Ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ giữa chính sách thắt chặt tiền tệ và hoạt động đầu tư của các công ty niêm yết việt nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG MINH HUY

ẢNH HƯỞNG CỦA NẮM GIỮ TIỀN MẶT
ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH
THẮT CHẶT TIỀN TỆ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

CHUYÊN:I CHÍNH - NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG MINH HUY

ẢNH HƯỞNG CỦA NẮM GIỮ TIỀN MẶT
ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH
THẮT CHẶT TIỀN TỆ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TÓM TẮT ..................................................................................................................7
ABSTRACT ...............................................................................................................8
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI .......................................................................1
1.1 Lý do chọn đề tài.................................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu ..................................................2
1.3 Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................3
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.............................................................................3
1.5 Bố cục của đề tài .................................................................................................4
CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU TRƢỚC ...........................................................................................6
2.1 Khung lý thuyết...................................................................................................6


2.2 Tổng quan kết quả các nghiên cứu trước – Các giả thuyết kỳ vọng của bài
nghiên cứu ...............................................................................................................12
2.2.1 Tác động sụt giảm trong hoạt động đầu tư của các công ty niêm yết Việt
Nam khi Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ - Giả thuyết kỳ vọng
thứ nhất ..............................................................................................................12
2.2.2 Tác động của chính sách nắm giữ tiền mặt đến việc giảm thiểu những ảnh
hưởng bất lợi của chính sách thắt chặt tiền tệ đối với hoạt động đầu tư – Giả
thuyết kỳ vọng thứ hai.......................................................................................15
2.2.3 Tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ đến sự thay đổi trong lượng tiền
mặt nắm giữ – Giả thuyết kỳ vọng thứ ba .........................................................24
2.2.4 Ảnh hưởng của sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ đến hoạt động
đầu tư – Giả thuyết kỳ vọng thứ tư ...................................................................25
2.2.5 Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt đến hiệu quả đầu tư – Giả
thuyết kỳ vọng thứ năm.....................................................................................28
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................40
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................40
3.2 Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................42


Tên đầy đủ bằng tiếng Anh

Tên đầy đủ bằng tiếng Việt

FE

Fixed Effects Model

Mô hình tác động cố định

HNX

Hanoi Stock Exchange

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HSX

Ho

Chi

Minh

Stock Sở giao dịch chứng khoán thành phố

Exchange
Non-SOE


Random Effects Model

Mô hình tác động ngẫu nhiên

SOE

State-Owned Enterprises

Công ty sở hữu Nhà nước

SYS-GMM

System – General Method of Phương pháp Moment tổng quát
Moments

dạng hệ thống


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng công ty ứng với số năm quan sát ..............................................41
Bảng 3.2: Số công ty theo từng năm .........................................................................41
Bảng 3.3: Thống kê tỷ lệ các ngành trong mẫu dữ liệu ............................................42
Bảng 3.4: Tổng hợp các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu ...........................59
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu kinh tế - tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
...................................................................................................................................65
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến ...........................................................................69
Bảng 4.3: Thống kê mô tả Invest và Cash cho các nhóm mẫu trong nghiên cứu .....71
Bảng 4.4: Phân tích tương quan Pearson ..................................................................72
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy mô hình (1) - Phân tích tác động sụt giảm trong hoạt
động đầu tư của các công ty niêm yết Việt Nam khi Chính phủ thực hiện chính sách

chính sách tiền tệ thắt chặt từ Chính phủ, hoạt động đầu tư của các công ty sẽ bị sụt
giảm; nhưng nếu các công ty gia tăng lượng tiền mặt nắm giữ thì sẽ làm giảm thiểu
các tác động tiêu cực của chính sách tiền tệ lên hoạt động đầu tư của các công ty,
đặc biệt ở những công ty bị hạn chế tài chính và công ty không thuộc sở hữu Nhà
nước – là những công ty thường phụ thuộc nhiều vào nguồn tài trợ nội bộ. Kết quả
nghiên cứu còn đưa ra bằng chứng rằng, khi Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt thì các công ty niêm yết Việt Nam sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn vì với
lượng tiền mặt nắm giữ gia tăng này sẽ giúp các công ty duy trì hoạt động đầu tư
của mình. Cuối cùng, bài nghiên cứu còn phát hiện rằng trong bối cảnh Chính phủ
thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì nắm giữ tiền mặt giúp ổn định hoạt động
đầu tư, đồng thời làm tăng hiệu quả đầu tư của các công ty, đặc biệt là các công ty
bị hạn chế tài chính và các công ty không thuộc sở hữu Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu gợi ý cho các nhà quản lý công ty Việt Nam cần chú ý theo dõi
xu hướng của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ để chủ động trong việc thực hiện
các hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, các công ty trong tình trạng hạn chế tài chính và
các công ty không thuộc sở hữu Nhà nước có thể chủ động nắm giữ nhiều tiền hơn
để sử dụng như một nguồn tài trợ dự phòng nhằm duy trì hoạt động đầu tư của
mình. Ngoài ra, khi Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, các công ty
niêm yết Việt Nam có thể gia tăng nắm giữ tiền mặt nhằm ổn định hoạt động đầu tư
cũng như cải thiện hiệu quả đầu tư, làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài của công
ty.
Từ khóa: chính sách tiền tệ, đầu tư công ty, hạn chế tài chính, nắm giữ tiền mặt


ABSTRACT
This study was conducted to analyze the effect of cash holding on the relationship
between tightening monetary policy and investment activities through a dataset of
419 Vietnamese listed companies from 2008 to 2018. By regression with PooledOLS, Fixed Effects, Random Effects and System-GMM methods, the results show
that in Vietnam, under the impact of tight monetary policy, corporate investment
will be reduced. Howerver, companies could increase cash hodlding to minimize the

bên ngoài để tìm vốn đầu tư. Các nghiên cứu trên thế giới cho đến hiện tại đã cung
cấp bằng chứng rõ ràng rằng, khi chính sách thắt chặt tiền tệ được thực hiện, các
ngân hàng sẽ giảm cung cấp tín dụng, do đó các công ty sẽ giảm đầu tư do phải đối
mặt với tình trạng hạn chế về tài chính (Morck & cộng sự, 2013). Khi đó, công ty sẽ
phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn nội bộ thông qua việc nắm giữ tiền mặt để
thực hiện các cơ hội đầu tư của mình (Allen, Qian, & Qian, 2005). Do vậy, nhiều
khả năng là tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt đối với đầu tư của công ty có
thể được giảm thiểu thông qua việc gia tăng lượng tiền mặt mà công ty nắm giữ.
Yang & cộng sự (2017) cho rằng mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, hoạt động đầu
tư của công ty và nắm giữ tiền mặt có thể đặc biệt quan trọng ở các công ty bị hạn
chế tài chính, do các công ty này khó tiếp cận với nguồn tài trợ bên ngoài và nhất
thiết phải phụ thuộc vào nguồn tài trợ nội bộ, cụ thể là nắm giữ tiền mặt, để thực
hiện các dự án đầu tư sinh lợi của mình. Các công ty không thuộc sở hữu Nhà nước
cũng được cho là khó tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân hàng hơn so với công ty sở hữu
Nhà nước.
Ở Việt Nam với nền tảng là kinh tế thị trường chịu sự điều tiết của Nhà nước, tác
động của chính sách tiền tệ đối với tài chính công ty càng trở nên quan trọng. Trong
khoảng thời gian từ cuối năm 2008 đến năm 2009, việc ưu tiên tập trung vào mở
rộng đầu tư, mở rộng tín dụng đã dẫn đến thâm hụt ngân sách và gây căng thẳng lên
cán cân thanh toán, đòi hỏi Chính phủ phải có những động thái để cân bằng lại. Từ


2

năm 2011, Chính phủ đã đề ra những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đã đưa ra chủ trương thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt.
Xuất phát từ những nghiên cứu trên thế giới, kết hợp với mong muốn mở rộng
nghiên cứu dựa trên các đặc điểm kinh tế của Việt Nam, đề tài:“Ảnh hưởng của
nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ giữa chính sách thắt chặt tiền tệ và hoạt động

động đầu tư của các công ty niêm yết Việt Nam.
Thứ năm, phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt đến hiệu quả đầu tư
của các công ty niêm yết Việt Nam.
1.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu kiểm định ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ giữa
chính sách thắt chặt tiền tệ và hoạt động đầu tư trên cơ sở sử dụng dữ liệu bảng bất
cân xứng của 419 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)
và Sở Giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HSX) trong giai đoạn 11 năm - từ
năm 2008 đến năm 2018. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các công ty, dữ
liệu World Bank, Tổng cục thống kê, và các website dữ liệu chứng khoán
Cophieu68, Vietstock, CafeF.
Bài nghiên cứu sử dụng 4 phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng là Pooled OLS,
Fix Effects, Random Effects và System-GMM để kiểm soát hiện tượng nội sinh
tiềm năng đồng thời kiểm định tính vững của mô hình.
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ thắt chặt và hoạt động đầu tư của công ty cũng
như ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ này đã được khai thác ở các
quốc gia châu Âu, châu Mỹ (Bernanke & Gertler, 1995; Oliner & Rudebusch, 1996;
Chatelain & Tiomo, 2003), và cả châu Á (Zulkhibri, 2013; Yang & cộng sự, 2017).
Bài viết này sẽ góp phần mở rộng phạm vi nghiên cứu, đóng góp vào nền tảng
nghiên cứu thế giới khi trưng ra những bằng chứng thực nghiệm của các công ty
niêm yết tại Việt Nam.


4

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu được tác giả kỳ vọng sẽ giúp cho các nhà quản
trị của các công ty hình dung rõ nét hơn về hoạt động đầu tư và nắm giữ tiền mặt ở
Việt Nam trong bối cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt, phản ánh phần nào mức độ
phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, với việc

nhau về mức độ hạn chế tài chính và cơ cấu sở hữu Nhà nước.
Chương 5: Kết luận, chương này đúc kết những phát hiện của bài nghiên cứu, nêu
ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất gợi ý cho các nghiên cứu sau này.


6

CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU TRƢỚC
2.1 Khung lý thuyết
Chính sách tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia trong việc
điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Trung ương sử dụng chính sách tiền tệ để để
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua của tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 viết: “Chính sách tiền tệ
quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ
tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu
đề ra”. Chính sách tiền tệ còn là công cụ để kiểm soát hệ thống các ngân hàng cũng
như tổ chức tín dụng. Một trong những vai trò chính của Ngân hàng Trung ương là
thực hiện chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và quản lý sự biến động của nền
kinh tế.
Chính sách tiền tệ của các Ngân hàng Trung ương đã có những thay đổi lớn trong
vài thập kỷ gần đây. Theo Mishkin (2013), kể từ cuối những năm 1980, kiểm soát
lạm phát trở thành mục tiêu hàng đầu cho chính sách tiền tệ ở nhiều khu vực. Ngân
hàng trung ương ở Canada, EU, Anh, New Zealand và nhiều quốc gia khác đã thiết
lập mức lạm phát mục tiêu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các Ngân
hàng Trung ương ở các nền kinh tế tiên tiến đã nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách
giảm lãi suất cho đến khi lãi suất ngắn hạn gần bằng 0. Với nguy cơ giảm phát gia
tăng, những chính sách tiền tệ phi truyền thống đã được các Ngân hàng Trung ương
đưa vào thực hiện, bao gồm mua trái phiếu dài hạn (đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Anh, khu

nhà kinh tế gọi mức thất nghiệp này là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Mục tiêu thứ ba của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu này có liên
quan mật thiết đến mục tiêu tạo công ăn việc làm, bởi vì khi tỷ lệ thất nghiệp thấp
thì các công ty thường sẽ đầu tư vốn nhiều vào thiết bị để tăng năng suất, góp phần
thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương có thể đặc biệt


8

thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như trực tiếp
khuyến khích các công ty đầu tư, khuyến khích người dân tiết kiệm, cung cấp nhiều
vốn hơn cho các công ty đầu tư. Ngược lại, nếu tỷ lệ thất nghiệp cao thì nhiều nhà
máy không hoạt động, các chủ công ty sẽ không đầu tư thêm vào máy móc thiết bị
để cải thiện năng suất, từ đó nền kinh tế cũng trở nên trì trệ hơn.
Mục tiêu thứ tư của chính sách tiền tệ là ổn định lãi suất, xuất phát từ việc biến
động của lãi suất có thể tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế và gây khó khăn cho công
ty trong việc lập kế hoạch tương lai. Sự biến động của lãi suất tạo ra tính bất ổn
trong hoạt động của các tổ chức tài chính.
Mục tiêu thứ năm là ổn định thị trường tài chính. Những cuộc khủng hoảng tài
chính với hậu quả kéo dài đã cho thấy vai trò quan trọng của mục tiêu này. Ổn định
thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cả nhà đầu tư và người gửi tiền,
giúp cải thiện hiệu quả của các trung gian tài chính, là cơ sở để phát triển hệ thống
tài chính lành mạnh.
Mục tiêu thứ sáu là ổn định thị trường ngoại hối. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng
ở các quốc gia phụ thuộc nhiều vào ngoại thương. Việc ngăn chặn những biến động
lớn trong trị giá đồng tiền có thể giúp các công ty có thể dự phóng kế hoạch tài
chính tương lai chính xác hơn, từ đó ổn định hoạt động của công ty mình.
Tùy tình hình nền kinh tế từng thời kỳ mà Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện
chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt hay mở rộng. Chính sách tiền tệ mở rộng
được thực hiện thông qua việc Ngân hàng Trung ương gia tăng mức cung tiền trong

suất chiết khấu, gọi như vậy do các khoản vay này có giá thấp hơn so với mệnh giá
các khoản nợ chưa thanh toán của ngân hàng. Điều này tạo nên tâm lý yên tâm hơn
cho người gửi tiền và giúp kết thúc tình trạng rút tiền hàng loạt. Vì vậy, phương
pháp truyền thống thứ ba để thực hiện chính sách tiền tệ là điều chỉnh lãi suất chiết
khấu. Nếu ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, thì các ngân hàng thương
mại sẽ giảm việc vay dự trữ mà thay vào đó gọi vốn vay để thay thế các khoản dự
trữ đó. Vì có ít khoản vay hơn, cung tiền giảm và lãi suất thị trường tăng. Nếu ngân
hàng trung ương hạ thấp mức chiết khấu, quá trình này sẽ hoạt động ngược lại.
Trong lịch sử, đặc biệt là khi xảy ra những cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
những công cụ truyền thống phổ biến như nêu trên tỏ ra không còn nhiều tác dụng,


10

khi đó Ngân hàng Trung ương các nước dùng đến những công cụ khác để thực hiện
chính sách tiền tệ của mình. Đó là do hệ thống tài chính bị mắc kẹt đến độ không
thể phân bổ vốn một cách hiệu quả, và những cú sốc tiêu cực đến nền kinh tế có thể
dẫn đến vấn đề Ngân hàng Trung ương không thể giảm lãi suất ngắn hạn thêm nữa
bởi lãi suất đã chạm đáy 0 như đã xảy ra vào năm 2008. Lúc này Ngân hàng Trung
ương cần những công cụ phi lãi suất nhằm kích thích nền kinh tế. Chẳng hạn cung
cấp thanh khoản cho nền kinh tế như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã thực hiện bằng
các đợt giảm lãi suất chiết khấu liên tục trong thời gian 2007-2008 hay các chương
trình cho vay cũng trong giai đoạn này như TAF, TSLF, PDCF, AMLF, MMIFF,
CPFF và TALF. Bình thường, hoạt động thị trường mở của Cục Dự trữ Liên bang
Mỹ chỉ bao gồm mua chứng khoán Chính phủ, đặc biệt là chứng khoán ngắn hạn.
Tuy nhiên, trong giai đoạn khủng hoảng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã bắt đầu 2
chương trình mua tài sản để hạ thấp lãi suất cho những loại tín dụng đặc biệt, đó là
Government Sponsored Entities Purchase Program mua 1,25 nghìn tỷ USD chứng
khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS) đảm bảo bởi Fannie Mae và Freddie Mac
nhằm nâng đỡ thị trường MBS, và chương trình Nới lỏng định lượng 2 được thực

điểm này được giới thiệu thông qua lý thuyết về Tobin’s Q. Lý thuyết được xây
dựng bởi James Tobin định nghĩa tỷ số Tobin’s Q là giá trị thị trường của các công
ty chia cho chi tiêu vốn. Công ty có Tobin’s Q cao hàm ý công ty được thị trường
định giá cao hơn so với chi tiêu cho nhà máy và thiết bị mà công ty phải bỏ ra.
Công ty có thể phát hành cổ phiếu và nhận được một mức giá cao. Với lý do đó, chi
tiêu cho đầu tư của công ty sẽ tăng lên. Như vậy, khi chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi
suất thực tăng dẫn đến lãi suất trái phiếu tăng và trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so
với cổ phiếu, khi đó nhu cầu cổ phiếu giảm xuống dẫn đến giá cổ phiếu cũng giảm.
Lúc này, Tobin’s Q giảm và vì vậy chi tiêu cho đầu tư cũng giảm theo.
Quan điểm thứ ba là chính sách tiền tệ truyền dẫn thông qua tín dụng. Quan điểm
này được tiếp tục phân chia thành bốn kênh truyền dẫn tác động đến đầu tư.
Thứ nhất là kênh tín dụng ngân hàng. Khi chính sách tiền tệ thắt chặt, dự trữ ngân
hàng giảm và tiền gửi ngân hàng cũng giảm, do đó lượng tiền ngân hàng cho vay


12

cũng sẽ giảm xuống. Lúc này, những công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay
ngân hàng để tài trợ cho hoạt động đầu tư sẽ buộc phải cắt giảm đầu tư.
Thứ hai là kênh kỳ vọng, khi chính sách tiền tệ tiền tệ thắt chặt, giá cổ phiếu giảm,
giá tri công ty giảm. Giá trị của công ty càng thấp thì những lựa chọn bất lợi và vấn
đề rủi ro đạo đức càng nghiêm trọng, công ty có xu hướng tham gia vào các dự án
đầu tư rủi ro. Khi đó, các tổ chức cho công ty vay để đầu tư nhận thấy là khả năng
không thu hồi lại được nợ tăng lên. Vì vậy, các tổ chức cho vay sẽ cân nhắc thận
trọng hơn khi cho vay, dẫn đến nguồn tài trợ cho công ty giảm và đầu tư của công
ty do đó cũng giảm.
Thứ ba là kênh dòng tiền, chính sách tiền tệ thắt chặt làm lãi suất tăng, công ty có
khả năng nắm giữ tiền ít lại và do đó tính thanh khoản của công ty cũng giảm
xuống. Khi đó vấn đề lựa chọn tiêu cực và rủi ro đạo đức trở nên nghiêm trọng hơn,
nguồn cho vay giảm xuống và do đó đầu tư giảm.

Mỹ từ năm 1973 đến năm 1991, phát hiện rằng chính sách tiền tệ thắt chặt làm sụt
giảm đầu tư của công ty thông qua hai bước. Đầu tiên, chính sách tiền tệ thắt chặt
tác động lên thị trường mở sẽ làm nguồn vốn vay ngân hàng bị thu hẹp lại. Tiếp
theo, nguồn vốn vay ngân hàng giảm ảnh hưởng đến nguồn tài trợ cho các dự án
đầu tư của công ty do đó các công ty phải cắt giảm hoạt động đầu tư.
Kashyap & cộng sự (1994) nghiên cứu các công ty ngành sản xuất của Mỹ trong
giai đoạn 1974 – 1989, tìm thấy rằng trong các thời kỳ chính sách tiền tệ thắt chặt
được thực hiện thì đầu tư của công ty giảm.
Bernanke & Gertler (1995) sử dụng dữ liệu hàng tháng từ năm 1965 đến năm 1993,
đã đề xuất lý thuyết truyền dẫn tín dụng của chính sách tiền tệ, theo đó chính sách
tiền tệ ảnh hưởng đến sự sẵn có của nguồn tài trợ chủ yếu thông qua việc tăng hoặc
giảm cung của các khoản vay ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến nguồn cung đầu tư
của công ty. Bernanke & Gertler (1995) ghi nhận rằng, chính sách tiền tệ có ảnh
hưởng đáng kể đến đầu tư dài hạn và thấy rằng chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến
đầu tư của công ty thông qua cả kênh lãi suất và mức độ hạn chế tài chính. Ngoài ra,
chính sách tiền tệ sẽ thiếu hiệu quả trong việc làm giảm lãi suất trung dài hạn, đặc
biệt là lãi suất thực. Bernanke & Gertler (1995) còn đề xuất bên cạnh kênh truyền


14

dẫn lãi suất còn có hai kênh truyền dẫn thông qua bảng cân đối tài sản của người đi
vay và khối lượng tín dụng ứng với khả năng cấp tín dụng của tổ chức tài chính, với
kết luận rằng khi chính sách tiền tệ thắt chặt thì nguồn cung tín dụng sẽ giảm kéo
theo sự sụt giảm trong đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế.
Chatelain & Tiomo (2003) sử dụng dữ liệu hơn 6.000 công ty sản xuất của Pháp để
nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đối với hoạt động đầu tư từ năm 1990
đến năm 1999, xác nhận chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến đầu tư của các công
ty. Cụ thể, chính sách tiền tệ thắt chặt làm giảm hoạt động đầu tư của công ty. Tuy
nhiên tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt là có độ trễ và khác nhau giữa các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status