Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN
Kể từ khi siêu âm được ứng dụng vào trong y học (năm 1950) đến nay, trải qua nhiều tiến
bộ về kỹ thuật trong chất lượng hình ảnh, siêu âm đã trở thành công cụ chuẩn đoán hình ảnh
thông dụng và phổ biến trong các trung tâm y tế cũng như trong bệnh viện, khuyến cáo của tổ
chức Y Tế Thế Giới đối với sự phát triển các phương tiện ch
ẩn đoán hình ảnh ở các nước đang
phát triển vẫn là ưu tiên đối với phát triển kỹ thuật siêu âm bởi sự hiệu quả, tiết kiệm và vô hại
của nó. Phương pháp siêu âm chẩn đoán có những lợi thế nổi bật: khả năng ứng dụng rộng, thông
tin chẩn đoán cao, gọn nhẹ và đặc biệt không gây tác dụng phụ.
Trong vài thập niên tới tiềm năng này còn đẩy mạ
nh hơn nữa bởi hiệu quả của siêu âm
chẩn đoán trong y học rất lớn lao.
Với lợi thế được trang bị những kiến thức cơ bản về vật lý và y học trong 4 năm tại khoa
Khoa Học Ứng Dụng trường đại học Bách Khoa, đồng thời được tạo điều kiện tiếp xúc thiết bị,
được học hỏi kinh nghiệm từ những kỹ
sư của nhà sản xuất thiết bị hãng Siemens. Tác giả đã có
cơ hội tìm hiểu sâu về dạng chuẩn đoán hình ảnh phổ biến và hiện đại này.
Cho nên mục tiêu chính của luận văn là khảo sát nghiên cứu những cơ sở và nguyên lí
chung của thiết bị, tìm hiểu sơ đồ và những thành phần chính của thiết bị, tiến đến đánh giá các
yếu tố tác động đến chất l
ượng hình ảnh và phạm vi ứng dụng của thiết bị.
Với hướng tiếp cận đó, nội dung luân văn được chia thành 5 chương với nội dung như sau:
Chương 2 , 3 là nền tảng cơ sở của hệ thống siêu âm
Chương 4 trình bày về các thiết bị để ghi hình siêu âm: đầu dò, thiết bị xử lí…
Chương 5 khảo sát về thiết bị siêu âm của hãng Siemens và các ứng dụng trong chẩ
n đoán
hình ảnh cụ thể: tim mạch, sản phụ khoa, thận,….đặc biệt là ứng dụng của siêu âm doppler mô
trong khảo sát tim.
Hình 2.2.Igne Ender và Hert với thiết bị siêu âm của mình
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
3
Song song với phát kiến của Irge và Hezt, giáo sư Ian Donald cùng với các cộng sự của
ông ở bệnh viện Glasgow Royal Maternity Hospital ( GRMH ) tại GlasgowScotland đã lần đầu
tiên ứng dụng sóng siêu âm vào việc chẩn đoán các sản phụ khoa và chính thức khẳng định sự an
toàn của sóng siêu âm đối với thai nhi. Ngày 7/6/1958 công bố kết quả nghiên cứu “Ứng Dụng
Xung Siêu Âm Trong Khảo Sát Ổ Bụng” được coi là một trong những tài liệu quan trọng nhất
cho việc ứng dụng sóng siêu âm dùng trong chẩ
n đoán y tế
Hình 2.3.Giáo sư Ian Donald
Kế đó là các công trình công trình nghiên cứu và sản phẩm của giáo sư Kratochwil ( sinh
năm 1928-Nhật) bắt đầu với với A-Mode (1968), B-mode (1972) và 3D (1990)
5
Sóng ngang: là sóng mà phương dao động của các phần tử trong môi trường vuông góc
với tia sóng, sóng này chỉ xuất hiện trong môi trường có tính đàn hồi về hình dạng, chỉ có ở vật
rắn.
Sóng dọc: là sóng mà phương dao động của các phần tử môi trường trùng với tia sóng,
sóng này xuất hiện trong các môi trường chịu biến dạng về thể tích, do đó sóng này truyền được
trong các môi trường rắn, lỏng và khí.
Sóng siêu âm ứng dụng trong siêu âm chẩn đoán thuộc loạ
i sóng dọc.
2.3.Các đặc trưng chung của sóng âm [1]
Hình 2.6. Biểu diễn sóng âm theo thời gian
– Chu kỳ T (m/s): khoảng thời gian sóng siêu âm thực hiện một quá trình nén và dãn hay còn gọi
là một dao động.
– Tần số f (Hz): số chu kỳ thực hiện trong một giây. Mối liên hệ:
T = 1/f = v/λ
Sóng âm được chia thành 3 vùng tần số chính:
Sóng âm có tần số cực thấp gọi là vùng hạ âm (infrasound) có tần số f < 16 Hz. Ví dụ:
sóng địa chấn
Sóng âm có tần số nghe được (audible sound) có: f =16-20kHz
Sóng siêu âm (ultrasound) có f > 20kHz. Ví dụ: sóng âm phát ra từ con dơi.
Chu kỳ
Nén
: suất đàn hồi (suất Yang) hay độ cứng của môi trường
ρ
: khối lượng riêng hay mật độ của môi trường (kg/m
3
)
ρ
càng lớn thì mật độ các phần tử trong môi trường càng nhiều, khả năng lan truyền dao
động càng nhanh nên vận tốc càng lớn, tuy trong công thức thì
ρ
tỉ lệ nghịch với v nhưng dù
ρ
có tăng thì tỉ lệ B/
ρ
lại tăng nhiều hơn (trong thực nghiệm) nên vận tốc vẫn tăng theo
ρ
.
Thực nghiệm vận tốc lớn nhất trong chất rắn rồi đến chất lỏng cuối cùng là chất khí.
Bảng 2.1.Bảng mật độ và vận tốc truyền sóng âm trong các môi trường trong cơ thể
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
7
Để đặc trưng cho độ lớn của áp lực âm học mà các phần tử trong môi trường nhận được
khi chịu tác động của nguồn phát sóng âm, người ta sử dụng hai đại lượng công suất P và cường
độ I
Công suất P (W hoặc mW): mức năng lượng truyền từ đầu dò vào môi trường. Thông
thường năng lượng phát ra từ đầu dò trong siêu âm chẩn đoán từ 1 – 10 mW
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
8
số thường dùng là 700 – 900 kHz tùy theo thế hệ máy. Công suất đầu dò 1- 4 W/cm
2
(gấp cỡ
1000 lần so với siêu âm chẩn đoán).
2.4.Cơ Sở Vật Lý Và Kỹ Thuật Của Phương Pháp Tạo Hình Bằng Siêu Âm[1]
Cơ sở chính của nó là sự phản hồi của siêu âm từ các tổ chức trong cơ thể, sự phản hồi
này phụ thuộc vào:
−
Tốc độ truyền của sóng âm trong môi trường
−
Trở kháng âm của môi trường
−
Sự hấp thụ của tổ chức.
−
Thông số (f,
λ
) của sóng âm và cấu trúc hình học của tổ chức.
2.4.1. Tốc độ truyền của sóng âm:
Rất phụ thuộc vào môi trường truyền. Từ bảng 1.1 ta thấy vận tốc truyền của sóng âm
trong những môi trường khác nhau là rất khác nhau. Tốc độ trung bình của sóng âm trong các tổ
chức mô mềm v
≈
1540 m/s. Biết được vận tốc truyền, khi đo thời gian đi và về của sóng siêu âm
ta có thể xác định rõ bề mặt phản xạ
2.4.2. Trở kháng âm của môi trường và các định luật truyền âm:
Trở kháng âm z (rayls): chính là độ dội lại của sóng âm trong môi trường: z = v*
ρ
Máu 1,65. 10
6
Thận 1,63. 10
6
Cơ 1,71. 10
6
Xương 7,8. 10
6
Âm được truyền theo những tia gọi là tia âm. Thực nghiệm chứng tỏ tia âm cũng bị phản
xạ, khúc xạ, tán xạ và hấp thụ như tia sáng.
Phản xạ và khúc xạ: khi gặp mặt phân cách đủ lớn (>>
λ
) giữa hai môi trường có trở kháng âm
khác nhau, tia âm sẽ tuân theo định luật phản xạ và khúc xạ. Một phần năng lượng của sóng
âm sẽ phản xạ ngược trở lại và phần còn lại sẽ truyền tiếp vào môi trường thứ hai.
Độ lớn của năng lượng phản xạ phụ thuộc vào sự khác biệt của trở kháng âm
Δ
z giữa hai
môi trường. Hệ số phản xạ K được tính theo công thức:
K = P
r
/P
i
= [(Z
2
t
: góc khúc xạ
P
r
: Biên độ áp lực của sóng phản hồi
P
i
: Biên độ áp lực của sóng tới
Z
2
, Z
1
: trở kháng âm của hai môi trường
Có hai trường hợp sẽ xảy ra:
−
Th1: tia tới vuông góc với mặt phân cách:
θ
i
=
θ
r
=0.Lúc này sóng truyền qua cùng hướng với
sóng tới. Khi đó hệ số phản xạ
K = [(Z
2
- Z
1
)/( Z
2
+ Z
10
Trở kháng khác nhau ít Trở kháng khác nhau nhiều
Sin
θ
t
= (v
2
/v
1
) . sin
θ
i
(Do theo định luật khúc xạ: n
1
sin
θ
i
= n
2
sin
θ
t
=> c/v
1
sin
θ
i
= c/v
θ
i
khi góc tới
θ
i
đạt 90
0
thì góc khúc xạ
θ
t
đã vượt ngưỡng 90
0
khi
đó không còn hiện tượng khúc xạ nữa mà sẽ xảy ra hiện tượng phản xạ toàn phần, góc tới giới
hạn tại giá trị góc khúc xạ đạt 90
0
khi đó sin
θ
igh
= v
2
/v
1
(do sin
θ
t
=1). Khi
θ
i
2
- Z
1
giữa hai môi trường .
Δ
Z càng lớn thì năng lượng phản xạ càng lớn và chỉ một phần rất nhỏ năng lượng sóng
siêu âm đi được xuống môi trường bên dưới mặt phân cách. Nếu
Δ
Z vừa đủ để nhận biết mặt
phân cách phần lớn năng lượng sóng âm sẽ truyền được xuống dưới mặt phân cách và tiếp tục
cho thông tin về cấu trúc bên dưới mặt phân cách. Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
11
Hình 2.7. sự phản xạ phụ thuộc vào sự chênh lệch trở kháng giữa hai môi trường
Trong bảng trở kháng âm của các môi trường, ta thấy
Δ
Z giữa mô mềm và không khí hoặc mô
mềm và xương rất lớn, do đó trong ghi hình siêu âm nếu sóng siêu âm gặp những mặt phân cách
này thì hầu hết năng lượng sẽ bị phản xạ trở lại, sóng truyền tiếp sẽ rất nhỏ và ta sẽ không nhận
.f.x)
Trong đó: I
x
là cường độ tia siêu âm tại độ sâu x, I
0
là cường độ tại x = 0
μ
: hệ số suy giảm âm của môi trường; f: tần số của sóng âm; x: độ sâu đạt tới
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
12
Từ công tính sự suy giảm ta thấy sự suy giảm phụ thuộc rất nhiều vào tần số, gần như tỉ
lệ thuận với tần số. Sự phụ thuộc này là một hạn chế của siêu âm chẩn đoán vì tần số càng cao
thì độ phân giải càng cao đồng thời độ suy giảm cũng cao do đó mà độ xuyên sâu càng kém.
Nguyên nhân gây ra sự suy giảm năng lượng của tia siêu âm là:
−
Sự phản xạ và tán xạ trên tổ chức
−
Sự hấp thu của môi trường do một phần năng lượng của tia siêu âm bị chuyển thành năng
lượng của các dao động nhiệt, nhưng đối với siêu âm chẩn đoán thì năng lượng này quá nhỏ
và không thể gây ra các biến đổi về nhiệt độ.
Mức độ suy giảm được tính theo công thức: D(dB hoặc dB/cm) = 10 log (I
x
/I
0
)
Ngoài ra đối với mô mềm có thể áp dụng công thức gần đúng: D(dB) = f (MHz) * z (cm) *
μ
) Vận tốc (m/s)
Khoảng cách
năng lượng bị
giảm nửa (cm),
tại 2 MHz
Độ suy giảm
(dB/cm) với tần
số 1 MHz,
Không khí 1,129 330 0,08 1,7
Nước 1000 1480 380 0,002
Máu 1058 1560 15 0,1
Nước tiểu 1020 1535 0,0025
Mỡ 924 1450 0,4
Cơ 1040
1568
1
÷
0,6
0,7
Gan 1061 1555 0,6
Thận 1041 1565 0,5
Não 1030 1520 0,5
Da 1100 1950 1,0
Xương
1700
÷
9970 1700
÷
3600 0,7
÷
Khoảng thời gian cho sóng đi và về xác định bởi công thứ
c: d = c* t/2
Trong đó: d là khoảng cách từ đầu dò đến mặt phản hồi;
c (hay v) : vận tốc sóng âm trong môi trường;
t/2: thời gian cho sóng âm đi từ đầu dò đến mặt phản hồi.
Đầu dò sẽ biến đổi sóng hồi âm thành tín hiệu điện thông qua hiệu ứng áp điện, tín hiệu
này mang thông tin về độ lớn biên độ, thời gian tiếp nhận, các thông tin này sau đó được xử lý và
thể hiện thành hình ảnh trên màn hình.
Các hình thức thể hi
ện:
A – mode (Amplitude mode): tín hiệu hồi âm được thể hiện bằng xung hình gai trên dao động
ký qua hệ thống trục tung và trục hoành, chiều cao xung thể hiện độ lớn của biên độ tín hiệu
hồi âm, vị trí xung thể hiện khoảng cách từ đầu dò đến mặt phản hồi, thường được dùng trong
đo đạc vì độ chính xác cao.
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
15
Hình 2.8. thể hiện tín hiệu kiểu A-mode
B – mode (Brightness mode): tín hiệu hồi âm được thực hiện bởi những chấm sáng, độ sáng
của các chấm thể hiện biên độ tín hiệu hồi âm, vị trí các chấm sáng xác định khoảng cách từ
đầu dò đến mặt phản hồi.
Hình 2.9. thể hiện tín hiệu kiểu B-mode
các đường tạo ảnh tương ứng với nhiều vị trí đặt đầu dò trên cơ thể theo nhiều hướng khác nhau
trong cùng một mặt phẳng, sẽ tạo thành hình ảnh siêu âm phản ánh các cấu trúc giải phẫu theo
thiết diện cắt ngang qua bởi mặt phẳng nói trên. Đây là hạn chế về mặt kỹ thuật, để có hình ảnh
cắt khoanh lớp cơ thể thì phải mất r
ất nhiều thời gian và hình ảnh nhận được cũng chỉ là hình ảnh
tĩnh. Tuy vậy nó cũng có ưu điểm là cho cái nhìn tổng thể về các cấu trúc và mối liên quan giữa
các cấu trúc chỉ trên một hình.
Vào những năm 60, để thực hiện sự tổng hợp nói trên, người ta phải dùng hệ thống cánh
quét cấu tạo bởi các trục và khớp nối để điều khiển đầu dò.
Các kiểu: A-mode, B-mode và M-mode
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
17
Hình 2.11. Siêu âm hình ảnh tĩnh dùng hệ thống cánh quét
Hình ảnh động (từ thập niên 70): nhờ kỹ thuật quét chùm tia siêu âm và khả năng xử lí
thông tin nhanh của máy điện toán đã ra đời thế hệ máy quét hình ảnh động (real time scanner) có
thể nhìn thấy sự chuyển động tức thời (đặc biệt là ứng dụng trong tim mạch), tốc độ tạo hình
(FR-Frame Rate) nhanh, tốc độ tạo hình thường dùng khoảng 25 hình/ giây. Có hai cách quét thường dùng:
có hình động gọi là siêu âm thời gian thực với trường nhìn mở rộng.( real time extended field of
view) gọi tắt là real time EFOV, bằng cách vừa di chuyển đầu dò theo một thiết diện cắt ngang cơ
thể vừa ghi nhận hình ảnh, hình ảnh được tổng hợp liên tục từ các góc quét riêng biệt ứng với các
vị trí của đầu dò, kết quả nhận được là một hình tổng quát v
ừa có tính động. Thực hiện nhờ sử
dụng thuật toán Fuzzy-logic với sự xử lí cực nhanh của máy điện toán và bộ xử lí truyền thông đa
phương tiện.
Những năm gần đây nhờ với sự ra đời của siêu âm 3 chiều (3D) khảo sát được độ sâu
của cấu trúc thăm khám hỗ trợ hiệu quả trong chuẩn đoán bệnh lý và siêu âm thời gian thực 4D
(3 chiều không gian và một chi
ều thời gian) cho thấy sự chuyển động thật của em bé trong bụng
thai phụ đã hoàn thiện tính năng chẩn đoán hình ảnh cho thiết bị siêu âm.
Bộ biến đổi
Tái tạo
Thu nhận
Trường tín hiệu
Vật phát
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
19
Nếu khoảng cách giữa đầu thu và đầu phát thay đổi trong khoảng thời gian thu sóng (thời gian
sóng truyền đến đầu thu) thì bước sóng
λ
sẽ dài ra hoặc ngắn lại, ngắn lại trong trường hợp đầu
thu và phát lại gần nhau và dài ra trong trường hợp ra xa nhau.
Hình 3.1. Hiệu ứng Doppler xảy ra giữa nguồn âm người thu nhận
Hiệu ứng Doppler đúng với tất cả các loại sóng và do đó đúng với cả sóng siêu âm.
Hiệu ứng Doppler sử dụng trong phương pháp siêu âm Doppler xảy ra khi sóng siêu âm
được phản hồi từ các vật thể chuyển động (tế bào hồng cầu, thành m
ạch, co cơ…), khi đó tần số
của sóng phản hồi sẽ khác với tần số sóng tới, và hiệu hai tần số gọi là độ lệch Doppler hay tần số
Doppler. Hình 3.2. Hiệu ứng Doppler ở thế hệ đầu ứng dụng trong siêu âm
Kỹ thuật Doppler được dùng để đo vận tốc dòng chảy, mà qua đó có thể đánh giá được
sự cung cấp máu cho các cơ quan cũng như hình thái củ
a mạch, qua đó cho phép chẩn đoán thông
qua đo đạc và đánh giá các thông số huyết động.
3.2.Công Thức Của Hiệu Ứng Doppler:
Đi ra xa:
f = f
o
.(c-v)/c
Đi lại gần:
f = f
o
: tần số của sóng phát;
f
rx
: tần số sóng phản hồi;
θ
: góc tạo giữa trục chùm tia siêu âm và dòng chảy.
Số 2 trong công thức được đưa vào do hiệu ứng Doppler xảy ra hai lần: lần một khi tế bào
máu nhận tín hiệu phát từ đầu dò, lần hai khi đầu dò nhận tín hiệu phản hồi từ tế bào máu.
Hình 3.3. Sự phản hồi 2 lần của dòng chảy khi phát xung từ đầu dò
Từ công thức trên ta rút ra nhận xét:
–
Tần số Doppler tỷ lệ thuận với vận tốc dòng chảy và tần số tới, đồng thời nó cũng phụ thuộc
vào góc
θ
, tần số Doppler lớn nhất khi trục chùm tia siêu âm có phương song song với phương
của dòng chảy (cos
θ
= 1), và không ghi nhận được tín hiệu Doppler khi trục chùm tia siêu âm
vuông góc với phương của dòng chảy (cos
θ
= 0).
Luận văn tốt nghiệp
Doppler liên tục – cW doppler: trên đầu dò dùng hai tinh thể làm hai nhiệm vụ khác nhau:
một làm nhiệm vụ phát sóng âm liên tục, một làm nhiệm vụ thu liên tục. Nhược điểm của kỹ
thuật này là không nhận biết được vị trí mặt phản hồi nhưng nó có ưu điểm là có thể đo được
những vận tốc lớn
Δ
f = 2 * f
tx
* v * cos
θ
/c
Doppler xung – pW doppler: đầu dò chỉ sử dụng một tinh thể vừa làm nhiệm vụ phát, vừa
làm nhiệm vụ thu. Sóng âm được phát đi theo từng chuỗi xung dọc theo hướng quét của đầu dò
nhưng chỉ những xung phản hồi tại vị trí lấy mẫu (cổng gate) là được ghi nhận và xử lí. Kích
thước và độ sâu vùng lấy mẫu có thể thay đổi được. Nhờ đó kỹ thuật pW doppler cho phép phân
biệt tín hiệu Doppler tại độ sâu khác nhau.
Ứng với mỗi vị trí lấy mẫu được chọn, khoảng thời gian cho xung đi và về xác định
khoảng thời gian ngắn nhất giữa hai chuỗi xung. Do vậy độ lặp lại các chuỗi xung phát PRF
(Pulse Repetition Frequency) không thể lựa chọn lớn hơn 1/T (PRF
≤
1/T).
Do khoảng giá trị của PRF cũng nằm trong khoảng tần số doppler
Δ
f, pW doppler có thể
nhận biết được vị trí của dòng chảy nhưng lại có một nhược điểm bị hạn chế trong việc đo các
dòng chảy có vận tốc cao do xuất hiện hiệu ứng aliasing.
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Nhung GVHD: TS. Huỳnh Quang Linh
24 Hình 3.4 Xử lý và thể hiện tín hiệu bằng âm thanh
3.4.2. Phổ tần số theo thời gian:
Tín hiệu Doppler trong thu nhận khá phức tạp do bởi sự hiện diện của 2 thành phần vận
tốc trong một dòng chảy:
–
Dòng chảy tầng (Laminar flow): vận tốc lớn nhất ở giữa lòng mạch và nhỏ ở vị trí sát thành
mạch, tạo nên mặt nghiêng parabol của dòng chảy.
–
Dòng chảy rối (Turbulent flow): độ không đồng nhất của vận tốc các điểm trong dòng chảy cao
hơn nhiều và diễn biến không ngừng theo thời gian.
riêng biệt có biên độ tương ứng và biểu diễn theo sự diễn biến của thời gian.
Quá trình này được gọi là phân tích phổ, được thực hiện nhờ thủ thuật toán học phân tích
dãy Fourier (Fast fourier Transfrom-FFT). Phổ tần số theo thời gian thu được gọi là phổ Doppler.
Phổ Doppler của dòng chảy với các giá trị tần số được biểu thị trên trụ
c tung, thời gian trên trục
hoành, độ lớn hay biên độ của mỗi thành phần vận tốc được biểu thị bằng độ sáng tối theo thang
xám của màn hình. Hình 3.6. Sự thể hiện phổ Doppler
Quá trình phân tích phổ FFT giống như sự phân tích của một hợp âm.
Nếu quá trình phân tích diễn ra liên tục thì phổ tần số sẽ được thể hiện theo thời gian
thực, trên phổ tần số có thể biểu th
ị cả phổ vận tốc theo tính toán của công thức Doppler.
Nói chung: với việc tín hiệu (tần số) Doppler được thể hiện thông qua phân bố phổ FFT,
trên đường phổ đó biên độ của tần số được
thể hiện bằng độ sáng tối của đường phổ (gọi là thông
qua Histogram). Như vậy phổ Doppler không chỉ cho ta biết có bao nhiêu giá trị tần số hiện diện
( tức là bao nhiêu giá trị vận tốc có trong dòng chảy khảo sát) mà còn cho biết bao nhiêu hạt vật
chất tạo nên tần số đó (mang hạt vật tốc đó) tại mỗi thời điểm.
3.4.3.Sự thể hiện theo từng loại vận tốc:
Từ phổ tần số hay phổ vận tốc tổng hợp từ toàn bộ tín hiệu nêu trên tại mỗi thời điểm
người ta có thể tách ra từng loại đường cong vận tốc riêng biệt và thể hiện trên màn hình. Thông
thường các loại đường cong sau đây được thể hiện:
–