ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
VŨ MINH HOÀNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU DỰ ÁN: “NGHIÊN CỨU
PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU TỈNH BẮC KẠN”
TẠI XÃ BÌNH VĂN, HUYỆN CHỢ MỚI GIAI ĐOẠN 2016 - 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Hướng nghiên cứu
: Chính quy
: Phát triển nông thôn
: Kinh tế & PTNT
: 2015 - 2019
Thái Nguyên- năm 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
Thái Nguyên- năm 2019
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thấy cô, gia đình, bạn bè
và nhiều cá nhân và tập thể.
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Đỗ Hoàng Sơn – Giảng viên
khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bác Nguyễn Văn Tôn– Giám
đốc HTX Thắng Lợi xã Bình Văn - huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn đã giúp
đỡ tận tình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp này.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt thành của các cô, chú, anh, chị tại
HTX Thắng Lợi đã giúp đỡ tôi thực hiên tốt đề tài này.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên
khích lệ trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Với thời gian và khả năng còn hạn chế, đề tài không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chân tình từ các thầy cô và các bạn.
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Vũ Minh Hoàng
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................. 21
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 21
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ................................................................................. 21
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ............................................................ 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................ 22
iii
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu .................................................................................. 22
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu ....................................................................................... 23
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................................... 24
4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Bình Văn ............................. 24
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................................... 24
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội .......................................................................................... 26
4.1.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng ......................................................................................... 27
4.1.4. Đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của xã Bình Văn,
Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc kạn .......................................................................................... 28
4.2. Đánh giá kết quả dự án trồngcây dược liệu tại xã Bình Văn ..................................... 29
4.2.1. Đánh giá khái quát tình hình thực hiện dự án tạixã Bình Văn ................................ 29
4.2.2. Thực trạng trồng cây dược liệu tại HTX Thắng Lợi, xã Bình Văn......................... 31
4.2.3. Thực trạng trồng cây dược liệu tại nhóm hộ, xã Bình Văn ..................................... 33
4.3. Bước đầu đánh giá kết quả các mô hình trồng dược liệu tại xã Bình Văn ..................... 34
4.3.1. Mô hình trồng Dong riềng đỏ ................................................................................. 34
4.3.2. Mô hình trồng Hà thủ ô đỏ ...................................................................................... 38
4.3.3. Mô hình trồng Ba kích tím ...................................................................................... 41
4.4. Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong quá trình trồng cây dược liệu
tại xã Bình Văn .................................................................................................................. 42
4.4.1. Thuận lợi ................................................................................................................. 42
2,5 tuổi trồng theo các mô hình của dự ántại xã Bình Văn .......................................40
v
DANH MỤC BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cụm từ viết tắt
BQL
Giải nghĩa
Ban quản lý
2
HTX
Hợp tác xã
3
HT
Hệ thống
4
KH
Kế hoạch
đã có từ lâu đời, con người không chỉ biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm
thức ăn mà còn làm thuốc chữa bệnh.
Trong những thập kỷ gần đây, sự gia tăng dân số quá nhanh, nhu cầu sử
dụng cây dược liệu càng nhiều, dẫn đến nhiều loài cây dược liệu trong đó có
những cây quý hiếm đã bị tuyệt chủng,60000 loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn
tại là rất mong manh.Vì vậy song song với việc nghiên cứu về sử dụng cây
dược liệu, một số vấn đề cấp bách đó là bảo tồn và phát triển các loài cây dược
liệucũng được đặt ra. Đã có một số chương trình đánh giá nguồn tài nguyên
cây dược liệu, một số dự án về bảo tồn và gây trồng thử nghiệm, phát triển cây
dược liệutại một số địa phương. Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu cụ
thể về sự thích nghi, về sinh trưởng và phát triểncủa từng loại cây dược
liệutrong bảo tồn, phát triển trong các dự án tại các địa phương. Để có cơ sở
nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát triển các loài cây dược liệu, đặc biệt là
các loài cây quý có nguy cơ tuyệt chủng, rất cần có những nghiên cứu đánh giá
về các chương trình, dự án về gây trồng bảo tồn và phát triển các loài cây dược
liệugóp phần bảo tồn đa dạng sinh vật và nguồn gen, bảo tồn những kinh
nghiệm chữa bệnh và phát triển kinh tế tại các vùng đồng bào dân tộc.
Bắc Kạn được biết đến là địa phương có nhiều cây dược liệu quý. Tuy nhiên
những năm gần đây, tình trạng khai thác tràn lan khiến diện tích cây dược liệu ngày
càng bị thu hẹp, nhiều cây thuốc quý đứng trước nguy cơ bị tận diệt... Cây dược
liệu có ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung nhiều ở các
huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Na Rì… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển
2
nền y, dược cổ truyền ở địa phương, cũng là nền tảng phát triển kinh tế cho nhiều
hộ dân khi mở rộng diện tích trồng các loại cây dược liệu có giá trị.
Thấy được tiền năng và giá trị của cây dược liệu, vừa qua UBND tỉnh ban
hành kế hoạch phát triển y, dược cổ truyền trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm
loại cây dược liệu quý hiếm có nguồn gốc cận nhiệt đới và ôn đới được coi là thế
mạnh của xã.Dự án “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn” đã
và đang tiến hành trồng thí điểm 3,0ha Ba kích tím, 1 ha Hà thủ ô đỏ, 2,0ha Dong
riềng đỏ và sắp tới sẽ tiến hành trồng thêm nhiều loài cây dược liệu khác như
Đẳng sâm, Hoài Sơn.... Cây dược liệu trồng theo dự án được tiến hành tại nhóm
hộ dân trong xã Bình Văn và tại Hợp tác xã (HTX) Thắng Lợi. Sau hơn hai năm
thực hiện trồng cây dược liệu, rất cần có những đánh giá những kết quả đạt được,
phân tích cụ thể những khó khăn tồn tại để có những giải pháp tiếp theo cho phát
triển cây dược liệu tại địa phương. Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa
Kinh tế & PTNT, giảng viên hướng dẫn tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:“Đánh
giá kết quả bước đầu Dự án “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh
Bắc Kạn” tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới giai đoạn 2016 - 2019” nhằm
đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn về mở rộng xây dựng mô hình trồng và
kinh doanh cây thuốc tại địa phương.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đề tài đánh giá kết quả bước đầu dự án phát triển cây dược liệu tại xã Bình
Văn - huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn. Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
phát triển vùng trồng cây dược liệu tại địa phương trong những năm tới, đưa cây
dược liệu trở thành cây trồng có thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của xã Bình Văn. Góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng cây dược liệu trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu đặc điểm, thuận lợi khó khăn và các điều kiện của địa bàn
nghiên cứu.
- Đánh giá và phân tích những điều kiện tại xã Bình Văn phù hợp cho
4
Phần 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm có liên quan
- Khái niệm về sản xuất: Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người
và xã hội loài người, sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh
thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn
tại và phát triển của xã hội [15].
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác
động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của
cải vật chất thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người [15].
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trong sản xuất
con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất
làmthayđổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những
của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống [15].
- Khái niệm về cây dược liệu: Là những loài thực vật có tác dụng
dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc
trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong
lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn
tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt
được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được [3].
- Khái niệm về phát triển cây dược liệu là: Là một quá trình tăng tiến
về mọi mặt của nuôi trồng dược liệu trong một thời gian nhất định. Trong
đó bao gồm cả sự tăng trưởng về quy mô, diện tích, sản lượng và cơ cấu
sản xuất của ngành [4].
- Phát triển dược liệu bền vững: Là sự đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu dược liệu hiện tại nhưng không làm xấu đi khả năng đáp ứng ngày
càng cao về phát triển dược liệu cho tương lai [4].
với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được. Nguốc gốc tìm ra thức ăn, thuốc
7
và cây có độc là một về sau mới dần dần biết tổng kết và đặt ra lý luận (Theo
Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam). Trong nguồn tài nguyên
lâm sản ngoài gỗ phong phú của Việt Nam, cây thuốc mọc tự nhiên chiếm giữ
một vị trí quan trọng về số lượng loài, cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế
cao. Theo kết quả điều tra của ngành Y tế, ở Việt Nam có tới gần 4.000 loài
thực vật và nấm có công dụng làm thuốc. Trong đó có tới hơn 90% là cây mọc
tự nhiên và tập trung chủ yếu trong các quần xã rừng. Từ nguồn cây thuốc mọc
tự nhiên, hằng năm đã khai thác được một khối lượng lớn các loại cây dược
liệu, sử dụng cho nhu cầu làm thuốc và xuất khẩu. Bên cạnh các phương thức
dùng cây thuốc theo cách cổ truyền, như thuốc sắc, thuốc cao, thuốc bột, thuốc
viên, thuốc chườm bó và xoa bóp. Nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ
cây cỏ đã được chế tạo, mang lại hiệu quả điều trị cao hơn. Xu hướng sử dụng
cây thuốc theo hướng này ngày càng được chú trọng và phát triển.
2.1.4. Vai trò của cây dược liệu
Việt Nam là nước có nền y dược cổ truyền lâu đời. Nền y dược đó có tiềm
năng và vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Tuy nhiên để kế thừa, bảo tồn và phát triển, không những chúng ta cần có một
đội ngũ thầy thuốc giỏi mà còn phải có nguồn dược liệu đảm bảo về chất lượng
và đa dạng về chủng loại.
Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng “Trở về
thiên nhiên” thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng
gia tăng bởi nó ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của
cơ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên
thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe
cộng đồng. Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y
độ ẩm khá cao tạo điều kiện cho cây cối phát triển. Diện tích rừng chiếm 2/3
diện tích đất. Hệ thực vật rất đa dạng và phong phú, cả nước có khoảng 20.000
loài trong đó có trên 1000 loài cây thuốc nước ta lại có một sô vùng có độ cao
trên 1.000 m như SaPa, Đà Lạt nên thuận lợi cho việc di nhập một số cây như
artichaut, dương địa hoàng… Nước ta lại có đưởng bờ biển trên 3.200 km chạy
9
từ Bắc vào Nam nên có nhiều hải sản quý hiếm dùng làm thuốc. Nếu chúng ta
biết cách khai thác và nuôi trồng một cách hợp lý thì sẽ có nhiều đóng góp cho
ngành dược nước ta. Dân tộc ta cũng như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật và một
số nước Đông Nam Á khác có truyền thống chữa bệnh theo lối y học cổ truyền
từ lâu đời, đòi hỏi cung cấp một số lượng lớn về dược liệu. trong những năm
gần đây lượng thuốc bắc của chúng ta nhập từ Trung Quốc khá nhiều, nếu có
kế hoạch đẩy mạnh việc trồng trọt và di thực thêm các cây thuốc của Trung
Quốc thì sẽ hạn chế được sự lệ thuộc.
Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng trình bày ở đại hội
lần thứ năm đã chỉ rõ “…một nhiệm vụ cấp bách là khai thác mọi khả năng sẵn
có trong nước nhằm tạo cho được các nguồn dược liệu, tích cực xây dựng công
nghiệp dược phẩm và sản xuất thiết bị y tế, tạo mọi điều kiện để khắc phục tình
trạng thiếu thuốc kể cả con đường xuất để nhập”. Qua đó chúng ta càng thấy
vai trò quan trọng của dược liệu trong ngành y tế và trong nền kinh tế.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu
2.2.1.1.Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới
Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con
người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh; những cây cỏ ăn được thì sử
dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần
được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời
M.D.Choupinxkaia và A.A.Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây
thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây
thuốc”. Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên
Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho
sức khoẻ của con người. Qua cuốn sách "Chữa bệnh bằng cây thuốc" tác giả
Kovalena đã giúp người đọc tìm được loài cây thuốc và chữa đóng bệnh với
liều lượng đã được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)[7].
Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales
du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây
thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương.
11
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng số
khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng
20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau. Trong đó, Ấn Độ
được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở
một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc.
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực
hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Good Agricultural and Collection
Practices - GACP). Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây
thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và
bảo quản sau thu hoạch. Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản
phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới. Trung Quốc và
Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung
quy định chung cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản
phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới [15].
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc
nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc. Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được
nhiên bên cạnh tiềm năng như vậy thì việc phát triển nguồn dược liệu trong thời
gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền
(CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống
trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Yên Bái, Thanh
Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai
Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại
Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên). Gần đây nhiều loài thuốc
ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô,
Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả,
Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ, vv…
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các
cây thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Đỗ Tất Lợi (1999) trong cuốn
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc;
13
Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây
thuốc; Ts. Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây
thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu
(2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307
họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó có trên
90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên. Nhưng qua điều tra thì con số này có
thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc
thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ. Trong những
năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một
lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng
ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã
chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ 1994 2002, Viện dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng,
tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích trong đó
có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình
trồng Ba kích ở đồi và đất nương rẫy cũ. Bước đầu các mô hình này đã đem lại
những hiệu quả đáng kể [10].
Trong công trình cây thuốc – nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang
có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn
kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng
rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả.
Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các
hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh
tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền. Bảo
tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và
Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc [2].
Trong 2 năm 2004 - 2005 Ngô Quý Công đã tiến hành điều tra việc khai
thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo,
nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái của người dân cũng là vấn đề cần quan
15
tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm
cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự
khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc. Vì vậy
việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng
tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm
áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra
những giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển [4].
Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành
công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc
đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây. Trên cơ sở các
nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và
phát triển [12].
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng,
kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa
có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, vì vậy việc nghiên cứu bảo tồn và
phát triển thương mại các loài cây dược liệu tại Việt Nam là một việc rất cần thiết
hiện nay. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi có có nhiều cây dược liệu quý phân bố tự
nhiên, đây cũng là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống có thói quen sử dụng
cây thuốc thảo dược nên có thể là nơi lý tưởng cho các nghiên cứu về cây thuốc và
phát triển cây thuốc theo hướng hàng hóa.
2.2.2.Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm việc phát triển dược liệu, nhằm
khai thác tiềm năng, lợi thế của Việt Nam và coi đó là một trong các nhóm giải
pháp của công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn, do giá trị thu nhập của dược liệu mang lại. Ngày 30-10-2013, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng
thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, với quan điểm
phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi
tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội; phát triển dược liệu theo hướng sản xuất
hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham
17
gia đầu tư phát triển dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ
dược liệu.
Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát
triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược
mô hình dược liệu do các tỉnh triển khai chỉ là các mô hình thí điểm, khả năng
nhân rộng còn hạn chế do chưa hình thành cụ thể những quy chuẩn, quy chế,
những quy định về đầu tư và khuyến khích đầu tư,…
Từ chính sách đến thực tế phát triển các vùng trồng dược liệu trong những
năm qua tại Việt Nam, đề tài này thấy rằng, quy hoạch tổng thể phát triển dược
liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vẫn chỉ là kế hoạch, chưa
được chú trọng đầu tư, bố trí nguồn kinh phí để phát triển dược liệu. Hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật về dược liệu còn thiếu, hoạt động kinh doanh, sản
xuất dược liệu vẫn dựa theo các quy định về quản lý thuốc tân dược, cho nên,
có nhiều bất hợp lý. Để nâng cao công tác quản lý chất lượng dược liệu và
củng cố hệ thống cung ứng dược liệu, cần có cơ chế hỗ trợ, ưu tiên đối với
dược liệu trồng trong nước, dược liệu khai thác hợp pháp, thuốc sản xuất từ
dược liệu trong nước… Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn các dược liệu nhập
khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ.
2.2.3. Khái quát về dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn”
Ngày 25 tháng 02 năm 2016, UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số
232/QĐ-UBND về việc phê duyệt tổ chức, cá nhân trúng tuyển là đơn vị chủ
trì thực hiện dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn” là
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Ngày 13/9/2016, UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 1469/QĐ-UBND về
việc phê duyệt nội dung thuyết minh và dự toán kinh phí thực hiện dự án: “Nghiên
cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn”. UBND tỉnh Bắc Kạn là cơ quan
chủ quản dự án, cơ quan quản lý dự án là Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc
Kạn, cơ quan chủ trì thực hiện dự án là Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên. Thời gian thựchiện dự án 36 tháng (từ 8/2016 đến 7/2019). Tổng kinh