THỰC HIỆN PHÁP LUẬT về PHÒNG, CHỐNG bạo lực GIA ĐÌNH đối với TRẺ EM từ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ yên - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ YÊN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ YÊN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN THANH HÀ

HÀ NỘI, năm 2020



Việt Nam hiện nay .......................................................................................... 33
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ
em tại tỉnh Phú Yên ......................................................................................... 39
2.4. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối
với trẻ em tại tỉnh Phú Yên ............................................................................. 49
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT, BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM TẠI TỈNH
PHÚ YÊN ....................................................................................................... 59


3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên ....................................................................... 59
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên ....................................................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Nghĩa đầy đủ

Từ viết tắt

1

BLGĐ


Ủy ban nhân dân

7

TBXH

Thương binh xã hội

8

UNICEF

Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

bảng

2.1

2.2

2.3


quốc gia và các tổ chức quốc tế, đặc biệt, tổ chức Liên hợp quốc đã thông qua
Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về quyền trẻ em; Công
ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ… đã thể
hiện sự quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế trong vấn đề bình đẳng giới
và phòng, chống bạo lực gia đình.
Ở nước ta, thúc đẩy bình đẳng giới, tôn trọng và bảo đảm quyền con
người chống lại mọi hành vi bạo lực là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà
nước. Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia nhiều công ước liên quan đến
phòng, chống bạo lực như: phê chuẩn Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức
phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vào ngày 17/12/1982, phê chuẩn Công ước
quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990… Bên cạnh đó, vấn đề phòng, chống
bạo lực gia đình đối với trẻ em cũng được thể hiện trong các văn bản quy
1


phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, theo đó đều coi bạo lực gia đình là
hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng, sức
khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, cụ thể như: Luật Hôn nhân và gia
đình; Luật Trẻ em; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới; đặc
biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua
ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008. Những văn bản
pháp luật nêu trên và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quan
trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
và xử lý các hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật phòng,
chống bạo lực gia đình đối với trẻ em cũng còn nhiều hạn chế: bất bình đẳng
giới vẫn tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; định kiến giới
và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề trong đời sống xã hội; bạo
lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức tinh vi gây ảnh
hưởng tới gia đình - tế bào của xã hội… Thực trạng bạo lực gia đình diễn ra
có nhiều nguyên nhân, và một trong số đó bắt nguồn từ việc thực thi pháp luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình nói chung và đối với trẻ em nói riêng không phải là
vấn đề mới mẻ, mà là hiện tượng xã hội có tính lịch sử và tương đối phổ biến
trên thế giới.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2014), Pháp luật về phòng, chống bạo
lực gia đình - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hoá, Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận
và lịch sử nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã
phân tích để làm rõ cơ sở lý luận pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở
tỉnh Thanh Hóa hiện nay - Những bất cập, tồn tại và nguyên nhân. Luận văn
nghiên cứu xác định đặc điểm về việc thực hiện pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình ở tỉnh Thanh Hóa; đánh giá hệ thống và cụ thể thực trạng
việc triển khai thự chiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở địa
3


phương Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
Tác giả Phạm Thị Diệu Thúy (2015), Pháp luật về phòng chống bạo
lực gia đình đối với trẻ em - thực tiễn tại tỉnh Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên
Huế, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Huế. Tác giả đã giải quyết
một số vấn đề lý luận chung về bạo lực gia đình và pháp luật về phòng chống
bạo lực gia đình. Nghiên cứu các quy định của pháp luật về phòng chống bạo
lực gia đình để chỉ ra những hạn chế trong quy định của pháp luật về vấn đề
này. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình
tại địa bàn tỉnh Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó rút ra những
nguyên nhân và hậu quả của vấn đề bạo lực gia đình đối với trẻ em. Trên cơ
sở chỉ ra những vướng mắc trong quy định của pháp luật, những bất cập trong
việc áp dụng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Bên cạnh đó là tác giả Huỳnh Thị Phúc (2018), Thực hiện pháp luật về

em; đánh giá thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên, thực
trạng thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em tỉnh
Phú Yên hiện nay và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm thực hiện có
hiệu quả pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật phòng,
chống bạo lực gia đình đối với trẻ em.
- Phân tích tình hình bạo lực gia đình và thực trạng pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình; thực tiễn thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực
gia đình đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên. Phân tích, đánh giá những kết quả đã
đạt được, những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện pháp luật phòng, chống
bạo lực gia đình đối với trẻ em tỉnh Phú Yên và làm rõ nguyên nhân của
những hạn chế đó.
5


- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp
luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng
thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em tại tỉnh Phú
Yên từ năm 2015 đến nay, trong đó tập trung nghiên cứu hoạt động phòng
ngừa xảy ra bạo lực gia đình đối với trẻ em.
Về không gian: Tỉnh Phú Yên
Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019

đình đối với trẻ em tại tỉnh Phú Yên;
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật,
bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
từ thực tiễn tỉnh Phú Yên.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
đối với trẻ em
1.1.1.1. Khái niệm bạo lực gia đình đối với trẻ em
* Trẻ em
Để tìm hiểu về pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
thì trước hết chúng ta cần hiểu như thế nào được gọi là trẻ em. Theo từ điển
Tiếng Việt thì trẻ em được hiểu là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và
tuổi dậy thì.
Trong hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em.
Tuy nhiên, có một số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi
nhưng ở văn bản này gọi là trẻ em, ở văn bản khác đã thành… người lớn, dẫn
đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được sử dụng tương đối thống
nhất và áp dụng độ tuổi của trẻ em là dưới mười tám tuổi. Bên cạnh đó,
nghiên cứu về trẻ em dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em trong một số văn bản
của quốc tế như: Công ước quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền
trẻ em (năm 1924), Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1989),

tuổi của trẻ em đến dưới mười tám tuổi. Đến thời điểm này, Cục Bảo vệ,
chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) vẫn đang tiếp tục
xin ý kiến các chuyên gia pháp luật, nhà nghiên cứu về tâm - sinh lý lứa tuổi
và đặc biệt là lấy ý kiến của trẻ em và người dân về việc nâng độ tuổi của trẻ
em lên dưới mười tám tuổi. Việc quy định nâng độ tuổi của trẻ em vừa phù

9


hợp với luật pháp quốc tế, vừa tránh được việc phải sử dụng nhiều khái niệm
trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đồng thời việc quy định độ tuổi này
cũng đã phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn
hiện nay. Tạo cho trẻ em trở thành công dân trưởng thành, tham gia đầy đủ
hơn vào đời sống xã hội [17].
Từ những phân tích trên, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật
Trẻ em 2016 như sau: “Trẻ em là người dưới mười tám tuổi”. Khái niệm này
phần nào có thể bao hàm được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các
ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia, cũng phù hợp với tâm sinh lý
của người Việt Nam hiện nay vì người dưới mười tám tuổi chưa phát triển
đầy đủ về sức khoẻ và nhận thức, chưa đủ các điều kiện cần thiết để trở thành
người thành niên nên đòi hỏi cần có sự quan tâm đặc biệt, cần có sự bảo vệ,
chăm sóc của gia đình và xã hội nhiều hơn để tạo đà cho các em phát triển
đầy đủ, trở thành người có ích cho xã hội, tránh rơi vào các tệ nạn hoặc vi
phạm pháp luật; tạo ra sự thống nhất quản lý xã hội bằng pháp luật đối với
mọi người dân, không tạo ra “khoảng trống” trong việc bảo vệ, chăm sóc
quyền con người theo một chu kỳ vòng đời người. Việc quy định độ tuổi trẻ
em dưới mười tám tuổi là phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
* Bạo lực gia đình đối với trẻ em
Cách hiểu chung nhất về bạo lực gia đình, đó là những hành vi bạo lực
xảy ra trong phạm vi gia đình, là sự xâm phạm hay ngược đãi về mặt thể chất

hiện nay có không ít trẻ em phải sống trong sự sợ hãi, lo lắng ngay trong
chính gia đình của mình do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó bạo lực
gia đình và các em là nạn nhân trực tiếp của nó là nguyên nhân chính. Nhiều
gia đình có những biện pháp giáo dục thô bạo và những hành vi trừng phạt trẻ
diễn ra có thể để lại những hậu quả lâu dài theo suốt cuộc đời của trẻ nhỏ.Như
vậy, bạo lực gia đình đối với trẻ em là những hành vi bạo hành thể chất, tinh
thần do một thành viên lớn tuổi trong gia đình thực hiện mà nạn nhân là trẻ

11


em. Đối với trẻ em, có hai hình thức bạo lực chính đó là bạo hành về thể xác
và về tinh thần.
Thứ nhất, bạo lực thể xác: Bạo lực thể xác đối với trẻ em như: đánh
đập, gây tổn thương, bỏ đói, đầu độc, không chăm sóc về mặt y tế, không đảm
bảo an toàn sinh hoạt nhất là đối với trẻ em dưới ba tuổi. Bạo lực về mặt thân
thể cũng có nhiều mức độ khác nhau:
- Mức độ nhẹ: Ngắt hoặc véo làm cho đau, hậu quả để lại là những vết
bầm tím, vệt hằn trên da.
- Mức độ vừa: Giật mạnh, kéo, lắc hoặc rứt tóc. Cha mẹ dùng tay, chân
(đánh đấm) hay kết hợp sử dụng các dụng cụ nhỏ như roi, que, thước kẻ, cán
chổi... Hậu quả là làm giảm vận động, trẻ khó hoặc không viết, đi lại bình
thường trong một khoảng thời gian ngắn.
- Mức độ mạnh: cha mẹ sử dụng những dụng cụ to như thanh củi, thắt
lưng da, thanh sắt...và gây ra các hậu quả như làm gãy xương và hoặc thương
tích bên trong, làm tàn tật và hoặc biến dạng vĩnh viễn.
- Mức độ cao nhất và cũng để lại hậu quả lớn nhất đó là hành vi giết
người.
Thứ hai, bạo lực tinh thần: Bạo lực về tinh thần là hành vi bạo lực nguy
hiểm, nếu xảy ra sẽ để lại những hậu quả nghiệm trọng như trầm cảm, tự

bạo lực và trẻ em chịu tác động của hành vi bạo lực gia đình) và toàn xã hội
nhằm đấu tranh phòng ngừa các hành vi bạo hành đối với trẻ em trong gia
đình và có những biện pháp hữu hiệu chống lại những hành vi bạo lực này.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
Bạo lực gia đình mang lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã
hội, ảnh hưởng tới sự đóng góp của cá nhân tới sự phát triển chung của xã
hội. Những hành vi bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm
trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, tính mạng của công dân
mà đã được nhà nước quy định và bảo vệ, vì vậy Nhà nước phải xây dựng

13


những chế định cụ thể nhằm phòng ngừa những hành vi bạo lực gia đình và
có những biện pháp xử lý thích đáng đối với những người vi phạm, để kịp
thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới bạo lực gia đình, định
hướng hành vi cho công dân theo những chủ trương, đường lối và chính sách
pháp luật chung của Nhà nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống
văn bản khá đầy đủ làm cơ sở cho công tác xây dựng, phát triển gia đình thời
kỳ đổi mới, không có bạo lực, bao gồm Hiến phápvà các văn bản pháp luật
nhằm thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề này.
Từ đó có thể khái quát: Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với
trẻ em là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà
nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo
lực giữa các thành viên trong gia đình liên quan đến đối tượng là trẻ em,nhằm
bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của trẻ em, tạo điều kiện cần thiết để
trẻ em được sống trong một gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp
phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền
công dân theo những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước

giữa các cấp, các ngành trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách,
pháp luật và cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục,
gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Việc bảo vệ trẻ em phải tuân
thủ các quy định của pháp luật, quy trình, tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành.
Thứ hai, về phạm vi thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia
đình đối với trẻ em. Phạm vi thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia
đìnhđối với trẻ em là môi trườngvà những giới hạn không gian, địa lý để các
chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình đối với trẻ em. Bên cạnh đó, bạo lực gia đình là thuật ngữ chỉ vấn đề
bạo lực xảy ra trong gia đình, đối với những chủ thể là các thành viên trong

15


gia đình do đó, bạo lực gia đình đối với trẻ em: phạm vi thực hiện xoay quanh
các vấn đề bạo lực gia đình liên quan trực tiếp đến chủ thể là trẻ em.
Thứ ba, về nội dung thực hiện: Thực hiện pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình đối với trẻ em có nội hàm phong phú và được thể hiện qua hệ
thống các chính sách, đề án, chiến lược của Nhà nước, các cơ quan có thẩm
quyền về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em. Do đó, trong tất cả
các nội dung cần triển khai thì một trong những nội dung không thể thiếu
trong thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là triển khai thực
hiện các biện pháp thúc đẩy phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em;
tăng cường phổ biến, tuyên truyền về chính sách pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình đối với trẻ em, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức
phòng, chống bạo lực gia đình cho đội ngũ cán bộ - những người có liên quan
đến việc thực thi chính sách đến phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với
trẻ em

gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình; thực
hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của
luật này.
Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi bạo lực gia
đình: con mắng cha, vợ chì chiết chồng, mẹ chồng ruồng rẫy con dâu, anh em
tranh chấp tài sản dẫn đến đánh nhau....; đồng thời chính họ cũng dễ dàng trở
thành nạnnhân của bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, trên thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác
trong gia đình đã tiếp tay cho hành vi bạo lực như: mẹ xúi con trai “giáo dục”
vợ bằng nắm đấm; ông bà yêu cầu phải nghiêm khắc dạy dỗ cháu... Những
hành động này phần nhiều không xuất phát từ ý xấu mà chỉ do quan niệm khác
nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn đến người thực hiện hành vi
bạo lực. Chính vậy pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình
17


phải có trách nhiệm và sự chủ động nhất định trong phòng, chống bạo lực
giađình: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẩn giữa các thành viên, ngăn chặn
người có hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân... Đây là những việc họ hoàn toàn
có khả năng thực hiện, còn việc có thực hiện hay không, thực hiện như thế nào
thì lại phụ thuộc vào mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh. Pháp luật không
quy định đây là nghĩa vụ mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên.
Tuy nhiên, trong triển khai thực hiện nếu có những hành vi bị cấm trong phòng,
chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy
định của pháp luật hiện hành.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách
nhiệm của các cá nhân tại Điều 31, cụ thể: thực hiện quy định của pháp luật
về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới,
phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; kịp thời ngăn chặn
hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status