XÂY DỰNG hệ THỐNG đề mở TRONG dạy học văn NGHỊ LUẬN văn học NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực SÁNG tạo CHO học SINH lớp 11 TRUNG học PHỔ THÔNG - Pdf 65

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI BÍCH THỦY

XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC VĂN
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hà Nội – 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC VĂN
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Tuyết Hạnh
Sinh viên thực hiện khóa luận: Bùi Bích Thủy

Hà Nội – 2019



6.
7.
8.
9.

Viết tắt
ĐC
GD&ĐT
KTĐG
NCKH
NLVH
NLXH
SGK
THPT
TN

Chữ viết đầy đủ
Đối chứng
Giáo dục và Đào tạo
Kiểm tra đánh giá
Nghiên cứu khoa học
Nghị luận văn học
Nghị luận xã hội
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
Thực nghiệm

4



đinh: “Giáo dục phổ thông có mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức , trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
Xã hội Chủ nghĩa. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp
hành Trung ương khóa XI cũng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc...” [16]
Trong năm 2018, Bộ GD&ĐT cũng đã giới thiệu “Dự thảo Chương
trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể” [11]. Theo đó, một trong
những quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông là: “Chương
trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về
phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo

7


dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết,
để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ
động, sáng tạo trong thực hiện chương trình” [11, tr. 6]. Bên cạnh đó, yêu cầu
cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh cũng nhấn mạnh mục tiêu giúp
học sinh: “Hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” [11, tr. 7]. Những nội
dung này cho thấy: Chương trình giáo dục phổ thông tới đây cho phép giáo
viên và học sinh có cơ hội phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc thực
hiện chương trình; nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực sáng tạo cho
học sinh.
Sử dụng để mở trong dạy học và trong KTĐG là một trong những cách
đổi mới phương pháp dạy học. Trong dạy học Ngữ văn, việc xây dựng hệ
thống đề mở là một đòi hỏi quan trọng, quyết định lớn đến chất lượng dạy và

dạy học Ngữ văn, giáo viên đã có ý thức đưa ra những câu hỏi có tính sáng
tạo nhưng phần nhiều còn ngẫu hứng, tản mạn, thậm chí đưa ra những đề
tưởng là đề mở nhưng thực chất lại là đề đóng. Vì thế tính định hướng của
những đề này chưa cao và chưa đạt kết quả mong muốn. Đề mở là một trong
những công cụ hữu hiệu để đánh giá năng lực sáng tạo của người học. Tuy
nhiên trên thực tế giáo viên chưa có cách hiểu thống nhất về đề mở và chưa
có kĩ năng xây dựng đề mở khoa học, phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực
cho học sinh. Nghiên cứu để có những biện pháp thiết kế đề mở hợp lí, giúp
học sinh thích ứng được với các dạng đề mở khác nhau… là nhiệm vụ của
mỗi giáo viên.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Xây
dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm phát triển
năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, khi KTĐG được chú trọng hơn, được xem
là một mắt xích quan trọng, một khâu trọng yếu của quá trình đổi mới phương

9


pháp dạy học Ngữ văn; đã có một số công trình nghiên cứu về đề mở và nhằm
phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. Tiêu biểu là các công trình sau:
Trong “Hệ thống đề mở Ngữ văn lớp 10” [47], sau khi tiến hành khảo
sát các đề thi/ đề kiểm tra trong SGK Ngữ văn từ năm 2000 đến nay, các tác
giả đã đi đến nhận định: “Điều đổi mới đáng ghi nhận nhất là việc tăng cường
ra các đề theo dạng mở đã kích thích được nhiều sự suy nghĩ độc lập, độc đáo
và sáng tạo của học sinh” [47, tr.5]. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã
trình bày một số vấn đề liên quan đến ưu điểm và hạn chế của đề mở: “Cái
hay của dạng đề mở là phân hóa được học sinh rất rõ, người viết bài khó mà
chép được văn mẫu, phải tự mình suy nghĩ và viết ta những ý nghĩ của chính

Bên cạnh đó còn có những cuốn sách, bài báo, cuốn tạp chí ít nhiều đề
cập đến đề mở, câu hỏi mở như “Câu hỏi trong giảng văn” (Trương Dĩnh),
tập “Đề mở, đáp án mở” của Tạp chí Văn học tuổi trẻ và cuốn “Hệ thống đề
mở Ngữ văn” (Đỗ Ngọc Thống chủ biên). Ngoài ra còn một số luận văn làm
riêng về việc xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học Văn như “Xây dựng hệ
thống câu hỏi mở trong dạy học ngữ văn trung học phổ thông” (Luận văn
Thạc sĩ của Trịnh Thị Ngọc Thúy); “Xây dựng hệ thống đề mở nhằm phát
triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên văn cấp trung học phổ thông”
(Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Duyên). Trong hai luận văn này, các
tác giả đã đưa ra được đề xuất quy trình xây dựng đề mở và hệ thống câu hỏi
mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn cho học sinh cấp THPT nói chung. Luận
văn của tác giả Nguyễn Thị Minh Duyên khác Trịnh Thị Ngọc Thúy ở việc
đầo sâu vào mục đích phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh nhưng lại chỉ
với đối tượng là học sinh chuyên văn. Ngoài ra, còn một số những luận văn
khác như “Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận xã hội theo
hướng phát triển năng lực cho cho học sinh lớp 12 THPT” (Luận văn Thạc sĩ
của Hoàng Thị Lý); “Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học nghị luận văn
học nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho cho học sinh lớp 10 THPT” (Luận
văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương). Ở luận văn của Hoàng Thị Lý, cô đã
xây dựng bộ đề mở cụ thể trong dạy học văn nghị luận xã hội lớp 12 nhằm

11


phát triển năng lực cho học sinh. Còn ở Nguyễn Thị Phương là hệ thống đề
mở trong dạy văn nghị luận văn học lớp 10.
Tóm lại, từ việc khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
“Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm phát
triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT”, có thể thấy: Đã có nhiều
nghiên cứu về đề mở, song chủ yếu mới dừng lại ở việc nêu nhận định về ưu

xây dựng hệ thống đề mở gắn liền với hoạt động dạy học, cụ thể hơn là dạy
học văn nghị luận văn học và KTĐG nhằm đánh giá được mức độ phát triển
năng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT.
Để dễ dàng thực hiện việc nghiên cứu và kiểm chứng về hiệu quả của
đề mở trong việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11; chúng tôi
lựa chọn phạm vi nghiên cứu thực tiễn là hoạt động dạy học của giáo viên và
học sinh lớp 11A12 trường THPT Kim Liên, Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Để thấy rõ ưu thế của đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm
phát triển năng lực sáng tạo cho đối tượng học sinh lớp 11; chúng tôi tiến
hành tập hợp tư liệu liên quan đến đề mở, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo
cho học sinh trong môn Ngữ văn. Trên cơ sở tổng hợp những tài liệu đã có,
chúng tôi nêu quan điểm về nguyên tắc biên soạn đề mở và đề xuất biện pháp
thiết kế đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT.
5.2. Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng bảng hỏi in sẵn các câu hỏi liên quan đến đặc điểm
tâm lý, trí tuệ, năng lực học tập, khả năng xử lý đề thi… của học sinh lớp 11
và thực hiện việc trưng cầu ý kiến của các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng

13


dạy môn Ngữ văn ở một số trường THPT Chuyên. Đồng thời tổ chức trưng
cầu ý kiến của giáo viên, học sinh lớp 11 về đề mở và việc áp dụng đề mở
trong dạy học Ngữ văn 11.
Để xử lý dữ liệu: Chúng tôi dùng phương pháp thống kê – phân loại, so
sánh – đối chiếu, tổng hợp…

dẫn nhất định, tùy theo từng trường hợp học sinh được tự lựa chọn vấn đề,
cách triển khai hoặc nguồn tư liệu để thực hiện đề bài một cách hiệu quả nhất
theo quan điểm của mình.
Dưới đây là ví dụ về đề mở trong tương quan so sánh với đề truyền
thống:
Đề SGK: “Em hãy tả lại cảnh bình minh trên biển”. (Đây không phải
đề mở). Với đề này, nếu có học sinh, hay học sinh miền núi chưa bao giờ thật
sự thấy biển thì làm sao em tả được. Giáo viên có thể thay bằng để mở sau:
“Tả lại một cảnh vật mà em yêu thích”, thì học sinh không những dễ làm mà
còn phân hóa được học sinh.
Một ví dụ khác:
Đề 1: Phân tích khổ 1, 2 của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi).
Đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi) là áng thiên cổ
hùng văn”. Anh chị có suy nghĩ gì về nhận định trên?
Trong hai đề bài trên, đề 1 là đề truyền thống, đề 2 là đề mở. Đề 1 có yêu cầu
cụ thể về thao tác lập luận (Phân tích), nội dung vấn đề (khổ 1,2) và phạm vi

15


tư liệu (tác phẩm Bình Ngô đại cáo). Để triển khai bài viết, học sinh nhất thiết
phải bám sát văn bản, sử dụng thao tác lập luận phân tích để làm rõ tư tưởng
nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và những tội ác tày trời của giặc ngoại xâm.
Trong khi đó, đề 2 lại cho phép học sinh thoải mái hơn trong việc sử dụng
thao tác lập luận cũng như xác định nội dung trọng tâm để triển khai bài viết.
Ngoài thao tác lập luận phân tích, các em có thể sử dụng kết hợp các thao tác
giải thích, chứng minh, so sánh đối chiếu, bình luận, bác bỏ để bài viết tự
nhiên và thuyết phục hơn. Về nội dung, các em có thể thoải mái sử dụng
những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng riêng để bày tỏ quan điểm của mình đồng
tình hay phản đối với ý kiến đề bài cho, miễn sao bài làm mang tính thuyết

17


Để nhận định về đề mở, một số những tác giả lớn đã có quan điểm
riêng, cụ thể: Trong cuốn “Hệ thống đề mở Ngữ văn 10”, tác giả Đỗ Ngọc
Thống và cộng sự đã từ phương diện hình thức để nêu quan niệm về đề mở
như sau: “Đề mở là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận
hoặc chỉ nêu đề tài để viết văn tự sự, miêu tả… không nêu mệnh lệnh gì về
thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải thích, hãy phân tích…
hoặc phương thức biểu đạt như: hãy kể, hãy phát biểu cảm nghĩ,…” [47, tr. 8].
Ngoài ra, tác giả Đinh Văn Thiện (2015) với những kiến thức và tìm hiểu của
bản thân, ông cũng đưa ra ý kiến của riêng mình: “Đề mở không còn bị đóng
khung một cách cứng nhắc vào một số câu, chữ, một số tác phẩm trong
chương trình quy định, cũng không bị gò bó vào một vài quan điểm, nhận
định có sẵn muôn thuở đối với những tác phẩm học trích ấy” [44].
Đọc những quan điểm trên, ta có thể thấy chúng đều có điểm tương đồng.
thống nhất ở chỗ đề cao tính không hạn định của đề mở . Các nhà nghiên cứu đã
nhìn nhận tính mở của đề mở ở nhiều phương diện khác nhau, tùy thuộc vào tính
chất và yêu cầu của KTĐG và của đối tượng làm bài. Cụ thể:
- Về nội dung: Đề mở là dạng đề mà nội dung có tính gợi mở cao,
không bị áp đặt vào một vấn đề bó buộc nào. Nội dung của đề mở có thể là
những vấn đề tương đối rộng, chứ không nhất thiết phải thuộc phần kiến thức
mà học sinh đã được học. Đề mở vì vậy cho phép đánh giá khả năng xâu
chuỗi, tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn, nhiều góc độ của học sinh; đồng
thời kích thích khả năng trình bày vấn đề theo ý hiểu và theo cá tính của
người học.
- Về hình thức trình bày và quan điểm đánh giá: Đề mở có thể được
diễn đạt một cách mới mẻ qua những giả định bất ngờ, những cách diễn đạt
lấp lửng, đa nghĩa, mang tính gợi mở cao… Qua đó, đề mở thường được dùng
với mục đích KTĐG khả năng ứng xử, khả năng phản biện, khả năng vận

đề mở cho phép học sinh tự do, linh hoạt hơn khi xử lý yêu cầu của đề bài. Nó
trở thành mảnh đất màu mỡ gieo trồng cho những tư tưởng, quan điểm mới;

19


những cách diễn đạt/ khả năng thể hiện cái mới; những cách ứng xử linh hoạt,
nhạy bén của người học trước một vấn đề hoặc một tình huống được đặt ra.
1.1.2. Phân loại
Có nhiều cách để phân loại đề mở. Tuy nhiên, trong đề tài này, căn cứ
về tính mở của đề trên các phương diện về nội dung, thao tác thực hiện, phạm
vi tư liệu như đã phân chia ở trên; có thể nhận diện đề mở trong môn Ngữ văn
ở một số dạng như sau:
1.1.2.1. Đề mở về nội dung
Các đề có tính mở về nội dung thường chỉ nêu chủ đề, yêu cầu học sinh
cụ thể hóa thành một bài viết. Vì không thể hiện yêu cầu có tính chất áp đặt về
nội dung cụ thể cần triển khai, nên đề mở ở dạng này cho phép học sinh tự do
phát triển ý của bài viết một cách linh hoạt bằng quan điểm cá nhân.
Hình thức của các đề mở về phương diện nội dung khá phong phú.
Dưới đây là một số cách hỏi thường gặp:
- Đề ra dưới dạng một mệnh lệnh yêu cầu triển khai chủ đề sẵn có:
Ví dụ: + Viết một bài văn với chủ đề: “Tôi muốn nắm chặt tay bạn”.
+ Lấy đôi vai làm chủ đề để viết một bài văn 800 chữ.
- Đề bài yêu cầu học sinh viết tiếp một mệnh đề còn bỏ trống:
Ví dụ: + Thất bại thực sự là…
+ Thành công với tôi là…
- Đề ra dưới hình thức một câu hỏi, yêu cầu học sinh viết một bài văn để trả
lời câu hỏi đó bằng suy nghĩ của bản thân:
Ví dụ: + Hạnh phúc không phải là đích đến, hạnh phúc là một quá trình?
+ Có phải con người trở nên phụ thuộc vào công nghệ?

ảnh kiệt sức…”.
Nguời lớn đã cấp tốc đưa Nguyên đến Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi
để cấp cứu, song em kiệt sức lịm dần, rơi vào hôn mê sâu và không bao giờ
tỉnh lại nữa…”.
(Theo báo VNExpress, 13/09/2011)
Viết bài văn khoảng 800 trình bày suy nghĩ cuả em về hành động của Nguyên.

21


1.1.2.2. Đề mở về thao tác
Đề mở về thao tác là những đề bài không ấn định cụ thể về cách thức
thực hiện bài viết bằng những mệnh lệnh như: Hãy chứng minh, hãy giải
thích, hãy bình luận…
Ví dụ: - Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo, Nam Cao) trong suy nghĩ của tôi.
- Nạn xâm hại tình dục trong xã hội hiện nay.
Với những đề mở này, học sinh có thể tự do lựa chọn thao tác lập luận và các
phương thức biểu đạt phù hợp để làm bài. Các em cũng có thể sử dụng kết
hợp nhiều thao tác lập luận khác nhau để tăng tính thuyết phục cho bài viết.
1.1.2.3. Đề mở về phạm vi tư liệu
Đề mở về phạm vi tư liệu là những đề bài không khoanh vùng tư liệu
cụ thể mà học sinh cần sử dụng để thực hiện bài viết. Với đặc điểm này, các
đề bài sẽ trao cho học sinh cơ hội được tự huy động, lựa chọn những tri thức
từ nhiều nguồn khác nhau để triển khai bài viết.
Ví dụ: Số phận của người nông dân trong một tác phẩm văn học mà anh chị
yêu thích.
Với đề bài trên, học sinh có thể lựa chọn một tác phẩm văn học bất kì viết về
người nông dân (trong hoặc ngoài chương trình, thuộc bộ phận văn học dân
gian hoặc văn học viết, tác phẩm văn học Việt Nam hoặc tác phẩm văn học
nước ngoài…) để làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài.

trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong
sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết
phục…” [26, tr.168].
Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Một số vấn đề văn nghị
luận ở cấp hai định nghĩa: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo
luận với người khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về văn
hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học nghệ thuật.” [16, tr.4].
Đoàn Thị Kim Nhung và Phạm Thị Nga viết cuốn Rèn kĩ năng làm văn
nghị luận 7, 8, 9 quan niệm: “Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết/

23


người nói đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua
cách thức bàn luận mà làm cho người đọc/ người nghe hiểu, tin và tán đồng
những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất (đối
với vấn đề đó).” [26, tr.7].
Trong cuốn Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nguyễn Quốc Siêu
phát biểu: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí
lẽ. Nó là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy, logic
như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí
lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với
khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ
trương, ý kiến, quan điểm của tác giả.” [34, tr.7].
Tóm lại, qua những quan điểm về văn nghị luận trên, ta có thể hiểu:
Văn nghị luận là loại văn mà trong đó người viết đứng trên một lập trường
quan điểm nào đó và dựa vào sự hiểu biết nhất định của mình về xã hội , văn
học, dùng lí lẽ và dẫn chứng để trình bày, lập luận, phân tích, giảng giải, phê
phán, bác bỏ nhằm giải quyết một vấn đề nào đó. Xuyên suốt chương trình
Ngữ văn chuẩn quốc gia ở nước ta, có thể dễ dàng thấy văn nghị luận được

huyện khi chiều xuống, phố huyện lúc đêm về và phố huyện lúc tàu đến và tàu
đi trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
+ Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong
truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
+ Cảm nhận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương.
- Dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: là một hình thức của
bài nghị luận văn học mà nội dung là bình luận, phân tích một ý kiến bàn về
văn học như những giá trị nội dung, những đặc sắc nghệ thuật, những quy
luật, khám phá, chiêm nghiệm về đời sống toát lên từ tác phẩm, những nhận
xét về các nhân vật… Ví dụ:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status