BỘ GIÁO DỤC
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ ĐÀO TẠO
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
Hoàng Minh Ngân
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA HÌNH THÁI PHÔI
NANG VÀ ĐỘT BIẾN NHIỄM SẮC THỂ CỦA PHÔI TRONG
THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội – 2020
BỘ GIÁO DỤC
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ ĐÀO TẠO
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
Tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện
hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã cho phép và tạo điều kiện để
tôi học tập, nâng cao tri thức.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa 16A Hà
Đông, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa khoa 16A, đã tạo điều kiện
cho tôi thực hiện thành công luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Đình Tảo,
Nguyên phó giám đốc Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội – HVQY, TS.
Nguyễn Trung Nam, Viện phó Viện Công nghệ Sinh học – Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, những người thầy trực tiếp, tận tâm hết
lòng hướng dẫn, tạo điều kiện và cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong
suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các Thầy (Cô) trong
Hội đồng chấm luận văn đã đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn
thiện luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu tôi đã được sự hướng
dẫn và giúp đỡ của rất nhiều của thầy cô và bạn bè để hoàn thành đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Tất cả thầy cô giáo, giảng viên và cán bộ nhân viên Học viện Khoa
học và Công nghệ - Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã tạo
điều kiện, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi có lượng kiến thức cơ bản
nhất định để hoàn thành các môn học cũng như đề tài luận văn này.
Tập thể cán bộ, nhân viên Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đa
khoa 16A đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thu thập số
liệu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã
động viên, hỗ trợ tôi về mọi mặt trong cuộc sống, học tập và công tác.
Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2020
Inner Cell Mass/ Khối tế bào nụ phôi
ICSI
Intra Cytoplasmic Sperm Injection/ Tiêm tinh trùng vào
bào tƣơng của noãn
IVF
In Vitro Fertilization/ Thụ tinh trong ống nghiệm
NGS
Next Generation Sequencing/ Giải trình tự gene thế hệ
mới
NST
Nhiễm sắc thể
PGT-A
Preimplantation Genetic Testing for Aneuploidy/ Xét
nghiệm di truyền lệch bội tiền làm tổ
TE
Trophectoderm Epithelium/ Nguyên bào lá nuôi
70
3.7 Mối liên quan giữa độ giãn rộng của khoang phôi với đột biến NST
72
3.8 Mối liên quan giữa hình thái lá nuôi với đột biến NST
74
3.9 Mối liên quan giữa hình thái nụ phôi với đột biến NST
76
3.10 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến số lƣợng NST
78
3.11 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến cấu trúc NST
79
3.12 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến khảm NST
81
3.13 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến NST
83
33
2.1 Các môi trƣờng sử dụng trong trong quá trình nuôi cấy và sinh thiết
41
2.2 Tủ nuôi cấy phôi trigas và tủ 2 khí có chƣơng trình khử nhiệt
42
2.3 Tủ trữ mẫu chuyên dụng
42
2.4 Tủ thao tác vô trùng
42
2.5 Lồng thao tác với trứng và phôi
43
2.6 Tủ cấy 3 khí G210
43
2.7 Kính hiển vi đảo ngƣợc vi thao tác gắn hệ thống laser
43
63
3.3 Hình ảnh của mẫu có bộ NST 45,X
63
3.4 Hình ảnh chất lƣợng phôi nang ngày 5
69
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1Kết quả nuôi cấy phôi nang ngày 5
56
3.2Tỷ lệ xuất hiện đột biến NST của phôi nang ngày 5
59
3.3Tỷ lệ số lƣợng đột biến NST tính trên 1 phôi
60
3.4Đánh giá mức độ giãn rộng khoang phôi
64
3.5Phân bố tuổi mẹ theo đánh giá hình thái phôi
NHIỄM SẮC THỂ Ở PHÔI........................................................................21
1.4.1 Đột biến NST ở phôi......................................................................21
1.4.1.1 Đột biến NST.............................................................................21
1.4.1.2 Đặc điểm một số bệnh di truyền do đột biến số lƣợng NST
thƣờng gặp............................................................................................ 23
1.4.1.3 Các bệnh đột biến cấu trúc NST thƣờng trên phôi....................25
2
1.4.1.4 Phôi thể khảm............................................................................27
1.4.2 Phƣơng pháp phân tích NST ở phôi.............................................. 29
1.5. CÁC PHƢƠNG PHÁP SÀNG LỌC DI TRUYỀN TIỀN LÀM TỔ .. 29
1.5.1 Phƣơng pháp lai huỳnh quang tại chỗ...........................................29
1.5.2 Phƣơng pháp lai so sánh bộ gen.................................................... 30
1.5.3 Phƣơng pháp lai so sánh bộ gen dùng chíp DNA..........................31
1.5.4 Phƣơng pháp phản ứng chuỗi Polymerase.................................... 31
1.5.5 Phƣơng pháp phân tích đa hình đơn nucleotide dùng chíp DNA .. 31
1.5.6 Sàng lọc tiền làm tổ bằng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới....32
1.6. PHƢƠNG PHÁP SINH THIẾT PHÔI NANG................................... 34
1.7. GIÁ TRỊ CỦA SÀNG LỌC ĐỘT BIẾN NST PHÔI TRONG IVF.....35
CHƢƠNG 2. NGUYÊN VẬT LIỆU, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU................................................................................................38
2.1. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.................................... 38
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.......................................................................38
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ......................................................................... 38
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu........................................................................38
2.1.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu......................................................................38
3.2.4 Đánh giá hình thái phôi ngày 5 trong thụ tinh ống nghiệm...........67
3.2.5 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang và tuổi mẹ.......................70
3.2.6 Phân bố tuổi mẹ theo đánh giá hình thái phôi................................71
3.3. ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN HÌNH THÁI VỚI ĐỘT BIẾN NST 72
3.3.1 Mối liên quan giữa độ giãn rộng của khoang phôi với đột biến NST
72
4
3.3.2 Mối liên quan giữa hình thái lá nuôi với đột biến NST.................73
3.3.3 Mối liên quan giữa hình thái nụ phôi với đột biến NST................76
3.3.4 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến số lƣợng NST
78
3.3.5 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến cấu trúc NST
79
3.3.6 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến khảm NST .. 80
3.3.7 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với đột biến NST............83
3.3.8 Mối liên quan giữa hình thái phôi nang với số lƣợng đột biến NST
tính trên một phôi....................................................................................84
3.3.9 Mối liên quan giữa đột biến NST với tuổi mẹ............................... 86
3.3.10 Phân bố tuổi mẹ theo đột biến NST............................................. 88
3.3.11 Nguy cơ có phôi đột biến NST của phụ nữ >35 tuổi...................89
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................91
4.1. KẾT LUẬN..........................................................................................91
4.2. KIẾN NGHỊ.........................................................................................92
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................93
PHỤ LỤC ............................................................................................................
DANH SÁCH BỆNH NHÂN .............................................................................
hƣởng tới tỷ lệ thành công trong thụ tinh ống nghiệm và có thể dẫn tới sảy
thai, thai lƣu và dị tật thai nhi. Vì vậy, nên có phƣơng pháp tìm ra phôi bình
thƣờng và loại đi phôi đột biến trƣớc khi cấy chuyển phôi.
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đƣợc kết hợp với kỹ thuật sinh học phân tử
trong xét nghiệm di truyền tiền làm tổ giúp sàng lọc phôi, đánh giá đột biến
cấu trúc và số lƣợng NST của phôi trƣớc khi chuyển phôi. Phƣơng pháp này
đã đƣợc ứng dụng trong lâm sàng để cải thiện tỷ lệ thành công trong điều trị
vô sinh và áp dụng đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao trong đột biến NST,
6
đặc biệt với những cặp vợ chồng có tiên lƣợng xấu nhƣ tuổi mẹ cao, chuyển
phôi thất bại nhiều lần và sảy thai liên tiếp. Để cải thiện tỷ lệ thành công của
kỹ thuật IVF, giảm tỷ lệ sảy thai, yêu cầu phải sàng lọc đột biến NST trên toàn
bộ bộ NST. Kỹ thuật này không xâm lấn trên ngƣời mẹ, nhanh chóng, giảm
chi phí cũng nhƣ tránh đƣợc các gánh nặng về tinh thần, có thể áp dụng cho
tất cả các bệnh nhân. Gần đây, tổng hợp các kết quả nghiên cứu về xét nghiệm
di truyền lệch bội tiền làm tổ ( PGT-A) cho thấy tỷ lệ chuyển phôi, có thai
tăng lên đáng kể [3].
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến đột biến NST ở phôi
nang. Đồng thời có nhiều hƣớng nghiên cứu nhằm kết hợp sử dụng các đặc
điểm hình thái của phôi nang và xét nghiệm sàng lọc di truyền của phôi với
mục đích lựa chọn phôi tiềm năng nhất sử dụng để chuyển phôi nhằm tăng
hiệu quả của chu kỳ IVF [4]. Tuy nhiên chƣa có nhiều nghiên cứu về mối liên
quan giữa hình thái phôi đến đột biến NST ở phôi nang, vì vậy chúng tôi tiếp
tục nghiên cứu và tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu mối liên quan giữa hình thái phôi nang và đột biến
nhiễm sắc thể của phôi trong thụ tinh ống nghiệm” với mục tiêu:
1. Đánh giá hình thái phôi ngày 5 trong thụ tinh ống nghiệm.
10,5% cũng là tỉ lệ vô sinh trung bình đối với nhóm vô sinh thứ phát ở độ tuổi
này. Trong đó phạm vi dao động đối với tỉ lệ vô sinh thứ phát từ 9,5% đến
11,7%. Đặc biệt, không nhận thấy sự khác biệt về tỉ lệ vô sinh trung bình cả
vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát khi so sánh số liệu giữa kết quả tổng
8
hợp điều tra của năm 2010 và năm 1990. Nhƣ vậy có thể nói đây là kết quả
phản ánh khá trung thực về thực trạng tình hình vô sinh trên thế giới.
Khi so sánh tỉ lệ vô sinh theo nhóm tuổi cho thấy, tỉ lệ vô sinh nguyên
phát ở nhóm dƣới 25 tuổi, nhóm từ 25 đến 29 tuổi, và nhóm từ 30 đến 44 tuổi
lần lƣợt là: 2,7%; 2,0% và 1,6%. Và tỉ lệ vô sinh thứ phát là 2,6% ở nhóm từ
20 - 24 tuổi và 27,1% ở nhóm từ 40 - 44 tuổi [6].
1.1.3 Tình hình vô sinh tại Việt Nam
Mặc dù ngành hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam ra đời sau so với thế giới,
nhƣng tính đến nay trên cả nƣớc đã có trên 35 cơ sở hỗ trợ sinh sản thực hiện
thụ tinh trong ống nghiệm. Theo số liệu khảo sát mới đây của tác giả Nguyễn
Viết Tiến công bố năm 2011, tỷ lệ vô sinh trung bình trên toàn quốc là khoảng
7,7% [1]. Trong đó tỷ lệ vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là
3,8%. Nhƣ vậy, tỉ lệ vô sinh ở Việt Nam theo nhƣ nghiên cứu dịch tễ mới đây
là thấp hơn so với tỉ lệ vô sinh chung của thế giới. Tuy nhiên tỉ lệ vô sinh
nguyên phát tại Việt Nam lại cao hơn, điều này có thể giải thích là do xu thế
và tỉ lệ phụ nữ Việt Nam mong muốn có con sớm hơn so với mặt bằng chung
của thế giới, đặc biệt là những nƣớc phát triển.
Xét về đặc điểm phân bố của nguyên nhân dẫn đến vô sinh cũng có
nhiều nghiên cứu đƣợc các tác giả đƣa ra những kết quả khác nhau. Theo
nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự, thì nguyên nhân gây vô
sinh nam chiếm khoảng 40,8% trong số các trƣờng hợp vô sinh. Trong nghiên
cứu đƣợc thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng tiến hành trên 1000
thành, khối tế bào bên trong gọi là nụ phôi, sẽ phát triển thành thai sau này.
Khối tế bào bên ngoài đƣợc gọi là lá nuôi, sẽ phát triển thành các phần phụ
của thai. Cực có mầm phôi đƣợc gọi là cực phôi, cực kia gọi là cực đối phôi.
Lá nuôi hợp bào ở phía cực phôi bám vào niêm mạc tử cung ngƣời mẹ, từ đó l
m sâu vào bên trong và tự vùi mình vào trong lớp niêm mạc tử cung ngƣời
mẹ [8], [9], [10].
1.2.3 Quá trình phát triển và đánh giá phôi tới giai đoạn ngày 5
trong thụ tinh ống nghiệm
Khoảng 16 giờ sau khi thụ tinh, phôi bình thƣờng có 2 tiền nhân. Ở một
số bệnh nhân, tiền nhân có thể xuất hiện sớm 12 - 14 giờ sau khi thụ tinh hoặc
10
xuất hiện muộn sau 20 - 22 giờ. Sự phân chia đầu tiên xảy ra khoảng 20 - 24
giờ sau khi thụ tinh. Bình thƣờng cứ mỗi 24 giờ, phôi có số lƣợng tế bào phát
triển tăng gấp đôi. Vào ngày thứ 2, phôi phát triển bình thƣờng sẽ có 2 đến 4
tế bào và có khoảng 8 tế bào vào ngày thứ 3. Trong quá trình phát triển phôi
trải qua 3 chu kì phân chia. Thời điểm của 3 chu kì phân chia lần lƣợt là 35,6
giờ; 45,7 giờ và 54,3 giờ sau khi thụ tinh. Số lƣợng tế bào phôi không chẵn có
thể gặp ở phôi phát triển bình thƣờng do tế bào phôi đang trong giai đoạn
phân bào hoặc do sự phân chia của các tế bào phôi không đồng bộ. Cuối ngày
thứ 3 sau khi phát triển thành 8 tế bào (rất ít trƣờng hợp phát triển đến 16 - 32
tế bào) phôi sẽ kết dính và bắt đầu xuất hiện những khoang nhỏ trong phôi
vào cuối ngày thứ tƣ.
Khoảng 120 giờ (ngày thứ 5) sau khi thụ tinh, phôi tiếp tục phân chia,
số lƣợng các phôi bào tăng dần và phát triển thành phôi nang. Phôi nang phát
triển hoàn toàn vào ngày thứ 5. Số lƣợng tế bào ở thời điểm này vào khoảng
50 đến 150 tế bào và bao gồm 2 loại:
- Loại tế bào thứ nhất hình thành đám tế bào nụ phôi (Inner Cell Mass/
lƣợng tốt khi căn cứ vào hình dạng tế bào lá nuôi và nụ phôi. Tác giả đánh giá
nụ phôi thành 3 loại: loại A khi các tế bào nụ phôi nhiều, gắn kết chặt chẽ.
Loại B có một vài tế bào, gắn kết lỏng lẻo. Loại C có rất ít tế bào. Cùng với
đó là tế bào lá nuôi tạo thành một lớp biểu mô gắn kết chặt chẽ. Phôi nang
đƣợc đánh giá dựa vào tiêu chuẩn của Gardner D. K theo thang điểm từ 1 đến
6 phụ thuộc vào độ phát triển rộng của khoang phôi chứa dịch và hiện tƣợng
thoát màng [11].
1.3. HÌNH THÁI PHÔI NANG
1.3.1 Những nghiên cứu về phôi nuôi cấy ngày 5
Mặc dù trƣờng hợp thụ tinh trong ống nghiệm thành công đầu tiên trên
thế giới là từ kết quả chuyển phôi giai đoạn phôi nang (phôi nuôi cấy ngày 5),
nhƣng phần lớn việc chuyển phôi tại hầu hết các trung tâm thụ tinh ống
nghiệm trên thế giới vẫn phổ biến áp dụng chuyển phôi giai đoạn phôi phân
cắt. Dễ hiểu là do việc nuôi cấy phôi kéo dài đến giai đoạn phôi nang còn
nhiều yếu điểm nhƣ: kéo dài thời gian phơi nhiễm của phôi, thao tác phức tạp,
tốn kém và đặc biệt là hiệu quả không cao so với chuyển phôi nuôi cấy ngày 2
hoặc ngày 3.
12
Năm 2010, Kallen B. và cộng sự khi so sánh những chỉ số của trẻ sơ
sinh ở nhóm chuyển phôi nang và chuyển phôi giai đoạn phân cắt, cho thấy có
sự tăng nhẹ các yếu tố nguy cơ khi chuyển phôi giai đoạn phôi nang. Từ đây
đƣa ra khuyến cáo không nên áp dụng chuyển phôi nang cho tất cả trƣờng
hợp thụ tinh trong ống nghiệm [12]. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, cùng
với sự phát triển của hệ thống nuôi cấy phôi hiện đại dựa trên những hiểu biết
đầy đủ về sự phát triển của phôi giai đoạn sau nén đã cho phép kéo dài thời
gian nuôi cấy phôi trong ống nghiệm đến giai đoạn phôi nang. Bên cạnh đó, lý
do mà đa số các nghiên cứu ủng hộ cho việc nuôi cấy phôi kéo dài và chuyển
- Sự phát triển của khoang phôi nang
- Đặc điểm của tế bào lá nuôi (TE - Trophectoderm Epithelium)
- Đặc điểm của nụ phôi (ICM - Inner Cell Mass)
Trong đó, mức độ phát triển của khoang phôi nang đƣợc chia thành 6
điểm. Khi khoang phôi nang phát triển từ độ 3 trở lên, thì có thêm những mô
tả chi tiết về 2 loại tế bào xuất hiện là tế bào lá nuôi (TE) và nụ phôi (ICM).
Theo hệ thống đánh giá này thì lá nuôi và nụ phôi đƣợc chia thành 3 loại dựa
trên số lƣợng và sự gắn kết của các tế bào [11].
1.3.2 Những nghiên cứu về mức độ phát triển của khoang phôi
nang
Sự phát triển của phôi nang đƣợc xác định khi bắt đầu xuất hiện những
khoang chứa dịch của bản thân khối phôi. Lƣợng dịch tiết ngày một nhiều và
tích tụ lại để hình thành một khoang, sau này sẽ phát triển thành khoang phôi
nang. Cùng thời điểm này, khối tế bào trong phôi cũng có những thay đổi
quan trọng, biệt hóa để hình thành 2 loại tế bào, đó là lá nuôi và nụ phôi.
Đồng thời số lƣợng tế bào cũng tăng lên nhanh chóng.
Việc nghiên cứu thời điểm và mức độ phát triển của khoang phôi nang
có vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành công của chuyển phôi nang.
Năm 2013, Van den Abbeel E. và cộng sự, nghiên cứu ảnh hƣởng của
các tiêu chuẩn về hình thái phôi nang đến khả năng tiên lƣợng thành công của
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, cũng nhận thấy có mối tƣơng quan giữa
độ giãn rộng của khoang phôi nang với tỷ lệ có thai sinh sống [14].
Cùng năm 2013, Thompson S. M. và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá
độ giãn rộng của khoang phôi nang có liên quan đến việc tiên lƣợng tỉ lệ thai
14
lâm sàng và thai sinh sống của một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm. Nhƣ
vậy, có thể nói đã có rất nhiều nghiên cứu đánh giá và kết luận vai trò của tốc
phôi có phân loại nụ phôi lần lƣợt là A, B và C có kết quả tƣơng ứng: 46%,
33% và 22% [14].
Irani và cộng sự (2017) khi nghiên cứu 417 phôi, nhóm tác giả chỉ ra
rằng đánh giá hình thái phôi nang và đặc biệt là vai trò của nụ phôi là một yếu
tố dự đoán hữu ích về tỷ lệ có thai trên phôi chuẩn bội. Đánh giá hình thái nên
đƣợc sử dụng để giúp lựa chọn giữa các phôi nang chuẩn bội. Tỷ lệ có thai ở
nhóm phôi ICM A cao hơn đáng kể về mặt thống kê so với ICM loại C
(76,2% so với 13,5%) hoặc loại B (76,2% so với 53,6%) [17].
Mới đây Zhao và cộng sự (2018) khi nghiên cứu trên 914 chu kì chuyển
1 phôi nang để tiến hành đánh giá vai trò độc lập của từng yếu tố ảnh hƣởng
đến việc đánh giá tiên lƣợng tỷ lệ có thai. Kết quả cho thấy vai trò quan trọng
của hình thái nụ phôi trong việc đánh giá tiên lƣợng kết quả tỉ lệ thai sinh
sống. Các phôi nang với ICM độ A cho tỷ lệ có thai lâm sàng và tỷ lệ sinh
sống cao hơn đáng kể so với sử dụng phôi nang với ICM độ C (61,3% so với
25,0% và 50,0% so với 12,5 %) [16].
1.3.4 Những nghiên cứu về hình thái lá nuôi
Lá nuôi là những tế bào có kích thƣớc nhỏ hơn so với tế bào nụ phôi và
nằm bao bọc phía ngoài ngay sát với màng trong suốt. Lá nuôi có thể dễ dàng
phân biệt so với khối tế bào nụ phôi khi phôi nang bắt đầu giãn rộng. Cũng
chính vì lý do này cho nên việc xem xét đánh giá hình thái lá nuôi cũng nhƣ
hình thái nụ phôi chỉ đƣợc đặt ra với những phôi nang có độ giãn rộng từ 3
trở lên (xếp loại theo thang 6 điểm trong hệ thống phân loại chất lƣợng phôi
nang của Gardner D. K năm 1999) [11].
Cho đến nay, những hiểu biết đầy đủ về vai trò của lớp lá nuôi có ảnh
hƣởng nhƣ thế nào đến khả năng phát triển của phôi nang trong giai đoạn sớm
còn chƣa đầy đủ. Về mặt phôi thai học, chúng giữ vai trò quan trọng trong việc
giúp cho phôi làm tổ vào niêm mạc tử cung của mẹ. Đặc biệt là những hiểu biết
gần đây về vai trò của lớp lá nuôi tại cực phôi. Chúng tiết ra một số yếu tố hỗ trợ,
hoạt hóa với niêm mạc tử cung tại vị trí phôi làm tổ. Các tế bào
Hiện tƣợng đột biến NST ở phôi ngƣời trong quá trình điều trị bằng
thụ tinh trong ống nghiệm đã đƣợc nêu ra từ lâu và nhiều nghiên cứu cũng
công nhận hiện tƣợng này xảy ra ở giai đoạn trƣớc khi làm tổ.