Nguyễn Thị Hải Yến - 1 - Lớp Đ5- QL5
MỞ ĐẨU
Lý do chọn đề tài:
Đói nghèo là một trong những vấn đề cần được quan tâm giải quyết
mang tính cấp thiết trên thế giới hiện nay. Một trong những chính hàng đầu
của liên hiệp quốc là phải cải thiện mức sống cho hơn một tỉ người nghèo trên
thế giới. Tại hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc năm 2000, đã có 189
quốc gia thành viên tham gia đã nhất trí thông qua Mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ MDG và các chiến lược nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo toàn
cầu.
Chưa bao giờ các nhà lãnh đạo cao cấp của các quốc gia lại quan tâm
đến vấn đề đói nghèo như bây giờ. Tuyên bố thiên niên kỷ và các mục tiêu
phát triển tạo ra lộ trình về một thế giới mà ở đó không còn người nghèo đói,
ai cũng được học hành, sức khỏe của người dân được cải thiện, được bảo vệ
một cách bền vững, mọi người đều được hưởng các quyền tự do, bình đẳng và
công bằng.
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Gần 70% dân số ở nông thôn, chủ
yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Trình độ sản xuất chủ yếu còn dựa
trên nền sản xuất nhỏ và lạc hậu. Nước ta lại chịu nhiều sự tác động của thiên
tai, khí hậu khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh vẫn còn nặng nề.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước. Cùng với sự chuyển đổi nền
kinh tế từ tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Nền
kinh tế của nước ta đang từng bước được cải thiện. Đời sống của người dân
từng bước được nâng lên. Tuy nhiên bên cạnh đó nghèo đói vẫn là một vấn đề
lớn được Đảng và nhà nước quan tâm.
Mục tiêu xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã
hội và tăng trưởng bền vững, ngược lại chỉ có tăng trưởng cao, bền vững mới
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 2 - Lớp Đ5- QL5
có sức mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát
khỏi đói nghèo.
Chính vì những lí do của vấn đề đã nêu trên nên trong chuyên đề của
mình tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Đói nghèo tại huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang: Nguyên nhân và
giải pháp”
Qua đó tìm hiểu thực trạng đói nghèo, nhu cầu xóa đói giảm nghèo của
người dân và hiệu quả của những chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn.
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo của huyện
Đồng Văn. Đồng thời nghiên cứu những chính sách về xóa đói giảm nghèo
của nhà nước, cũng như của địa phương. Từ đó đưa ra những khuyến nghị,
những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình tổ chức thực
hiện chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa bàn, giúp người nghèo tự vươn
lên trong cuộc sống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nguyên nhân đói nghèo và giải pháp xóa đói
giảm nghèo ở huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi địa
bàn huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang.
Phương pháp nghiên cứu:
Thông qua các phương pháp thống kê, khảo sát, phân tích tổng hợp...để
nghiên cứu đề tài.
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 4 - Lớp Đ5- QL5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHÈO ĐÓI
1.1. Nghèo khổ về thu nhập
1.1.1. Khái niệm:
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập
hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng
những lúc khó khăn và bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia
như lương thực, quần áo, nhà ở để cho mỗi người có thể “tiếp tục tồn tại” tuy
nhiên nảy sinh một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc xác định mức này là một vấn đề chủ quan gây kho khăn
chho việc so sánh giữa các nước.
Thứ hai, mức thu nhập tối thiểu cần thiết sẽ thay đổi theo tiêu chuẩn
của mức sống xét theo thời gian và theo quốc gia (hay khu vực). Chẳng hạn,
một người dân ở nước phát triển hiện nay được phân loại là nghèo thì thực ra
họ lại còn có mức sống tốt hơn những người dân ở nước họ vào những năm
60 hoặc một số người dân ở các nước kém phát triển ngày nay mà họ không
được coi là nghèo.
Do vậy, một phương pháp đã được các nhà khinh tết sử dụng là xác
định “giới hạn (ranh giới) nghèo khổ” hay còn gọi là “đường nghèo khổ”.
Vậy “giới hạn nghèo khổ” được xác định như thế nào? Về phương pháp
luận tiếp cận,chúng ta có thể lựa chọn xác định giới hạn nghèo khổ theo thu
nhập hay chi tiêu.tuy nhiên,phương pháp được sử dụng nhiều hơn là tiếp cận
theo chi tiêu. Vì chi tiêu của hộ gia đình là chỉ số liên quan chặt chẽ đến phúc
lợi hơn là thu nhập. Và số liệu về thu nhập thường là không chính xác, đặc
biệt ở các nước đang phát triển (có một bộ phận những người lao động là tự
hành nghề).
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 6 - Lớp Đ5- QL5
1.1.2.1. Phương pháp của ngân hàng thế giới
Phương pháp mà WB đẫ sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựa
vào ngưỡng chi tiêu tính bằng đô la mỗi ngày. Ngưỡng nghèo thường dùng
hiện nay là 1 đô la và 2 đô la/ngày (theo sức mua tương đương). Đây là mức
tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con
người, mức chuẩn đó là 2100 calo/người/ngày.
Ngưỡng nghèo này gọi là ngương nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo đói ở
mức thấp). Vì mức chỉ tiêu này chỉ dảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng
lượng mà không đủ chỉ tiêu cho những hàng hóa phi lương thực. Những
lao động – thương binh – xã hội). Phương pháp này đang được sử dụng để
xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia
(chuẩn nghèo quốc gia).
Người được coi là nghèo về thu nhập là những người mà thu nhập của
họ nhằm ở bên dưới các “giới hạn” hay “đường chuẩn nghèo” đã được quy
định là 200 nghìn đồng/tháng ở khu vực nông thôn và 260 nghìn đồng/tháng ở
khu vực thành thị.
Việc nhận diện ai là người nghèo luôn là một vấn đề khó khăn cách
thông thường và đã được các nước đang phát triển và WB sử dụng là dựa vào
kết quả các cuộc điều tra về thu nhập (chi tiêu) của hộ gia đình (phương pháp
thống kê). Những người đang sống trong “nghèo khổ tuyệt đối” là những
người mà 4/5 chỉ tiêu của họ là giành cho nhu cầu về ăn mà chủ yếu là lương
thực,và một chút ít thực phẩm (thịt hoăc cá); tất cả đều thiếu dinh dưỡng; chỉ
1/3 số người biết chữ; và tuổi thọ của họ vào khoảng 40 năm.
Một cách tiếp cận khác cũng thường được sử dụng để xem xét nghèo
đói là chia dân cư thành các nhóm khác nhau (theo 5 nhóm) nhóm 1/5 nghèo
nhất là 20% dân số, những người sống trong các hộ gia đình có mức thu nhập
(chỉ tiêu) thấp nhất.
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 8 - Lớp Đ5- QL5
Bên cạnh sự nghèo khổ tuyệt đối,ở nhiều nước còn xét đến sự nghèo
khổ tuyệt đối. Nghèo khổ tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ
thuộc địa điểm cư dân sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến ở nơi đó.
Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn
có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Đây là
những người cảm thấy bị tước đoạt những cái mà đại bộ phận những người
khác trong xã hội được hưởng. Do đó, chuẩn mực để xem xét nghèo khổ
tương đối thường khác nha từ nước này sang nước khác hoặc từ vùng này
sang vùng khác. Nghèo khổ tương đối cũng là một hình thức biểu hện sự bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Thiệt thòi về tri thức,được xác định bởi tỷ lệ người lớn mù chữ.
Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế,được xác định bởi tỷ lệ người không tiếp
cận được với các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy
dinh dưỡng.
Để đánh giá “nghèo khổ của con người ”, liên hợp quốc đã sử dụng chỉ
số nghèo khổ của con người – HPI (Human poor index) hay còn gọi là chỉ số
nghèo khổ tổng hợp.
Giá trị HPI củ một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh
hưởng lên bao nhiêu phần dân số của nước đó so sánh các giá trị HDI và HPI
cho thấy sự phân phối thành tựu của tiến bộ của con người các nước có thể có
giá trị HDI như nhau những giá trị HPI lại khác nhau.
Ví dụ trường hợp của Trung Quốc và Gioocđani (1999) chỉ số phát
triển con người của mỗi nước là 0,718 và 0,714 chỉ số nghèo khổ con người
của trung quốc là 15,1% trong khi gioocđani chỉ là 8,5. Ở Việt Nam HPI năm
1999 là 29,1% và xếp hạng theo HPI nước ta đứng thứ 45 trên 90 quốc gia
được Liên Hợp Quốc nghiên cứu.
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 10 - Lớp Đ5- QL5
1.3. Nghèo đói ở Việt Nam
Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam đã giảm dần theo từng năm, từ mức
37,4% (năm 1998) thì sau mười năm con số này đã giảm đáng kể xuống còn
14,5% (năm 2008).
Bảng 1.2: Tỷ lệ nghèo chung phân theo thành thị, nông thôn
và phân theo vùng (*)1998 2002 2004 2006 2008
CẢ NƯỚC
Tỷ lệ nghèo chung 37,4 28,9 19,5 16,0 14,5
Phân theo thành thị, nông thôn
thế giới. Theo quyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-
TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2006 – 2010:
Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ
nghèo
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có
khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Theo chuẩn trên, nhiều hộ
nghèo thoát nghèo nhưng vẫn không đủ sống và do đời sống khó khăn nên rất
nhiều người muốn còn được thuộc diện nghèo mãi để còn nhận các khoản hỗ
trợ như như vay vốn ưu đãi, bảo hiểm y tế.... Phó thủ tướng Nguyễn Sinh
Hùng cho rằng không thể duy trì chuẩn nghèo 200.000-260.000 đồng như
hiện nay mà cần rà sát và ban hành chuẩn nghèo mới cho năm 2011.
3.1.2. Nguyên nhân nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam
nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan như sau:
3.1.2.1.Nguyên nhân lịch sử, khách quan
o Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một
cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá,
ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các
Chuyên đề Kinh tế phát triển
Nguyễn Thị Hải Yến - 12 - Lớp Đ5- QL5
hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật,
hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo
trong một thời gian dài.
o Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc
áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương