ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HOÀNG NGÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIẺM KIỀM SOÁT
ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HOÀNG NGÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA TIÊU ĐIỀM KIÊM SOÁT
ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 62 31 04 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hằng
PGS.TS. Nguyễn Sinh Phúc
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học
Chủ tịch Hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Hoàng Ngân
LỜI CẢM
ƠN
Từ ý tưởng đến một công trình nghiên cứu, luận án này đã được thực hiện
với sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hằng và PGS.TS.
Nguyễn Sinh Phúc. Tất cả sự kính trọng của tôi dành cho Cô và Thầy, những nhà
khoa học đã giúp tôi lựa chọn được những phương thức thực hiện khả thi nhất, cập
nhật các phương pháp xử lý để kết quả nghiên cứu mang tính khách quan, trao đổi
để tôi liên tục xây dựng và thực hiện mọi ý tưởng có thể trong luận án, tính tới thời
điểm này. Những buổi thảo luận cùng cô Nguyễn Thị Minh Hằng mang lại cho tôi
sự dam mê với nghiên cứu. Khi trao đổi với thầy Nguyễn Sinh Phúc, tôi nhận được
nhiều điều, trong đó, bài học lớn nhất mà tôi nhận được là, mọi nghiên cứu đều cần
xét đến tính khả thi. Thầy Cô không chỉ hướng dẫn tôi làm luận án, mà đã hướng
dẫn tôi học cách trở thành một người làm khoa học.
Quá trình đào tạo nghiên cứu sinh đã cho tôi cơ hội được học tập từ
PGS.TS. Phan Thị Mai Hương, PGS.TS. Lê Văn Hảo, GS.TS. Phạm Thành Nghị.
Nghiên cứu này không thể được hình thành nếu không nhận được những ý kiến về
việc trình bày nghiên cứu, mở rộng vấn đề, so sánh văn hóa, giản lược một số chi
tiết để tập trung vào nội dung chính. Nhiều ý tưởng tôi chưa thực hiện được, nhưng
những ý tưởng này đã trờ thành dự định thực hiện tiếp theo.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thầy, những đồng nghiệp của tôi.
GS.TS. Trần Thị Minh Đức đã lắng nghe ý tưởng nghiên cứu của tôi từ
những
các trường thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia vào các lần điều
tra của luận án. Sự nhiệt tình của họ đã tiếp thêm rất nhiều động lực cho tôi.
Sự biết ơn của tôi, xin được dành cho những người bạn thân thiết: Ngọc
Trang, Việt Sơn, Thu Huyền. Tiếng cười và sự hỗ trợ tinh thần trong những thời
điểm khó khăn nhất là nguồn lực giúp tôi hoàn thành luận án này.
Cuối cùng và sâu sắc nhất, sự biết ơn lớn nhất của tôi dành cho bố mẹ của
mình. Những bài học lớn nhất trong cuộc sống, tôi được học cùng bố mẹ.
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Hoàng Ngân
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Ket quả kiểm định xuyên văn hóa mối quan hệ giữa tiêu điểm 18
kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc ở một số quốc gia
thông qua tính cá nhân bình đẳng
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
đến sự hài lòng với cuộc sống
Biểu đồ 4.4: Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát bên ngoài do người 97
khác và giới tính đến bình diện kế hoạch cuộc sống
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại với tiến bộ vượt bậc giúp con người có được cuộc sống tiện
ích, đảm bảo về sự an toàn vật chất, nhưng cũng tiềm ẩn những thay đổi và xung
đột về hệ giá trị. Điều đó khiến cho con người nhìn nhận lại về những trải nghiệm
cuộc sống, sự tương tác xã hội và sự trưởng thành cá nhân của mình. Những câu
hỏi “Tôi có đang hạnh phúc không?”, “Làm thế nào để có được cuộc sống hạnh
phúc?” là những nỗ lực tìm kiếm căn bản của con người từ xa xưa và dần trở thành
mối quan tâm hàng đầu của xã hội hậu hiện đại - xã hội bắt đầu bão hòa với các
tiến bộ công nghệ và quay trở lại hàn gắn những mối quan hệ mang tính nhân bản.
Xuất phát từ nhu cầu lý giải hiện tượng và chăm sóc tinh thần của con người hiện
đại, bắt đầu từ những năm 2000, các nghiên cứu của lĩnh vực tâm lý học tích cực
ngày càng được khai thác nhiều hơn (Noble & McGrath, 2008; Peterson, Park &
Sweeney, 2008). Đây là ngành khoa học của việc nghiên cứu các trải nghiệm tích
cực chủ quan, các đặc điểm cá nhân tích cực và thể chế tích cực hướng tới mục tiêu
nâng cao chất lượng cuộc sống và giúp can thiệp vào một số dạng bệnh tật tinh thần
(Seligman & Csikszentmihalyi, 2000). Lĩnh vực tâm lý học tích cực và tâm lý học
lâm sàng hòa nhập với nhau thông qua nghiên cứu vai trò cảm nhận hạnh phúc chủ
quan của cá nhân trong sức khỏe tinh thần (Leontopoulou, 2012). Nghiên cứu cảm
nhận hạnh phúc chủ quan càng ngày càng có ý nghĩa đặc biệt đối với xã hội dân
chủ mà trong đó, chúng ta mong muốn con người sống với sự thành đạt như bản
thân tự đánh giá, chứ không phải đơn giản là bị đánh giá bởi các tiêu chí chính sách
xã hội (Kulshrestha & Sen, 2006).
1
2
Cuộc sống là một giới hạn thời gian cho phép xảy ra một chuỗi những hành
vi đi tìm ý nghĩa cho bản thân mình và chia sẻ giá trị với những người khác. Cách
sinh viên - những người trẻ tuổi có học thức - đánh giá cảm nhận hạnh phúc liệu có
J Mô tả thực trạng tiêu điểm kiểm soát và về cảm nhận hạnh phúc của
sinh viên
J Chỉ ra mức độ dự báo của biến độc lập (tiêu điểm kiểm soát) đến các
thành tố của biến phụ thuộc (cảm nhận hạnh phúc tâm lý, sự hài lòng
với cuộc sống)
J Tìm hiểu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh
phúc theo các nhóm khách thể với những đặc điềm nhân khẩu khác
nhau
J Tìm hiểu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh
phúc và các thành tố của nó khi có sự tham gia điều tiết của các biến:
stress, cách ứng phó, định hướng giá trị cá nhân, cộng đồng
J Đe xuất ứng dụng một số kết quả của luận án nhằm nâng cao cảm
nhận hạnh phúc của sinh viên.
5. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.7. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án là sinh viên đại học.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
1
5
về khách thể'.
'V Mầu điều tra của luận án là 515 sinh viên đang học tập tại Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Công nghệ,
Đại học Quốc gia Hà Nội
về nội dung'. Luận án giới hạn nghiên cứu thực tiễn ở các nội dung cụ thể:
V Nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh
phúc được giới hạn bởi:
•
(2) Tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc theo các chiều
hướng khác nhau khi có sự tham gia của các biến nhân khẩu.
(3a) Tiêu điểm kiểm soát ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc thông qua sự
điều tiết của stress, cách ứng phó, tính cá nhân, cộng đồng.
(3b) Tiêu điểm kiểm soát điều tiết stress, cách ứng phó, tính cá nhân, cộng
đồng ảnh hưởng lên cảm nhận hạnh phúc.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, nghiên cứu của luận án sử dụng
phối hợp các phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp điều tra bằng thang đo
Phương pháp phỏng vấn (trong nghiên cứu thử nghiệm)
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
9. Đóng góp mói của luận án
về lý thuyết:
J Tổng quan tài liệu điểm luận các xu hướng nghiên cứu về ảnh hưởng
của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc đã có trên thế giới,
chỉ ra khoảng trống của chủ đề này khi nghiên cứu tại Việt Nam.
J Luận án hệ thống hóa các lý thuyết tiếp cận trên thế giới, bổ sung
thêm vào hệ thống nghiên cứu lý luận hiện mới chỉ bước đầu được
nghiên cứu tại Việt Nam đối với hai khái niệm cảm nhận hạnh phúc
và tiêu điểm kiểm soát.
về thực tiễn
J Bước đầu thích ứng một số thang đánh giá có giá trị đối với những
người quan tâm nghiên cứu về chủ đề cảm nhận hạnh phúc, tiêu điểm
kiểm soát.
1
7
về ảnh hưởng của tiêu điểm
soát đến4:cảm
kiểm
hạnh phúc
của sinh
1
8
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN cứu VÈ ẢNH HƯỞNG
CỦA TIÊU ĐIỂM KIỂM SOÁT ĐÉN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC
Từ những năm 1950, các nhà tâm lý học đã tiến hành ngày càng nhiều các
nghiên cứu để cung cấp những bằng chứng khách quan về ảnh hưởng của tiêu điểm
kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc. Đặc biệt, từ sau những năm 1980, khi có những
công cụ đánh giá về cảm nhận hạnh phúc được công nhận rộng rãi, các nghiên cứu
về vấn đề này càng trở nên phong phú. Cảm nhận hạnh phúc được hiểu là trạng thái
hài lòng với cuộc sống, trải nghiệm nhiều cảm xúc tích cực, ít cảm xúc tiêu cực,
phát triển được tiềm năng cá nhân và hài hòa với môi trường xung quanh. Tiêu
điểm kiểm soát là sự quy gán của cá nhân về các kết quả đến với mình. Người quy
gán cho bản thân là người có tiêu điếm kiểm soát bên trong. Người quy gán cho số
phận, may rủi, những người liên quan khác là người có tiêu điểm kiểm soát bên
ngoài.
Chương này sẽ hệ thống hóa hai trục nghiên cứu chính về ảnh hưởng của
tiêu điềm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc, đó là: (1) Những nghiên cứu về khả
năng dự báo của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc; (2) Những nghiên
cứu về cơ chế ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc. Cuối
chương, khoảng trống nghiên cứu sẽ được bàn luận.
1.1.
em lóp 3 đến lớp 6 tại Canada đã được đánh giá về tâm bệnh và cảm nhận hạnh
phúc, sau đó, căn cứ vào điểm trung bình, 407 trẻ này được chia làm bốn nhóm:
nhóm 1: cảm nhận hạnh phúc cao, tâm bệnh thấp; nhóm 2: cảm nhận hạnh phúc
thấp, tâm bệnh cao; nhóm 3: cảm nhận hạnh phúc thấp, tâm bệnh thấp; nhóm 4:
cảm nhận hạnh phúc cao, tâm bệnh cao. Nhóm 2 có điểm tiêu điểm kiểm soát bên
ngoài cao, đi kèm với cảm nhận về giá trị bản thân thấp, tính nhiễu tâm cao. Từ
đây, các tác giả gợi ý hướng can thiệp nâng cao cảm nhận hạnh phúc và giảm tâm
bệnh, đó là nâng cao tiêu điểm kiểm soát bên trong. Các tác giả nhấn mạnh tính
ứng dụng trị liệu của kết quả này trong can thiệp, bởi lẽ thay đổi tiêu điểm kiểm
soát khả thi hơn thay đổi các đặc điểm nhân cách bền vững khác.
Klonowicz (2001) đã đánh giá ảnh hưởng của hai đặc điểm nhân cách là tính
cách phản ứng (reactivity temperament) và tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh
phúc. Người có tính cách phản ứng mạnh là người hướng nội, nhiễu tâm. Người ít
có tính cách phản ứng là người hướng ngoại, cảm xúc ổn định. Nghiên cứu
đượcthực hiện trên 200 người trưởng thành không có việc làm sống tại 7 thành phố
lớn
của Ba Lan, tuổi từ 32 đến 44. Kết quả cho thấy tương quan thuận giữa tiêu điểm
kiểm soát bên ngoài với cảm xúc tiêu cực và triệu chứng cơ thể, tương quan nghịch
giữa tiêu điểm kiểm soát bên ngoài với cảm xúc tích cực. Tác giả gợi ý rằng tiêu
điểm kiểm soát bên ngoài ảnh hường tiêu cực đến cảm nhận hạnh phúc thông qua
việc làm gia tăng các cảm xúc tiêu cực.
Tiêu điểm kiểm soát bên trong là một trong bảy chỉ báo đánh giá chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại Đức theo nghiên cứu của Kirchberger và cộng
sự (2004). Bảy chỉ báo đó là: sự hài lòng, cảm xúc tích cực - tiêu cực, tiêu điểm
kiểm soát, hi vọng, cảm nhận sức sống, các mối quan hệ xã hội, đau đớn thể chất.
Các tác giả nhận định rằng, tiêu điểm kiểm soát có ảnh hưởng quan trọng đến tiến
hiện quyền lợi của mình mà không phủ nhận quyền lợi của người khác, biểu đạt
cảm xúc và suy nghĩ một cách thẳng thắn và trực tiếp.
Griffin và Gore (2014) đã nghiên cứu trên 577 người tốt nghiệp ngành tâm
lý ở Mỹ. Các tác giả nhận định các thành tố cấu trúc của hạnh phúc tâm lý là tự
trọng, căng thẳng, trầm cảm. Tiêu điềm kiểm soát bên trong chỉ dự báo tăng cường
3% tự trọng, 1% trầm cảm; 3% stress, nhưng tiêu điểm kiểm soát bên ngoài lại dự
báo giảm thiểu đến 30% tràm cảm, 26% stress, 30% tự trọng. Điều này có nghĩa là
không phải điểm kiểm soát bên trong cao mà chính là điểm kiểm soát bên ngoài
thấp mới là yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc tâm lý. Trên bình diện lâm sàng, tự
trọng, trầm cảm, căng thẳng là các yếu tố cần xem xét trong quá trình trị liệu khi
mà thân chủ có mức độ kiểm soát bên trong cao, nhưng vẫn trải nghiệm căng thẳng,
trầm cảm, bởi lẽ thân chủ đó có thể có điểm số cho kiểm soát bên ngoài cao.
Shojaee và French (2014) đã tiến hành đánh giá mối quan hệ giữa tiêu điểm
kiểm soát và cảm nhận hạnh phúc trên 172 sinh viên tuổi từ 19 đến 30 người
Canada. Người hạnh phúc và có sự khỏe mạnh tâm lý có cảm nhận bản thân kiểm
soát được tình huống. Vì vậy, họ có thể giảm thiểu các phản ứng cơ thể với căng
thắng như mất tự chủ hay giải phóng các hormone gây stress. Sự tự chủ được giả
định là có khả năng tăng cường hệ thống miễn dịch cũng như sức khỏe tâm lý
(Leotti & cs, 2010, theo Shojaee & French, 2014). Cảm giác về sự tự chủ được bắt
nguồn từ tiêu điểm kiểm soát, nó giúp cho sinh viên đại học nâng cao trạng thái sức
khỏe tâm lý và cảm nhận hạnh phúc. Ket quả nghiên cứu định lượng chỉ ra rằng các
thành tố chỉ báo cảm nhận hạnh phúc nói riêng, cảm nhận hạnh phúc nói chung
cótương quan thuận với tiêu điếm kiểm soát bên trong và tương quan nghịch với
tiêu
điểm kiểm soát bên ngoài.
1.1.1.2. Các nghiên cứu theo lứa tuôỉ
Trong một nghiên cứu về các yếu tố dự báo sự hài lòng với cuộc sống ở
thanh thiếu niên Bồ Đào Nha thuộc thế hệ thứ hai sinh trưởng ở Pháp, do Neto