòi
hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý còn
đối tượng quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người) giới vô sinh
hoặc sinh vật. Quản lý chính là sự kết hợp được mọi nỗ lực chung của mọi
người trong tổ chức và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt tới
mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn
khéo và có hiệu quả nhất.
1.1.4. Khái niệm hiệu quả
Theo các nhà ngôn ngữ học khái niệm hiệu quả được hiểu là: Kết quả
như yêu cầu của việc làm mang lại. Nhưng theo từ điển Lepetit Lasousse định
6
nghĩa: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ
nhấtđịnh” [22].
Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho: Hiệu quả là mục tiêu
chủ yếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với
các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối
tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra – đầu vào. Như vậy, xác
Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo
các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức
tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: Nghỉ ngơi,
giải trí, xem danh lam thắng cảnh ... Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi
là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao
hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp
phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu
nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại
hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch
thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của
cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng
cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc
tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở
chuyên cung ứng.
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh
trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi
của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ,
nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
Các loại hình du lịch: Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm
khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt
Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây [19]:
8
- Phân chia theo môi trường tài nguyên: Du lịch thiên nhiên; Du lịch
văn hoá.
- Phân loại theo mục đích chuyến đi: Du lịch tham quan; Du lịch giải
loại [1,13].
1.1.7. Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam
song đã có một lịch sử lâu dài trên thế giới. Tổ chức du lịch thế giới (WTOWorld Tourism Organization) từng thống kê du lịch văn hóa đóng góp khoảng
37% du lịch toàn cầu và dự báo có thể tăng khoảng 15% mỗi năm. Có rất
nhiều quốc gia thế giới khai thác hiệu quả loại hình này trong đó có các quốc
gia Đông Nam Á.
Theo định nghĩa của WTO, du lịch văn hóa là những chuyến đi mà mục đích
chính hoặc mục đích bao gồm trong đó là thăm các địa điểm, sự kiện mà giá
trị văn hóa, lịch sử của chúng khiến chúng trở thành một phần trong di sản
văn hóa của một cộng đồng. Như vậy, với định nghĩa này có thể thấy tham
quan các điểm di sản văn hóa không nhất thiết là động lực chính của một
chuyến du lịch văn hóa. Từ đó chúng ta có thể kết hợp du lịch văn hóa cùng
các loại hình khác để tăng hiệu quả, sự hấp dẫn. Tiêu biểu hiện nay có thể kể
đến loại hình “Eco- cultural” tourism, tức là kết hợp du lịch văn hóa và sinh
thái [13,18,23].
1.1.8. Chức năng dịch vụ văn hoá
a) Văn hoá (bao gồm cả việc sử dụng tự nhiên như là một mô típ trong sách,
phim, ảnh, kiến trúc, quảng bá).
b) Tinh thần, tâm linh và lịch sử (sử dụng tự nhiên cho tín ngưỡng, giá trị di
sản hoặc thiên nhiên).
c) Vui chơi, nghỉ ngơi giải trí (bao gồm du lịch sinh thái, thể thao ngoài trời,
tiêu khiển).
d) Khoa học và giáo dục (bao gồm việc sử dụng các hệ tự nhiên, hệ sinh thái
tự nhiên cho học sinh, sinh viên dã ngoại và khám phá khoa học) [9].
e) Chữa bệnh (và nghỉ dưỡng) bao gồm chữa bệnh sinh thái, chữa bệnh nhờ
rừng xã hội và sự hỗ trợ giúp đỡ của động vật…
10
của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội. Các giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau. Trong các giá trị vật
chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá
trị vật chất. Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa sự phát triển của năng lực bản
chất của con người.
Dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực
tiếp hay gián tiếp của con người. Vì vậy, Mác đã nói rằng, văn hóa là sự thể
hiện các năng lực bản chất của con người, bao gồm khả năng, sức mạnh,
phương thức nhận thức, đánh giá và cải tạo thế giới của con người.
Từ cách hiểu như vậy về văn hóa, chúng tôi lựa chọn định nghĩa chính
thức về văn hóa của UNESCO (đây cũng là một định nghĩa văn hóa được
nhiều người chấp nhận) để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình: “Văn
hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc
sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như
diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thống
các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự
khẳng định bản sắc riêng của mình” [16].
1.3. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam
Hiện nay các sản phẩm du lịch văn hóa của Việt Nam khá phong phú và
đa dạng tuy nhiên để đưa vào khai thác và kinh doanh du lịch được tốt hơn thì
có thể kể đến một số những đơn vị đã tận dựng được thành công như: ở
Quảng Nam có thánh địa Mỹ Sơn, khu Phố cổ Hội An. Ở Huế thì người dân
xứ Huế luôn tự hào về những tiềm năng du lịch văn hóa của mình. Vì vậy,
Thành phố Huế luôn xác định du lịch văn hoá là trọng tâm, Ở Hà Nội thì du
lịch văn hóa được các công ty du lịch luôn đặt lên hàng đầu trong các tourr du
lịch của họ. Ví dụ như tour tham quan lăng Bắc, Văn Miếu, thăm phố cổ Hà
Nội...
Hiện nay với quan điểm nhìn nhận văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
phương là chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh
vực dịch vụ văn hoá là đối tượng quản lý và hệ thống pháp luật, chính sách, quy
hoạch, kế hoạch,...là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý [31].
13
Với tư cách là đối tượng quản lý, hoạt động dịch vụ văn hoá phải được
tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra,
giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Với tư cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý,
pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch,...phải được xây dựng trên cơ sở
chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa
vào dó vận động, phát triển và chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám sát
đối tượng quản lý.
Quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá là tạo môi trường thông
thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ văn hoá
phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích. Thực hiện
kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ văn hoá nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương,
uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật. Điều khiển những hoạt
động của văn hoá, đời sống văn hoá đi theo đúng chuẩn mực xã hội chủ
nghĩa. Mục đích cuối cũng là tạo được tính nhân văn, nhân bản trong mỗi con
người để phát triển hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân trong cộng đồng từ
đó giữ gìn được bản sắc dân tộc kết hợp với sự tiến bộ của nhân loại.
1.3.2. Đặc điểm của quản lý đối với hoạt động dịch vụ văn hoá
Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động dịch vụ
văn hoá diễn ra trong nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ đặc trưng của nền
kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng động và nhạy cảm. Vì vậy, hoạt động
dịch vụ văn hoá đòi hỏi Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch...và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý
hoạt động dịch vụ văn hoá [2].
thách thức lớn đối với mỗi quốc gia. Bởi vì, mọi quan hệ hợp tác dù ở bất kỳ
lĩnh vực nào và đối tác nào cũng cần có trật tự nhất định và chỉ có thể dựa trên
cơ sở chính sách, pháp luật.
1.3.3. Sự cần thiết khách quan về quản lý đối với dịch vụ văn hóa trong
nền kinh tế thị trường
a) Do yêu cầu phải giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
15
Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa phải hội tụ cả hai yếu tố: yêu nước
và tiến bộ. Yêu nước là truyền thống của dân tộc, yêu nước ngày nay cũng
chính là yêu chủ nghĩa xã hội; yếu tố tiến bộ ở đây, ngoài việc phát huy tinh
hoa văn hóa dân tộc, còn phải kế thừa và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân
loại phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam.
Đậm đà bản sắc dân tộc chính là những giá trị của dân tộc đã được hun
đúc trong suốt nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó chính là truyền thống
đoàn kết, lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha, đức tính nhân nghĩa, cần cù
trong lao động, sự ham học hỏi và cầu tiến, tinh thần bất khuất, kiên cường…
Vấn đề quan trọng là định hướng hoạt động dịch vụ văn hóa trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nếu không có định
hướng tốt, nếu buông lỏng sự hướng dẫn của cơ quan chức năng và vai trò
quản lý của nhà nước, thì sẽ dẫn đến hoạt động dịch vụ văn hóa tràn lan, vi
phạm pháp luật, tác động tiêu cực trong xã hội và ảnh hưởng đến thuần phong
mỹ tục của dân tộc [2].
Một vấn đề đặt ra, nếu trong lĩnh vực kinh tế thì xóa bao cấp, còn trong
lĩnh vực văn hóa thì phải như thế nào? Phát triển văn hóa để xây dựng nền
tảng tinh thần cho xã hội, vậy thì phát triển văn hóa để xây dựng nền tảng tinh
thần cho xã hội cần được tiến hành ra sao? Từ trong thực tế cuộc sống cho
thấy, với quy luật sinh tồn, văn hóa là giao lưu, tiếp diễn, kế thừa và sáng tạo,