1
Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Môn: Tài chính doanh nghiệp
Chủ đề:
Chính sách cổ tức và bất cân xứng thông tin
Bằng chứng từ lợi nhuận giao dịch nội bộ
GVHD: Trần Thị Hải Lý
Nhóm thực hiện_ nhóm 5:
1. Đặng Lưu Bích Phương STT: 31
2. Nguyễn Thị Bích Phượng STT: 32
3. Phạm Thái Diệu Trang STT: 43
Lớp TC2-K34
TỔNG QUAN
Sự tồn tại và tác động của thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính là đối
tượng của nghiên cứu mở rộng trong các tài liệu tài chính. Hai trong số các phát biểu chính
trong bài nghiên cứu này là (1) trong nội bộ doanh nghiệp có tận dụng lợi thế của thông tin
bất cân xứng trong giao dịch và (2) chính sách cổ tức có liên quan đến thông tin bất cân
xứng. Tóm lại, các phát biểu này ngụ ý rằng chính sách cổ tức của công ty và lợi ích thương
mại thực hiện bởi nội bộ công ty có thể liên quan bởi vì cả hai đều liên quan đến mức độ bất
cân xứng thông tin giữa người trong nội bộ công ty và nhà đầu tư bên ngoài. Mục đích của
bài nghiên cứu này là để kiểm tra xem liệu có tồn tại một mối quan hệ như thế và qua đó cung
cấp bằng chứng trực tiếp cho câu hỏi: Liệu chi trả cổ tức có phải là một yếu tố quyết định
của tính bất cân xứng thông tin và lợi ích nội bộ qua các công ty?
Bằng cách dùng các mẫu nghiên cứu là kết quả của các giao dịch nội bộ trong các
công ty, chúng ta khẳng định rằng chính sách cổ tức và bất cân xứng có mối liên hệ mang tính
quyết định nhau.
Thứ nhất, công ty chi trả cổ tức càng cao thì bất cân xứng càng thấp.
Thứ hai, việc có hay không chi trả cổ tức của một công ty không ảnh hưởng bởi bất
cân xứng thông tin.
Thứ ba, một sự thay đổi trong chính sách cổ tức sẽ ảnh hưởng đến bất cân xứng thông
Mục tiêu 4: Kiểm tra câu hỏi: Có phải những thay đổi về mức cổ tức có liên quan
đến lợi ích nội bộ?
Nếu tín hiệu thông tin về triển vọng tương lai của một công ty là động lực quan trọng
đằng sau chính sách cổ tức, thì lợi ích nội bộ có lẽ thấp hơn sau khi thay đổi chính sách cổ
tức. Thay đổi truyền đạt thông tin cho các thị trường, làm giảm tính bất cân xứng thông tin và
làm giảm cơ hội cho người trong nội bộ đạt được từ lợi thế thông tin. Tìm kiếm một mối
quan hệ nhưn thế giữa các thay đổi cổ tức và lợi nhuận nội bộ sẽ hỗ trợ cho "lý thuyết tín hiệu
thông tin". Chúng tôi không tìm thấy bằng chứng rằng lợi ích giao dịch nội bộ sau khi thay
đổi cổ tức thường thấp hơn trước.
II. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các mô hình trong phương pháp hồi qui như: hàm hồi qui đồng liên kết, hàm
kiểm định chéo,…
III. Các lý thuyết về vai trò của chính sách cổ tức đối với thị trường tài chính và cơ sở
mẫu dữ liệu:
1. Các lý thuyết về vai trò của chính sách cổ tức:
Câu hỏi đặt ra là 2 phát biểu mà chúng ta đã đề cập như trên phát sinh trên cơ sở nào?
Phát biểu (1) phát sinh từ quan niệm được chấp nhận rộng rãi rằng trong nội bộ
doanh nghiệp, việc sở hữu và giao dịch thường dựa trên thông tin về giá trị của cổ phiếu công
ty mà các nhà đầu tư bên ngoài không có. Những thông tin bất cân xứng này cung cấp cho
những người trong nội bộ cty tận dụng lợi thế của việc định giá không đúng cổ phiếu của
công ty mình. Jaffe (1974), Finnerty (1976), Seyhun (1986), Jeng, Metrick, và Zeckhauser
4
(1999), và Lakonishok và Lee (2001) đã cung cấp nhiều bằng chứng rằng người trong nội bộ
công ty kiếm được lợi nhuận bất thường đáng kể từ các giao dịch cổ phiếu công ty mình, mặc
dù ước lượng độ lớn của những lợi nhuận này rất khác nhau. Cần lưu ý rằng giao dịch này
nằm trong ranh giới quy phạm pháp luật do Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) thiết
lập và do đó không phải là giao dịch nội gián bất hợp pháp.
Phát biểu (2) lại phù hợp với ba lý thuyết khác nhau về vai trò của chính sách cổ tức
tại các thị trường tài chính.
Lý thuyết đầu tiên là "lý thuyết dòng tiền tự do" của cổ tức. Lý thuyết này tập trung
hiệu. Tức là, nếu các nhà quản lý của một công ty biết nhiều hơn về triển vọng tương lai của
công ty so với các nhà đầu tư bên ngoài, sau đó là sự thay đổi trong cổ tức hoặc thực tế là cổ
tức không thay đổi, có thể báo hiệu một số thông tin cho các nhà đầu tư bên ngoài. Cổ tức
tăng cho phép các công ty có triển vọng về những tin tức tốt đến các nhà đầu tư bên ngoài
một cách đáng tin cậy. Cổ tức giảm, kết quả của việc hoạt động kém, buộc các công ty báo
hiệu tin xấu. Và không có thay đổi trong cổ tức báo hiệu triển vọng của công ty không thay
đổi. Như vậy, tín hiệu thông tin cổ tức và thay đổi trong chính sách cổ tức đặc biệt quan trọng
trong việc giảm tính bất cân xứng thông tin.
2. Cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu:
Thứ nhất, nguồn dữ liệu giao dịch nội bộ là hệ thống báo cáo quyền sở hữu, hồ sơ của
Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) thu được từ Cục Lưu trữ và quản lí hồ sơ Quốc
gia . Bộ dữ liệu được sử dụng tổng hợp tất cả các giao dịch nội bộ của tất cả các công ty tiến
hành công khai đã báo cáo với SEC từ tháng Giêng 1982 đến tháng 12 năm 1995. Dữ liệu bao
gồm ngày của mỗi giao dịch, việc phân loại của nội bộ, loại giao dịch, và số lượng cổ phiếu
giao dịch. Dựa trên những thông tin được đưa ra trong các tập dữ liệu, chúng ta có phân loại
trong nội bộ như sau: nhân viên (O), nhân viên và chủ sở hữu hưởng lợi (OB), nhân viên và
giám đốc (OD), nhân viên và thủ quỹ (OT), chủ tịch (P), Chủ tịch Hội đồng quản trị (CB),
giám đốc điều hành (CEO), giám đốc tài chính (CFO), giám đốc (D), giám đốc và chủ sở hữu
hưởng lợi (DO), và nhân viên, giám đốc và chủ sở hữu hưởng lợi (H). Các chức danh và mã
số (trong ngoặc đơn) được cung cấp bởi SEC. Có thể thấy rắng lợi ích giao dịch tồn tại chủ
yếu ở các cấp quản lý.
6
Thứ hai, có ba nguồn dữ liệu khác cho nghiên cứu. Đầu tiên là băng điện tín hàng
ngày của Trung tâm nghiên cứu Giá chứng khoán (CRSP), cho biết lợi nhuận chứng khoán,
ngày công bố cổ tức hàng quý, và những thay đổi cổ tức hàng quý. Thứ hai là Compustat, cho
biết việc chi trả cổ tức hàng năm và dữ liệu đặc trưng của công ty cho hàm số tiêu dùng chéo
của công ty từ nguồn này. Thứ ba là dữ liệu trong Tháng tám năm 1990 đến năm 1995 từ
Compact Disclosure, cho biết quyền sở hữu tổ chức ở cấp công ty.
Bảng I cho thấy thống kê mẫu của giao dịch nội bộ. Mục A sẽ trình bày số lượng
các giao dịch nội bộ. Bảng B trình bày số lượng doanh nghiệp. Chúng ta xếp hạng các công ty
Bảng II thể hiện lợi ích và tổn thất nội bộ của các công ty chi trả cổ tức cao so với
các công ty chi trả cổ tức thấp. Nó cho thấy lợi nhuận nội bộ bình quân mà thị trường đã
điều chỉnh (lợi nhuận chứng khoán thuần trừ đi giá trị dựa trên chỉ số NYSE CRSP /
AMEX / NASDAQ và lượng hòa vốn) ngay sau ngày diễn ra giao dịch nội bộ. Phạm vi
chúng ta kiểm tra là 21 ngày giao dịch, tương ứng khoảng gần một tháng. Trong suốt thời kỳ
mẫu, SEC yêu cầu người trong nội bộ báo cáo hoạt động kinh doanh trong vòng 10 ngày tiếp
theo cho đến ngày cuối cùng của tháng xảy ra giao dịch. Aboody và Lev (2000) tìm thấy
trung bình 26 ngày kể từ ngày giao dịch đến ngày SEC nhận được hồ sơ về giao dịch, tức là
chỉ dưới một tháng. Vì vậy, phạm vi 21 ngày giao dịch thể hiện xấp xỉ khoảng thời gian này.
Trong đó, mục A hiển thị các kết quả bằng cách sử dụng chỉ số giá trị . Mục B sử dụng chỉ số
cân bằng.
Các kết quả thu được như sau:
Thứ nhất, tỉ lệ lợi nhuận vượt mức khi mua trong nội bộ cao hơn khi bán. Cổ phiếu có
xu hướng tăng so với chỉ số sau giao dịch mua trong nội bộ và giảm sau giao dịch bán.
Thứ hai, sự khác biệt trong lợi nhuận vượt mức giữa việc mua và bán trong nội bộ thì
nhỏ hơn đối với các công ty chi trả cổ tức cao . Đối với phạm vi 21 ngày giao dịch, lợi nhuận
vượt mức so với chỉ số theo giá trị (chỉ số cân bằng) giữa việc mua và bán trong nội bộ là
1,21% (1,53%) đối với công ty chi trả cổ tức cao và là 2,32% ( 3,00%) đối với công ty chi trả
cổ tức thấp. Kết quả ngụ ý rằng lợi thế của người trong nội bộ công ty chi trả cổ tức thấp
nhiều hơn công ty chi trả cao.
Tuy nhiên cũng có một cách khác để so sánh lợi thế của người trong nội bộ công ty chi
trả cổ tức thấp với công ty chi trả cổ tức cao là xem xét các lợi ích từ việc mua và bán trong
nội bộ một cách riêng biệt. Cụ thể như sau:
8
Bảng II cho thấy lợi ích khi mua đối với nội bộ công ty chi trả cổ tức cao thì ít hơn đối
với công ty chi trả cổ tức thấp. Đối với phạm vi 21 ngày giao dịch, lợi nhuận vượt mức trung
bình trên chỉ số giá trị ( chỉ số cân bằng) đối với nội bộ công ty chi trả cổ tức cao là 0,99%
(0,90%) thấp hơn nội bộ công ty chi trả cổ tức thấp. Sự khác biệt này có giá trị kiểm định t là
-10,36 (-9,39). Những kết quả này cho thấy rằng sau khi mua cổ phiếu, trong nội bộ công ty
chi trả cổ tức cao có lợi nhuận thấp hơn. Nói cách khác, những người trong nội bộ các công
nội bộ các công ty này là những người bán ròng cổ phần.
iv. LDS, gồm các công ty chi trả cổ tức thấp- nội bộ là những người bán ròng cổ phần.
Chúng ta tính toán lợi nhuận của các danh mục đầu tư trong mỗi tháng từ tháng 1-1982
đến tháng 12-1995 theo cách sau đây. Tất cả các giao dịch nội bộ diễn ra sau ngày 20 của
tháng trước và trước ngày 21 của tháng hiện tại được tính cho tháng hiện tại. Chúng ta tính số
lượng cổ phiếu giao dịch của mỗi công ty trong từng tháng để xác định xem nội bộ của các
công ty đó là mua ròng hay bán ròng trong tháng đó.
Như vậy, trong mỗi tháng chúng ta ấn định mỗi công ty có chứa các giao dịch nội bộ cho một
trong bốn danh mục đầu tư mô tả ở trên. Để tính lợi nhuận hàng tháng cho mỗi danh mục đầu
tư, chúng ta lấy từng giao dịch nội bộ ở tất cả các công ty được chỉ định và tính toán lợi
nhuận thuần trong thời gian 21 ngày sau giao dịch. Nếu có nhiều hơn một giao dịch trong một
ngày, chúng ta sẽ tính được số lượng thực các cổ phiếu trong một giao dịch thực. Chúng ta
lấy trung bình những lợi nhuận này thông qua các giao dịch ròng như là kết quả của lợi nhuận
trung bình 21 ngày giao dịch nội bộ kiếm được từ danh mục đầu tư của từng tháng. Vì vậy,
chúng ta tính toán được lợi nhuận của các danh mục đầu tư có tỉ trọng như nhau của tất cả các
giao dịch ròng cho tất cả các công ty có giao dịch nội bộ.
Để minh họa cho các thủ tục trên, ta xem xét danh mục đầu tư HDP cho tháng 1-1982.
Đối với mỗi công ty chi trả cổ tức cao, chúng ta tính được số cổ phiếu mua vào và bán ra trên
tất cả các giao dịch nội bộ trong tháng 1-1982. Mọi giao dịch diễn ra trong khoảng ngày 21
tháng 12 năm 1981 đến ngày 20 tháng 1 năm 1982 được tính cho tháng 1 năm 1982. Sau đó,
chúng ta tập hợp tất cả các công ty có số lượng cổ phiếu nội bộ mua vượt quá số lượng cổ
phiếu nội bộ bán vào danh mục đầu tư HDP cho tháng 1.
Ví dụ như ABC Co., chúng ta sẽ bao gồm tất cả lợi nhuận thuần của 21 ngày giao dịch
của nội bộ công ty. Giả sử Công ty ABC có hai thương vụ mua trong nội bộ thuần, một xảy
ra vào ngày 30 tháng 12 và một vào ngày 15 tháng 1. Công ty ABC sẽ có hai lợi nhuận bao
10
gồm cả lợi nhuận trung bình danh mục đầu tư HDP. Thứ nhất là lợi nhuận 21 ngày giao dịch
sau ngày 30 tháng 12. Thứ hai là lợi nhuận trong 21 ngày giao dịch sau ngày 15 tháng 1. Như
vậy, lợi nhuận danh mục đầu tư là lợi nhuận trung bình 21 ngày giao dịch đối với 1 danh mục
tích cực -danh mục mà có thể mua một cổ phần của Công ty ABC vào ngày 30 và giữ nó
=
α + βR
mt
+
γSMB
t
+ λHML
t
+ ε
t
Trong đó,
-R
HDPt
là lợi nhuận tháng t đối với danh mục đầu tư HDP;
-R
LDPt
là lợi nhuận tháng t đối với danh mục đầu tư LDP;
-R
HDSt
là lợi nhuận tháng t đối với danh mục đầu tư HDS;
-R
LDSt
là lợi nhuận tháng t đối với danh mục đầu tư LDS;
-α là một thuật ngữ chặn đo lường alpha, hoặc lợi nhuận bất thường,
-β là độ nhạy với yếu tố thị trường ;
-R
mt
là lợi nhuận vượt mức trên thị trường, mà trong trường hợp này là chỉ số giá trị
CRSP;
thấy rằng tỷ lệ các tháng mà lợi ích nội bộ của các công ty chi trả cổ tức cao ít hơn chi trả cổ
tức thấp là 64,3%. Một kiểm tra nhị thức rằng liệu tỉ lệ này có lớn hơn 50% là 3.7. Như vậy,
việc kiểm định này chỉ ra rằng trong nội bộ của công ty chi trả cổ tức cao có ít lợi thế thông
tin hơn so với các đối tác của họ trong các công ty chi trả cổ tức thấp
• Giao dịch bán nội bộ:
Những giao dịch bán trong nội bộ cũng bao hàm một kết luận tương tự. Lợi ích nội bộ
của công ty chi trả cổ tức cao trung bình là -0,14% / tháng so với -0,41% đối với công ty chi
trả cổ tức thấp. Tuy nhiên, sự khác biệt của 0,28% là không đáng kể. Kết quả này có thể do
thực tế là các giao dịch bán trong nội bộ thường được thúc đẩy bởi các lí do, chẳng hạn như
tính thanh khoản và tái cân bằng danh mục đầu tư, mà không liên quan đến thông tin. Điều
12
này làm cho việc bán trong nội bộ là một biện pháp đo lường bất cân xứng thông tin phức tạp
hơn so với giao dịch mua.
Ngoài ra, nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng các công ty với giao dịch bán trong nội
bộ có xu hướng lớn hơn mua trong nội bộ. Do thông tin bất đối xứng sẽ ít nghiêm trọng trong
các công ty lớn hơn, có thể là trường hợp có ít thông tin để phát hiện các giao dịch bán trong
nội bộ.
b. Fama-French Regressions:
Tuy nhiên, có được các dấu hiệu chính xác là rất quan trọng bởi vì nó chỉ ra rằng sự
khác biệt lợi nhuận giao dịch nội bộ do tỷ suất cổ tức chứ không phải do rủi ro. Nếu là như
vậy, chúng ta sẽ có được những dấu hiệu tương tự trên các hàm hồi quy bán cũng như trên
hàm hồi quy mua.
Mục B của Bảng III cho thấy các hồi quy Fama-French được mô tả bởi phương trình
(1). Chúng ta tìm các alpha cho cả các hồi quy mua và bán có dấu hiệu cho thấy là phù hợp
với giả thuyết, tuy nhiên, như trong mục A, chỉ có các kết quả của việc mua là quan trọng.
Alpha cho các hồi quy mua là -0,0141 với kiểm định t là -6,46. Điều này tương đương với
một lợi nhuận bất thường -1,41% / tháng. Kết quả là có ý nghĩa cả về mặt kinh tế và thống kê.
Mặc dù các hệ số chỉ ra rằng công ty chi trả cổ tức cao thì lớn hơn và có giá trị hơn các công
ty chi trả cổ tức thấp, bằng chứng cho thấy một khác biệt phủ định đáng kể trong lợi nhuận
bất thường giữa công ty chi trả cổ tức cao và thấp, ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố
được sử dụng để kiểm soát sự khác biệt về cơ hội phát triển trong
tương lai. Các công ty tăng trưởng cao hơn có thể không chi trả cổ tức hoặc chi trả cổ tức
thấp bởi vì họ muốn tài trợ cho các dự án từ nguồn nội bộ để tránh sự huy động không hiệu
quả từ thị trường vốn bên ngoài. Các công ty tăng trưởng cao hơn cũng chịu bất cân xứng
thông tin lớn hơn bởi vì khó khăn trong việc đánh giá các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Lợi thế thông tin mà người trong cuộc có được có thể nhiều hơn nhà đầu tư bên ngoài. Chúng
ta bao gồm tỷ lệ giữa giá trị sổ sách và thực tế của công ty từ năm tài chính trước đó để kiểm
soát những khác biệt trong những cơ hội phát triển tương lai của công ty.
Biến thứ ba ln (MV)
i
có liên quan đến quy mô của công ty. Các công ty chịu chi phí
cao hơn để thâm nhập vào các thị trường vốn khi phát hành cổ phiếu hoặc nợ (thường là các
công ty có quy mô nhỏ) thường sử dụng tài trợ nội bộ- tức chi trả cổ tức thấp. Các công ty
nhỏ cũng phải chịu bất cân xứng thông tin nhiều hơn vì ít khả năng phân tích và và nắm bắt
thông tin … Do đó, các công ty nhỏ thường kết hợp các đặc tính của thông tin bất đối xứng
cao hơn và lợi ích nội bộ với cổ tức thấp hơn. Điều này sẽ xảy ra ngay cả khi cổ tức không
phải là thể chế giám sát, dòng tiền tự do, hoặc cơ chế báo hiệu. Để kiểm soát khả năng này,
chúng ta bao gồm quy mô doanh nghiệp, được đo lường bằng giá trị thị trường của vốn chủ
sở hữu cuối năm tài chính năm trước đó.
14
Biến thứ tư EV
i
là sự ổn định thu nhập. Các công ty có thu nhập không ổn định có
khả năng ít chi trả cổ tức để tránh tài trợ tốn kém từ bên ngoài khi lợi nhuận âm. Biến động
của thu nhập cũng có thể làm cho dự đoán thu nhập trong tương lai khó khăn hơn, dẫn đến
bất cân xứng thông tin lớn hơn. Do đó, các công ty có biến động của thu nhập cao hơn
thường kết hợp lợi ích nội bộ cao hơn và cổ tức thấp hơn. Để kiểm soát khả năng này, chúng
ta bao gồm các phương sai của thu nhập hàng năm trên mỗi cổ phiếu trong năm năm trước
như một ước tính hồi quy.
Hai biến cuối cùng là DR
đai, và thiết bị) trên tổng tài sản. Các doanh nghiệp có tài sản vô hình càng nhiều thì bất cân
15
xứng thông tin càng cao. Vì vậy, IT
i
được sử dụng để nắm bắt trường hợp khi các công ty vốn
hóa các chi phí liên quan đến tài sản vô hình. Công ty có tỉ lệ tài sản hữu hình thấp có thể có
thu nhập dài hạn tạo ra tài sản chủ yếu là vô hình, chẳng hạn như con người, thương hiệu,
công nghệ, … Do đó, T
i
cũng có ý nghĩa là để nắm bắt tài sản vô hình cho đối với các công ty
có số lượng lớn tài sản vô hình không được vốn hóa.
Biến thứ tư EX
i
là tổng hợp của các khoản mục bất thường, các hoạt động bị gián đoạn,
và các khoản mục đặc biệt hàng trên tổng doanh số từ năm tài chính trước đó. Các hãng có
EX
i
lớn hơn có thể có ít thông tin kế toán hơn. Elliott và Hanna (1996) cho thấy thị trường sẽ
phản ứng ít hơn đến thông tin về thu nhập của các công ty có nhiều khoản mục đặc biệt hơn
so với các công ty không có các mục như vậy, và tài liệu của Myers và Skinner (2000) mà các
nhà quản lý tính toán thu nhập kết toán bằng cách sử dụng các khoản mục đặc biệt, ngụ ý
rằng các công ty có nhinhư vậy có thu nhập sổ sách kém chất lượng hơn. Vì vậy, EX
i
cao hơn
nên được kết hợp tốt hơn với thông tin bất cân xứng.
Biến thứ năm RV
i
là phương sai của lợi nhuận chứng khoán hàng ngày trong năm
dương lịch trước đó. Biến động cao hơn được kết hợp với bất đối xứng thông tin nhiều hơn.
Biến động cao hơn có thể chỉ ra sự không tương xứng trên thị trường so với giá "đúng" của
dy
DY
i
+ ε
ki
(2a)
R
ki
= α + λ
dy
DY
i
+ λ
bm
BM
i
+ λ
m
v
ln(MV)
i
+ λ
e
v
EV
i
+ λ
dr
DR
i
+ λ
sh
ln(SH )
i
+ λ
rd
RD
i
+ λ
it
IT
i
+ λ
t
T + λ
ex
EX
i
+ λ
r
v
RV
i
+ λ
ls
LS
i
+ λ
e
công ty không chi trả cổ tức. Ví dụ, vấn đề là mức cổ tức hay hành động chi trả cổ tức? Để
giải quyết câu hỏi này, trước hết chúng ta chỉ xét các công ty chi trả cổ tức và kiểm tra xem
liệu mức chia cổ tức vẫn còn là vấn đề không?.
Mục B1, B2, và B3 ( Bảng IV) trình bày các kết quả hồi quy chỉ đối với các công ty
chi trả cổ tức. Đối với giao dịch mua trong nội bộ trong B1, hệ số của tỷ suất cổ tức là
-0,1356 với kiểm định-t -2,60. Điều này cho thấy lợi ích nội bộ hàng tháng sau giao dịch
mua đối với các công ty chi trả cổ tức liên quan tiêu cực/nghịch biến với mức cổ tức. Khi
chúng ta thêm các thiết lập đầu tiên của biến kiểm soát, các hệ số về tỷ suất cổ tức trở thành
-0,1626 với kiểm định-t -2,96. Thêm các thiết lập thứ hai của các biến kiểm soát làm thay đổi
các hệ số về tỷ suất cổ tức đến -0,2072, điều này quan trọng với số liệu kiểm định t -2,83.
Như vậy, cổ tức là một yếu tố quyết định của bất cân xứng thông tin và lợi ích nội bộ sau
giao dịch mua đối với chỉ các công ty chi trả cổ tức. Nói cách khác, kết quả cho thấy rằng
mức cổ tức là vấn đề.
Đối với giao dịch bán trong nội bộ, các hệ số về tỷ suất cổ tức cho các hồi quy đơn
biến là 0,0797 với một kiểm định -t của 1,99. Khi chúng ta thêm các thiết lập đầu tiên của
biến kiểm soát, hệ số này trở thành 0,1287 với kiểm định-t là 2,99. Tuy nhiên, khi chúng ta
thêm thiết lập thứ hai của các kiểm soát, hệ số trở nên không đáng kể. Như vậy,có lẽ, trong
các công ty chi trả cổ tức, lợi thế thông tin từ giao dịch mua trong nội bộ liên quan đến việc
cổ phiếu có niêm yết tại sở giao dịch hay không chặt chẽ hơn là liên quan đến cổ tức, vì chỉ
có kiểm định t của E
i
là quan trọng. Điều này không cho một kết quả quan trọng về tỷ suất cổ
tức, và tất cả các biến khác, ngoại trừ chỉ số giao dịch, có thể do thực tế giao dịch bán là một
đại diện phức tạp của bất đối xứng thông tin.
Kết luận: Nhìn chung, các kết quả cho các công ty chi trả cổ tức cho thấy sự khác
biệt về lợi ích nội bộ liên quan đến việc mua và bán giữa công ty chi trả cổ tức cao và chi trả
cổ tức thấp không bị ảnh hưởng bởi các công ty không chi trả cổ tức và rằng đó là vấn đề ở
mức chi trả cổ tức. Các câu hỏi tiếp theo là liệu hành động chi trả cổ tức có là quan trọng đối
với lợi ích nội bộ và bất cân xứng thông tin. Phần sau đây tìm hiểu vấn đề này.
2. Hành động chi trả cổ tức:
= α + λ
dy
DI
i
+ λ
bm
BM
i
+ λ
m
v
ln(MV)
i
+ λ
e
v
EV
i
+ λ
dr
DR
i
+ λ
sh
ln(SH)
i
+ ε
ki
(3b)
RD
i
+ λ
it
IT
i
+ λ
t
T + λ
ex
EX
i
+ λ
r
v
RV
i
+ λ
ls
LS
i
+ λ
e
E
i
+ ε
ki
, (3c)
a. Kết quả:
quy trong các bảng IV và V cho thấy rằng các biến này xuất hiện không liên quan đến lợi ích
trong nội bộ. Như vậy, trong giai đoạn đầu tiên, chúng ta ước tính
DY
i
= α +
bm
BM
i
+
m
v
ln(MV)
i
+
ev
EV
i
+
dr
DR
i
+
sh
ln(SH )
i
+
rd
RD
i
= α + λ
dypred
DY
i
pred
+ λ
dy
DY
i
+ λ
m
v
ln(MV)
i
+ λ
dr
DR
i
+ λ
sh
ln(SH )
i
+ λ
rd
RD
i
+ λ
it
IT
hoặc biến đó với sai số. Biến nội sinh có thể có thể phát sinh như kết quả của sai số trong đo lường, hồi quy
tự động với các sai số tương quan tự động, biến bị loại, sai số lựa chon mẫu. nói chung, mối quan hệ nhân
quả giữa biến đọc lập và phụ thuộc dẫn đến sự hình thành biến nội sinh.
20