BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRIỂN VỌNG
PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
NGÔ THỊ HỒNG HẠNH
Hà Nội – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRIỂN VỌNG
PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106
Họ và tên: Ngô Thị Hồng Hạnh
Người hướng dẫn: TS Mai Nguyên Ngọc
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện
không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý
kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thị Hồng Hạnh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT .....................................................................vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ..............................................................................ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ.......................................................................ix
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ XANH ........................................6
1.1. Tổng quan về kinh tế xanh...............................................................................6
1.1.1 Khái niệm kinh tế xanh..................................................................................6
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến kinh tế xanh................................................9
1.2 Các lĩnh vực của nền kinh tế xanh...............................................................20
1.3 Vai trò của Kinh tế xanh đối với phát triển kinh tế, xã hội ...........................23
1.3.1 Đối với vấn đề phát triển bền vững ...........................................................23
1.3.2 Đối với tăng trưởng kinh tế.........................................................................23
1.3.3 Đối với thị trường lao động ........................................................................24
1.3.4 Đối với môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.................................24
1.3.5 Đối với lối sống văn minh đô thị................................................................25
Kết luận chương 1.................................................................................................26
v
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao, liên tục, ổn định và bảo đảm mọi người dân
được hưởng lợi từ quá trình phát triển. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)
bình quân 5 năm (2011 - 2015) đạt trên 5,9%/năm; năm 2016 đạt 6,21%; năm 2017
đạt 6,81%; năm 2018 là 7,08%. Việt Nam đã giảm tỷ lệ nghèo cùng cực từ gần 60%
trong những năm 1990 xuống dưới 3% năm 2018. Đây là thành công rất ấn tượng và
là niềm tự hào của Việt Nam. Về cơ bản, để thịnh vượng về kinh tế gắn với đảm bảo
công bằng và hòa nhập xã hội trong bối cảnh tình hình mới, Đại hội lần thứ XII của
Đảng đã xác định một trong những hướng đi đó là phát triển kinh tế xanh.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, phát triển kinh tế xanh là một xu thế
tất yếu. Để thực hiện kinh tế xanh, một trong những công cụ quan trọng là đẩy
mạnh công tác truyền thông phát triển nền kinh tế xanh gắn liền với bảo vệ môi
trường, phát triển công nghệ sản xuất sạch và năng lượng sạch nhằm nhanh chóng
đạt được mức tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ở Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, nền kinh tế
phát triển theo chiều rộng là chủ yếu, sử dụng nhiều yếu tố đầu vào cho quá trình
phát triển. Công tác truyền thông chưa thực sự chú ý nhiều đến việc tuyên truyền
phát triển kinh tế theo chiều sâu, phát triển kinh tế cần gắn chặt với bảo vệ môi
trường và xã hội. Trong tình hình mới, việc chuyển đổi phương thức phát triển,
hướng tới phát triển kinh tế xanh là hướng tiếp cận phù hợp. Xuất phát từ vấn đề đó,
tác giả đã chọn đề tài “Kinh tế Xanh trên thế giới và triển vọng phát triển tại Việt
Nam” với mong muốn tìm hiểu những kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh ở một số
nước trên thế giới, từ đó đưa ra những nhận định về triển vọng và giải pháp cho
phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam trong thời gian tới.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra luận văn đã thực hiện nghiên cứu các
vấn đề sau:
Một là, luận văn đã thực hiện nghiên cứu khái niệm về kinh tế xanh và một
Asia-Pacific Economic
Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh
Cooperation
tế Châu Á – Thái Bình Dương
Association of
South
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
East Asian
ASEM
The
Asia-Europe
Hội nghị cấp cao Á-Âu
meeting
BRT
Bus Rapid Transit
Hệ thống xe buýt trung chuyển
nhanh
Tông sản
IPPUC
phẩm quốc nội
Viện nghiên cứu và quy hoạch
đô thị Curitiba ( Brasil)
LCA
Life-cycle Assessment
Phương pháp Đánh giá chu kỳ
vòng đời
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chế xuất
NDT
Nhân dân tệ
NDRC
OECD
Research
and
Hoạt động Nghiên cứu và Phát
viii
Development
triển
TNC
Transnation Corporations
Công ty xuyên quốc gia
UNEP
United Nations
Chương
Environment
Liên Hiệp Quốc
trình Môi trường
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong nền kinh tế truyền thống ....... 9
Hình 1.2: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong nền kinh tế xanh...............9
Hình 1.3: Sơ đồ phát triển bền vững (A) và Kinh tế xanh, con đường phát triển bển
vững (B) ....................................................................................................................15
Hình 1.4: Các lĩnh vực của nền kinh tế xanh ...........................................................23
Hình 1.5: Dự báo xu thế về tỉ lệ tăng trưởng GDP thường niên ..............................24
Hình 1.6. Tóm tắt vai trò của kinh tế xanh đối với tăng trưởng và phát triển .........26
Hình 2.1 Dự báo công suất điện tái tạo của Mỹ trong 4 khu vực trọng điểm đến
2035 .............................................................................................................................46
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tất cả các quốc gia trên thế giới ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh
tế, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong khi đó, nền
kinh tế phổ biến hiện nay là nền kinh tế nâu, gắn liền với khai thác và sử dụng tài
nguyên hóa thạch. Sự bùng nổ về kinh tế mang lại nhiều lợi ít nhưng lại không bền
vững do hai yếu tố môi trường và xã hội không được quan tâm. Chính vì vậy,
chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đưa ra mô hình kinh tế xanh (mô
hình kinh tế bền vững) vừa đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu, nâng cao chất
lượng kinh tế, vừa bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng môi trường. Trong bối
cảnh phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, kinh tế xanh đang là xu hướng mới mà
các quốc gia trên thế giới mong đợi.
Vấn đề sử dụng năng lượng, phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường trên
diện rộng tại Việt Nam đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, nhất là trong bối cảnh
tài vẫn tồn tại một số hạn chế như mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các con số thống
kê đối với từng chỉ số liên quan đến tăng trưởng xanh mà chưa đưa ra những phân
tích chuyên sâu về quá trình thực hiện tăng trưởng xanh ở Hàn Quốc.
Kennet, Miriam (2007), “Green Economics: An Introduction to Progressive
Economics” (tạm dịch: “Kinh tế xanh: Giới thiệu về xu hướng kinh tế mới”, trong bài
viết tác giả đã giới thiệu một cách tổng quan về phát triển kinh tế xanh – một xu thế tất
yếu của nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, bài viết này đã giúp cho người đọc có một
nhận định tổng quan về phát triển kinh tế xanh trên thế giới bằng cách đưa ra các mô
hình phát triển kinh tế xanh đã và đang được áp dụng ở một số nước.
David William Pearce, Anil Markandya và Edward Barbier (1989) ,
“Blueprint for a Green Economy” (tạm dịch: Kế hoạch thực hiện Kinh tế xanh”)
đã chỉ ra sự ô nhiễm đang đe dọa cuộc sống chúng ta và cho thấy cách các
chính phủ có thể thực hiện để giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển kinh
tế bền vững.
Edward B. Barbier (2005), “Natural Resources and Economic Development”
(Cambridge University Press, Cambridge) (tạm dịch: Phát triển kinh tế và các
nguồn lực tự nhiên”) đã khám phá một nghịch lý quan trọng: “Tại sao khai
thác tài nguyên thiên nhiên lại không mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các nền
3
kinh tế nghèo tại châu Phi, châu Á và Mĩ Latinh?”. Barbier xem các nghịch lý
này qua các ví dụ lịch sử, các lý thuyết hiện hành và các mô hình thực nghiệm
suy thoái đất và sử dụng nước…Từ đó, ông đã đề xuất các biện pháp, chính sách,
thể chế cần thiết cho sự thành công của các nước đang phát triển dựa vào tài
nguyên thiên nhiên và chính sách phát triển nền kinh tế xanh bền vững.
Tại Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm về kinh tế xanh
với đó là các báo cáo khoa học được ra đời. Có thể kể ra:
Nguyễn Trung Đức (2015), “Tăng trưởng xanh ở Ấn Độ”, Tuy nhiên, do giới
hạn trong phạm vi một bài báo và công trình nghiên cứu khoa học nên những bài viết
triển kinh tế tiêu hao nhiều tài nguyên sang phương thức phát triển kinh tế tiết kiệm
tài nguyên. Bài viết này tập trung phân tích các chính sách phát triển kinh tế xanh ở
Trung Quốc. Trên cơ sở đó đưa ra một số gợi ý chính sách phát triển kinh tế xanh
cho Việt Nam.
Qua tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, đã có các công trình nghiên cứu trong nước, nước ngoài của rất
nhiều học giả khác nhau. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa hệ thống
một cách khoa học các vấn đề lý luận về kinh tế xanh, số liệu được liệt kê khá nhiều
nhưng còn rời rạc và chưa cập nhật những số liệu mới nhất.
Thứ hai, vấn đề chủ yếu là các bài viết phần lớn mới chỉ đánh giá thành
công, còn hạn chế của việc phát triển kinh tế xanh ở một số quốc gia trên thế giới
thì chưa được các học giả phân tích sâu sắc, toàn diện và có hệ thống.
Thứ ba, về phía Việt Nam, phần lớn các bài viết chưa nghiên cứu một cách
cập nhật, hệ thống toàn diện về kinh tế xanh Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế
trong phát triển kinh tế xanh.
Do vậy, đi sâu nghiên cứu, lựa chọn đề tài: “Kinh tế xanh trên thế giới và
triển vọng phát triển tại Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để
giải quyết được các vấn đề đặt ra ở trên. Đồng thời có thể khẳng định đây là đề tài
đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, cập nhật, toàn diện về phát triển kinh tế
xanh của một số quốc gia trên thế giới và triển vọng cho Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xanh trên thế giới, luận văn
nghiên cứu triển vọng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.
5
3.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung ở trên luận văn thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
- Nghiên cứu hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh tế xanh.
Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng
như: Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009;
khủng hoảng về khí hậu và đa dạng sinh học, tình trạng thiếu nước sạch, gia
tăng phát thải gây hiệu ứng nhà kính và mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng
nhiên liệu với cú sốc giá nhiên liệu năm 2007 – 2008; khủng hoảng lương thực với
giá lương thực thực phẩm tăng cao và tình trạng thiếu lương thực tại một số khu
vực, năm 2008, chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đề xuất ý
tưởng kinh tế xanh, hay còn được gọi với tên quốc tế là Green economy (GE).
Ngày môi trường thế giới 5/6/2012 với chủ đề “Kinh tế xanh: Có vai trò
của bạn”, kinh tế xanh được coi như bước phát triển mới của thế kỷ 21 với nền kinh
tế phát triển bền vững, ít carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
Theo bài viết: “ECO Canada Labour Market research, Defining the Green
Economy” (tạm dịch “Nghiên cứu thị trường lao động Canada ECO, xác định nền
kinh tế xanh” trên ECO Canada định nghĩa “Kinh tế xanh là tổng hợp các hoạt
động với mục đích chính là giảm thiểu các hoạt động tiêu thụ tài nguyên, khí
thải độc hại và giảm thiểu tối đa các tác động tới môi trường. Kinh tế xanh tập
trung vào các yếu tố đầu vào, các hoạt động, kết quả đầu ra trong quá trình sản
xuất các sản phẩm, dịch vụ xanh”.
Karen Chapple (2008), “Defining the Green Economy: A Primer on Green
Economic Development” (tạm dịch “Xác định nền kinh tế xanh: Nền tảng cho sự phát
triển kinh tế xanh”), có định nghĩa kinh tế xanh như sau: “Kinh tế xanh là một nền
kinh tế năng lượng sạch, bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu là năng lượng tái tạo,
công trình xanh và công nghệ hiệu quả về năng lượng; cơ sở hạ tầng và giao
thông hiệu quả về năng lượng, tái chế và biến chất thải thành năng lượng”.
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa “kinh tế xanh”
(Green Economy) “là một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của
con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi
trường và sự khan hiếm tài nguyên”.
tâm của quá trình tăng trưởng, kinh tế xanh tập trung phát triển đồng thời 3 trụ
8
cột chính đó là phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường nhằm
phát triển một cách toàn diện và bền vững cuộc sống con người, thể hiện mối
quan hệ chặt chẽ giữa 3 trụ cột trên. Có thể thấy rõ được sự khác nhau giữa nền
kinh tế truyền thống và nên kinh tế xanh ở Hình 1.1 và Hình 1.2 dưới đây.
Hình 1.1: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi
Hình 1.2: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và
trường trong nền kinh tế truyền thống
môi trường trong nền kinh tế xanh
Kinh tế xanh phải là nền kinh tế lấy con người làm trung tâm, trong đó
chính sách tạo ra các nguồn lực mới về tăng trưởng kinh tế bền vững và bình
đẳng. Theo phân tích của Huyền Minh năm 2012 trong bài viết “Hướng tới một nền
Kinh tế Xanh: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam” trên báo Tạp chí Cộng sản đã
viết: “Thúc đẩy nền kinh tế xanh và cải tổ quản lý môi trường là hai nhân tố
căn bản bảo đảm tiến trình phát triển bền vững của mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn
cầu”. Sự đầu tư cho nền kinh tế xanh cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo bởi sinh
kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn
thương do tác động của thiên tai và sự biến đổi khí hậu.
Một số yếu tố chính của kinh tế xanh đó là: phát triển và sử dụng năng lượng
tái tạo; sử dụng năng lượng hiệu quả; giảm thiểu và xử lý chất thải; bảo tồn và khai
thác bền vững các nguồn tài nguyên, tạo ra công việc ổn định; an toàn cho người dân.
Theo Green Economy Group, nền kinh tế xanh phải đảm bảo các đặc điểm sau:
trưởng xanh” (green growth) vào năm 2000. Theo Paul Ekins, tăng trưởng xanh là
tăng trưởng kinh tế bền vững về mặt môi trường, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo
tồn các hệ sinh thái, đảm bảo sức khoẻ, phúc lợi và chất lượng cuộc sống. Năm
2005, Uỷ ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc
(UNESCAP) đưa ra khái niệm tăng trưởng xanh như sau: tăng trưởng xanh là việc
giảm đói nghèo thông qua tăng trưởng và bảo vệ môi trường, thông qua tăng cường
hiệu quả sinh thái. UNESCAP đã đưa ra nhiều biện pháp để thực hiện tăng trưởng
10
xanh như: cải cách thuế xanh, hình thành nguồn vốn xã hội thân thiện với môi
trường, quản lý nguồn cung năng lượng, hình thành các thị trường xanh và các
doanh nghiệp xanh.
Năm 2009, Hội đồng bộ trưởng của OECD đã đưa ra tuyên bố tăng trưởng
xanh (green growth declaration). Trong Tuyên bố này, tăng trưởng xanh được định
nghĩa là: thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi vẫn đảm bảo tính bền
vững về các nguồn tài nguyên và các dịch vụ môi trường. Năm 2011, OECD cho
rằng để đạt được tăng trưởng xanh cần phải giải quyết những thách thức về kinh tế
và môi trường, khai thác các nguồn lực mới cho tăng trưởng thông qua các kênh
như cải thiện năng suất lao động, phát huy sáng kiến, hình thành thị trường mới, tạo
dựng một chính phủ có trách nhiệm để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, ổn định kinh
tế vĩ mô...
Tổ chức sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc (GEI) cho rằng: Phát
triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, thông qua quá trình tái cơ cấu nền kinh
tế và cơ sở hạ tầng, với mong muốn thu được kết quả toàn diện hơn từ các nguồn
đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính. Đồng thời giảm thiểu tối đa hiệu ứng
nhà kính, sử dụng và khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo ra ít chất thải
nhằm bảo vệ môi trường và giảm thiểu sự mất công bằng trong xã hội.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tăng trưởng xanh là đẩy
mạnh phát triển kinh tế và tăng trưởng, đồng thời nguồn tài sản tự nhiên không bị
dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao
chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù
hợp với điều kiện Việt Nam.
- Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền,
các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.
Mục tiêu chung của tăng trưởng xanh là tiến tới nền kinh tế carbon thấp,
làm giàu vốn tự nhiên, giảm khả năng phát thải. Điều này trở thành tiêu chí
bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng xanh có mục tiêu cụ thể
như sau:
- Tái cấu trúc hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành
kinh tế hiện có và khuyến khích các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng
lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao;
12
- Nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính,
góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu;
- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống lành mạnh, thân thiện với
môi trường thông qua việc tạo ra nhiều việc làm xanh.
1.1.2.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, trong
báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Ủy ban Môi trường và
phát triển thế giới (WCED) tại Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định
nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây
trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Nói cách khác, phát
triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và
môi trường được bảo vệ, giữ gìn. Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia
trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi vì nó mang tính khái quát cao về
vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ, điều này bao gồm việc
duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác.
* Sự khác biệt giữa tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và phát triển bền vững
Từ các khái niệm đã nêu, có thể thấy có những sự khác biệt giữa tăng trưởng
xanh, kinh tế xanh về giá trị, ý nghĩa và mục tiêu. Kinh tế xanh được quan niệm là
đạt được sự phát triển kinh tế ổn định, khắc phục những thiếu sót do nền kinh tế
truyền thống mang lại. Kinh tế xanh là một khái niệm mang nghĩa rộng, bao hàm
việc chuyển đổi từ nền kinh tế sử dụng nhiều nguyên liệu hoá thạch sang nền kinh
tế tiết kiệm tài nguyên, từ đó cải thiện phúc lợi và công bằng xã hội và giảm thiểu
những rủi ro về môi trường. Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế truyền
thống sang nền kinh tế xanh có thể đạt được thông qua đầu tư xanh, tạo việc làm
xanh, thị trường xanh. Mục tiêu rõ ràng của kinh tế xanh là xoá đói giảm nghèo và
giảm thiểu các tác động bất lợi từ ô nhiễm môi trường.
Trong khi đó, tăng trưởng xanh được quan niệm theo nghĩa hẹp hơn, liên
quan chủ yếu đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là các yếu tố đầu vào của tăng trưởng
và các chính sách thúc đẩy tăng trưởng. Quá trình đạt được tăng trưởng xanh có thể
được thực hiện thông qua việc đánh giá vai trò của nhân tố sản xuất, các yếu tố
chính sách và thể chế, trình độ phát triển, nguồn lực phát triển và sức ép về môi
trường. Tăng trưởng xanh liên quan đến hiệu quả chính sách, hiệu quả sử dụng và
quản lý nguồn lực, cũng như hiệu quả phân bổ và sử dụng ngân sách.
Khái niệm kinh tế xanh cũng không thể thay thế cho khái niệm “phát triển bền
vững”, nhưng nó ngày càng được công nhận là mô hình phù hợp làm nền tảng cho
phát triển bền vững. Nói cách khác, kinh tế xanh không thay thế phát triển bền vững
mà là chiến lược kinh tế để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (Hình 1.3)
14
thống mang lại. Trong khi đó khái niệm phát triển bền vững có nội hàm rộng hơn,
bao gồm cả các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường.
Như vậy, việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh được xem là một chiến
lược để các nước hướng tới phát triển bền vững, trong đó phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trường được bảo đảm cân đối, hài hòa với nhau. Để phát