BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH THUẤN
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
CHI TIÊU GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH
THÀNH THỊ - NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH THUẤN
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
CHI TIÊU GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH
THÀNH THỊ - NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
2.1 Mô hình lý thuyết kinh tế ........................................................................................ 26
2.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm của đề tài ........................................................... 28
2.3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu ........................................................................ 29
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 29
2.3.2 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................... 29
CHƢƠNG 3: TỔNG QUAN SỐ LIỆU VÀ THỰC TRẠNG CHI TIÊU GIÁO
DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH ......................................................................................... 31
3.1 Định nghĩa và thống kê mô tả các biến trong mô hình ........................................... 31
3.1.1 Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình ......................................................................... 31
3.1.2 Đặc điểm của chủ hộ gia đình .............................................................................. 32
3.1.3 Đặc điểm chung của hộ gia đình .......................................................................... 32
3.2 Thống kê mô tả chi tiêu giáo duc bình quân của hộ gia đình theo các biến ........... 35
3.2.1 Theo tổng chi tiêu bình quân hộ gia đình............................................................. 35
3.2.2 Theo giới tính của chủ hộ ............................................................. ……………… 37
3.2.3 Theo nhóm tuổi chủ hộ ........................................................................................ 38
3.2.4 Theo trình độ học vấn của chủ hộ ........................................................................ 40
3.2.5 Theo tình trạng hôn nhân chủ hộ ......................................................................... 41
3.2.6 Theo dân tộc chủ hộ ............................................................................................. 42
3.2.7 Theo quy mô hộ gia đình ..................................................................................... 43
3.2.8 Theo số thành viên học của hộ ............................................................................. 44
3.2.9 Theo khu vực thành thị - nông thôn ..................................................................... 45
3.2.10 Theo khu vực vùng miền.................................................................................... 46
CHƢƠNG 4: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM............................................................. 50
4.1 Mô hình hồi quy ...................................................................................................... 50
4.2 Quy trình hồi quy cho mô hình nghiên cứu ............................................................ 51
4.2.1 Các bước hồi quy ................................................................................................. 51
4.2.2 Đa cộng tuyến ...................................................................................................... 51
4.2.3 Kiểm định phương sai thay đổi ............................................................................ 52
Bảng 1.2 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình..15
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các biến trong mô hình ......................................................... 30
Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình của hộ gia đình nông thôn và
thành thị năm 2010 .................................................................................................... 33
Bảng 3.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình của hộ gia đình nông thôn và
thành thị năm 2012 .................................................................................................... 34
Bảng 3.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình của hộ gia đình cả nước năm 2010
và 2012 ...................................................................................................................... 35
Bảng 3.4a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo 5 nhóm tổng chi tiêu
bình quân của hộ gia đình (2010) ..…………………………………………………36
Bảng 3.4b Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo 5 nhóm tổng chi tiêu
bình quân của hộ gia đình (2012). ............................................................................. 36
Bảng 3.5a Thống kê chi tiêu giáo dục bình quân theo giới tính chủ hộ (2010) ........ 37
Bảng 3.5b Thống kê chi tiêu giáo dục bình quân theo giới tính chủ hộ (2012)........ 37
Bảng 3.6a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo tuổi chủ hộ (2010).. ... 38
Bảng 3.6b Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo tuổi chủ hộ (2012).. ... 38
Bảng 3.7a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo trình độ học vấn của chủ
hộ gia đình (2010) ..................................................................................................... 40
Bảng 3.7b Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo trình độ học vấn của
chủ hộ gia đình (2012) .............................................................................................. 41
Bảng 3.8 Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo tình trạng hôn nhân của
chủ hộ gia đình thành thị (2010). .............................................................................. 41
Bảng 3.9a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo dân tộc của chủ hộ
(2010).. ...................................................................................................................... 42
Bảng 3.9b Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo dân tộc của chủ hộ
(2012) ...................................................................................................................... ..42
Bảng 3.10a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo quy mô hộ (2010) .... 43
Bảng 3.10b Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo quy mô hộ (2012) .... 43
Bảng 3.11a Thống kê mô tả chi tiêu giáo dục bình quân theo số thành viên học của
hộ gia đình (2010) ..................................................................................................... 44
1
CHƢƠNG MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đầu tư vốn con người ở các nước đang phát triển thường được xem là hạn chế so
với các nước phát triển bởi sự hiểu biết vai trò của giáo dục cũng như thu nhập của
hộ gia đình còn thấp. Hầu hết các quốc gia cho rằng thành tựu trong giáo dục là yếu
tố quan trọng quyết định thu nhập trong tương lai ở tầm vi mô và có tác động mạnh
đến tăng trưởng kinh tế.
Những nước đang phát triển như Việt Nam bên cạnh nguồn tài nguyên đang dần cạn
kiệt thì nguồn vốn con người giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự sáng tạo, phát
minh và phát triển kinh tế bền vững. Để vốn con người được hình thành thì các nhà
đầu tư thường sử dụng giáo dục đào tạo là công cụ để tạo kiến thức và kinh nghiệm
trong cuộc sống lao động. Mỗi năm chính phủ thường đầu tư rất lớn vào giáo dục
công và qua bảng 1.1 ta thấy tỷ lệ chi tiêu giáo dục công trên GDP của Việt Nam
khá cao và năm 2010 tỷ lệ này cao hơn cả Hoa Kỳ, ngoài ra năm 2011 các nước
OECD có trung bình tỷ lệ chi tiêu giáo dục công trên tổng chi tiêu công là 12,9%
(OECD, 2014) trong khi ở Việt Nam thì tỷ lệ này là 12,62% (Tổng cục thống kê
Việt Nam, 2014) nên cho thấy phát triển giáo dục là chính sách quan trọng hàng đầu
của chính phủ nhằm nâng cao chất lượng vốn con người để cạnh tranh với quốc tế
cũng như nhằm tăng thu nhập tương lai cho người dân, tuy nhiên để chính sách phát
huy hiệu quả cần phải có sự tham gia tích cực của hộ gia đình cho đầu tư giáo dục
trẻ trên các vùng của cả nước.
Thực trạng nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại
một số nơi ở nông thôn lẫn thành thị dẫn đến sự chêch lệch trong cách tiếp cận giáo
dục cả về số lượng lẫn chất lượng của mỗi cá nhân nên đầu tư giáo dục của hộ gia
đình cũng có sự khác biệt, hơn nữa những bất cập hiện nay trong hệ thống giáo dục
2,28
2,77
Indonesia
2,90
2,99
Hong kong
3,26
3,51
Malaysia
3,96
5,12
Singapore
2,81
3,17
Thái Lan
đồng thời các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau:
-
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình nông thôn
và thành thị năm 2010 và 2012 ?
3
-
Độ co giãn của chi tiêu giáo dục theo tổng chi tiêu hộ gia đình nông thôn và
thành thị như thế nào ?
-
Mức độ khác biệt của các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục giữa hộ gia
đình nông thôn và thành thị ra sao?
-
Sự chêch lệch và tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo
dục của hộ gia đình trong từng khu vực sinh sống như thế nào?
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ gia đình Việt Nam có chi tiêu giáo dục
định, phân tích hồi quy, sau đó là kết quả giải thích mô hình hồi quy theo các hệ số
ước lượng và hệ số hồi quy chuẩn hóa. Chương 5 tiến hành kết luận những kết quả
đã đạt được cũng như đưa ra các chính sách kiến nghị từ kết quả đồng thời nhận xét
các mặt còn hạn chế, các hướng nghiên cứu mới có liên quan trong tương lai.
5
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
Chương 1 trình bày các lý thuyết có liên quan đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình
như lý thuyết vốn con người, mô hình đầu tư giáo dục của cha mẹ cho trẻ em, vai
trò của giáo dục. Các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài nghiên cứu cũng được nêu lên cùng với khung phân tích cho
mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và các biến độc lập trong mô hình như tổng chi
tiêu của hộ gia đình, giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ, tình
trạng hôn nhân của chủ hộ, dân tộc của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, số thành viên
theo học của hộ, khu vực sinh sống thành thị - nông thôn và khu vực theo vùng
miền địa lý của hộ, sau cùng là sơ đồ cho khung phân tích để mô tả mối quan hệ tác
động và nhận xét mặt tích cực của khung phân tích so với các nghiên cứu trước.
1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Các khái niệm
Theo hệ thống tài khoản quốc gia 1993 (System of National Accounts 1993 - SNA)
thì hộ gia đình là một nhóm người nhỏ cùng chia sẽ chổ ở sinh hoạt, cùng chung
một số vốn góp hoặc tất cả thu nhập và của cải, họ là những người cùng tiêu thụ
một số loại hàng hóa và dịch vụ chung mà chủ yếu là nhà ở và thực phẩm.
Chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ được định nghĩa là giá trị số tiền mà người mua
phải trả hoặc đồng ý trả tiền cho người bán hàng để đổi lấy hàng hóa hay dịch vụ
hoặc cho các đơn vị tổ chức khác (SNA 1993). Bên cạnh theo OECD (2014) chi
tiêu hộ gia đình là số tiền chi tiêu tiêu dùng cuối cùng được thực hiện bởi các thành
viên thường trú của hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ, chẳng hạn
liên quan đến chi phí và lợi ích đầu tư thì các quyết định vẫn được phân tích theo
kinh tế tư nhân và kinh tế công cộng (Mincer, J., 1981).
Hành vi quyết định chi tiêu của hộ gia đình
Hành vi tiêu dùng của hộ gia đình phần lớn bắt nguồn từ quyết định mua hàng của
hộ gia đình, theo đó quyết định này được thực hiện từ một hay một số cá nhân hoặc
tất cả thành viên của hộ (Sheth, J. N., 1974). Hộ gia đình sẽ dùng phần thu nhập có
được để chi tiêu cho một số hàng hóa nhằm tối đa hóa hữu dụng, trong đó giáo dục
được xem là hàng hóa tiêu dùng trong hiện tại và tương lai nên chi tiêu giáo dục
7
được hộ gia đình xem xét là kênh đầu tư cho tương lai trẻ. Một trong các phương
pháp đo lường cho phân tích chi phí và lợi ích của giáo dục là số tiền tiêu dùng cho
giáo dục, trong đó chi phí giáo dục của tư nhân bao gồm chi phí trực tiếp cho sách
vỡ, học phí…và chi phí gián tiếp như thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học, bên
cạnh là lợi ích có được ở hiện tại và tương lai từ giáo dục mang lại. Như vậy chi
tiêu giáo dục của hộ gia đình là một trong những hình thức tiêu dùng và đầu tư của
hộ thông qua sự cân nhắc có hay không và đến mức độ nào trong tổng số tiền chi
tiêu giáo dục nhằm thỏa mãn hữu dụng tối đa.
1.1.2 Đầu tƣ vốn con ngƣời
Mô hình đầu tƣ vốn con ngƣời của cha mẹ cho trẻ
Theo Yueh (2001) cuộc sống của mỗi cá nhân trãi qua 3 giai đoạn, giai đoạn đầu là
một đứa trẻ, sau là một người trưởng thành đã có con và cuối cùng là một người già
nghĩ hưu đã có cháu. Cụ thể, giai đoạn đầu tiên lợi ích mang lại cho cá nhân là sự
đầu tư giáo dục của cha mẹ, giai đoạn thứ hai, lúc này cá nhân là cha mẹ có khả
năng làm việc tạo thu nhập, khi đó một phần thu nhập được phân phối trở lại cha mẹ
họ và một phần đầu tư giáo dục cho con của họ. Giai đoạn thứ 3, họ là những người
về hưu, thu nhập của họ có được từ lợi nhuận của tài sản được tích lũy ở giai đoạn 2
và một phần thu nhập được phân phối lại từ con của họ.
vốn con người của trẻ dưới sự hạn chế tín dụng thì nhất thiết đòi hỏi hộ gia đình
phải bỏ qua một số tiêu dùng để đầu tư giáo dục cho trẻ. Để vốn con người được
đầu tư một cách tối ưu thì nhu cầu đặt ra không chỉ quan tâm đến năng lực con
người và tài chính của hộ gia đình mà còn chú ý đến việc tận dụng tiềm năng tích
lũy vốn, theo đó những kỳ vọng tương lai của hộ gia đình và hoạt động cá nhân là
các yếu tố quyết định đến mức độ, hình thức đầu tư vốn con người (Mincer, J. and
Polachek, S., 1974).
Giáo dục được xem là công cụ tích lũy vốn con người, nên các khoản đầu tư vốn
con người ban đầu cho giáo dục là các khoản chi phí trực tiếp khi học và thu nhập bị
bỏ qua trong quá trình học (Schultz, T.W., 1961; Becker, G.S. 1975). Ehrenberg and
Smith (2011) cho rằng đầu tư vốn con người đòi hỏi có sự phát sinh chi phí trong
ngắn hạn và được kỳ vọng sẽ thu lợi ích cao hơn trong tương lai, theo đó chi phí bổ
sung vốn con người được chia thành 3 loại: (1) chi phí trực tiếp gồm chi phí nhập
9
học, chi phí sách vỡ và chi phí khác; (2) thu nhập bị bỏ qua khi được giáo dục; và
(3) tổn thất về tinh thần trong quá trình học tập, theo đó Mincer, J. (1981) cho biết
thu nhập bị bỏ qua trong quá trình đầu tư vốn con người cao hơn chi phí trực tiếp
cho giáo dục, đồng thời vốn con người cũng như vốn vật chất khác vì khi có được
lợi nhuận sẽ kích thích đầu tư thông qua gia tăng nhu cầu giáo dục nhưng khi thua
lỗ sẽ kết thúc nhu cầu này, hơn nữa đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục
cho mỗi cá nhân có các hạng mục theo chu kỳ thời gian khác nhau bao gồm nguồn
lực giành cho trẻ và sự phát triển trẻ thông qua các khoản chi tiêu trước khi trẻ đến
trường, kế đến là đầu tư giáo dục chính thức cũng như đầu tư vào thị trường lao
động sau giáo dục để lựa chọn việc làm cùng với các hoạt động đầu tư cho sức khỏe
nhằm duy trì nguồn vốn con người trong suốt quá trình lao động.
Schultz, T.W. (1961) cho rằng kiến thức và kỹ năng chiếm phần lớn trong đầu tư
vốn con người và sự khác biệt trong thu nhập có quan hệ mạnh với sự chêch lệch về
Tầm quan trọng về vai trò tích cực của vốn con người luôn được khẳng định nên
hầu hết các hộ gia đình đều đầu tư vào vốn con người thông qua đào tạo giáo dục
cho trẻ, bởi giáo dục được xem là hàng hóa công cộng cũng như là hàng hóa khuyến
dụng mà mọi người cần được tiêu dùng bất kể thu nhập như thế nào. Trong thời đại
hội nhập quốc tế như hiện nay giáo dục được hầu hết các nước công nhận là một
nhu cầu cơ bản cho các chính sách phát triển nguồn nhân lực và kinh tế của mỗi
nước. Vai trò quan trọng của giáo dục trong mối quan hệ giảm nghèo, tăng thu nhập
cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn,
ngoài ra giáo dục cũng ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng
của con người hay nâng cao ý thức cải thiện tốc độ tăng dân số và giảm tỷ lệ tội
phạm, theo đó giáo dục cũng được xem là một trong những công cụ hiệu quả cho
xóa đói giảm nghèo, tiến bộ xã hội và nâng cao vị thế của con người, quan trọng
hơn, nó còn góp phần phân bổ lại nguồn nhân lực, cải thiện công bằng cũng như
giảm bất bình đẳng trong giáo dục (Tilak, 2009).
1.2 Nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu của Mauldin, T. et al. (2001) với dữ liệu của khảo sát chi tiêu tiêu dùng
1996 được thực hiện từ Cục điều tra Dân số Hoa Kỳ có quy mô mẫu 1158 hô gia
11
đình gồm 331 hộ có chi tiêu giáo dục và 827 hộ không có chi tiêu giáo dục cho trẻ
cấp tiểu học và trung học. Nghiên cứu sử dụng mô hình double - hurdle gồm mô
hình hồi quy probit ban đầu để ước lượng xác suất quyết định tham gia chi tiêu giáo
dục của hộ gia đình, sau đó hồi quy biến bị chặn (Truncated regression) cũng được
thực hiện cho ước lượng quyết định phân bổ mức chi tiêu này. Kết quả cho thấy thu
nhập sau thuế của hộ gia đình có mối quan hệ đến xác suất quyết định tham gia chi
tiêu giáo dục và sự phân bổ chi tiêu này, nghĩa là những hộ có thu nhập sau thuế cao
hơn thì xác suất tham gia và mức chi tiêu cho giáo dục trẻ cũng cao hơn so với hộ
có mức thu nhập sau thuế thấp. Trình độ học vấn và tuổi của cha mẹ cũng có mối
với chủ hộ là nam, trong khi quy mô hộ gia đình có tác động dương đến ngân sách
cho giáo dục và có thể được hiểu khi hộ gia đình có quy mô lớn thì khả năng có
nhiều con trong độ tuổi đi học sẽ cao hơn nên đây là lý do hộ gia đình giành phần
ngân sách lớn hơn cho chi tiêu giáo dục so với hộ gia đình có quy mô nhỏ. Chủ hộ
có học vấn với hơn 10 năm đi học sẽ có ngân sách chi tiêu giáo dục cao hơn so với
các trường hợp khác và nghề nghiệp của chủ hộ có tác động đến thu nhập nên
những chủ hộ có nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, quản lý
có ngân sách chi tiêu cao hơn cho giáo dục so với chủ hộ làm nông nghiệp hoặc làm
thuê. Những gia đình có chủ hộ đang còn trong mối quan hệ hôn nhân vợ chồng sẽ
có ngân sách chi tiêu giáo dục cao hơn những chủ hộ còn độc thân, trong khi những
hộ sinh sống ở thành thị cũng có ngân sách chi tiêu lớn hơn hộ sống ở nông thôn.
Nghiên cứu của Qian, X. and Smyth, R. (2008) với dữ liệu từ cuộc khảo sát của
công ty nghiên cứu maketing China Mainland năm 2003 được thu thập từ 10793
người trả lời cho 206 câu hỏi thông qua 32 thành phố của Trung Quốc. Kết quả cho
thấy thu nhập của hộ có tác động dương đến chi tiêu giáo dục của hộ, thêm vào đó
trình độ học vấn của cha mẹ càng cao thì ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục càng
nhiều, tuy nhiên học vấn của cha lại không có ý nghĩa thống kê và học vấn của mẹ
có ý nghĩa thống kê với bằng cấp trung học phổ thông, đại học và trên đại học.
Nghề nghiệp của cha và mẹ có chuyên môn cao thì mức chi tiêu giáo dục cao hơn
so với các trường hợp khác, trong khi số trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học và
trung học có tác động dương đến chi tiêu giáo dục với mức ý nghĩa thống kê 1%, và
số trẻ trong độ tuổi đại học có tác động âm đến mức chi tiêu này nhưng không có ý
13
nghĩa thống kê, hơn nữa tình trạng cha mẹ độc thân cũng có mức chi tiêu giáo dục
thấp hơn so với hộ gia đình có cả cha lẫn mẹ.
Nghiên cứu của Donkoh and Amikuzuno (2011) với quy mô mẫu 3941 hộ gia
đình được lấy từ khảo sát mức sống ở Ghana vòng 5 do Dịch vụ thống kê Ghana và
ảnh hưởng lớn bởi thu nhập hộ gia đình và mức chi tiêu này tăng theo thu nhập của
hộ, hơn nữa chi tiêu giáo dục dạy kèm ở cấp tiểu học và trung học cũng tăng hơn so
với các cấp học khác. Những hộ gia đình có trẻ đi học từ 13-30 tuổi có mức chi giáo
dục cao hơn so với nhóm tuổi 0-5 tuổi. Trong khi tuổi chủ hộ từ 30 tuổi trở lên có
xu hướng chi tiêu giáo dục cao hơn nhóm chủ hộ có tuổi từ 30 trở xuống. Thêm vào
đó học vấn chủ hộ có tác động dương đến chi tiêu giáo dục, lúc này học vấn chủ hộ
có cấp học càng cao thì chi tiêu giáo dục càng lớn đối với chủ hộ có các cấp học
thấp. Hơn nữa, những hộ gia đình sống ở khu vực thành thị có ảnh hưởng đến chi
tiêu giáo dục lớn hơn những hộ sống ở nông thôn. Cuối cùng các đặc trưng khác của
chủ hộ như giới tính, nghề nghiệp có tác động không có ý nghĩa thống kê đến chi
tiêu giáo dục.
Theo nghiên cứu của Sulaiman, N. et al. (2012) về chi tiêu giáo dục của 3309 hộ
gia đình trên 10 bang của Malaysia, kết quả ước lượng OLS cho thấy logarit tự
nhiên thu nhập hàng tháng của hộ gia đình có tác động dương đến chi tiêu giáo dục
hàng tháng của hộ. Tuổi và tuổi bình phương của chủ hộ cũng tác động dương đến
mức chi tiêu này, chứng tỏ biến tuổi của chủ hộ có tác động tuyến tính đến biến phụ
thuộc, tuy nhiên, kết quả cụ thể cho thấy tuổi của người mẹ có tác động ngược chiều
đến chi tiêu giáo dục. Phân tích cũng cho thấy nếu nghề nghiệp của chủ hộ trong
khu vực tư nhân sẽ có mức chi tiêu giáo dục cao hơn so với chủ hộ có nghề nghiệp
trong khu vực công và số trẻ em cũng tác động dương đến mức chi tiêu này. Cuối
cùng, với mức ý nghĩa thống kê 5% thì trình độ học vấn của chủ hộ không tác động
đến chi tiêu giáo dục.
Theo Rojas Villamil (2012) cho nghiên cứu phân tích của 3013 hộ gia đình có
chi tiêu giáo dục bình quân cơ bản cho trẻ em dưới 14 tuổi và dữ liệu được lấy từ
khảo sát hộ gia đình quốc gia với sự thực hiện của Cục thống kê quốc gia Colombia
năm 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì
mức độ chi tiêu giáo dục bình quân càng cao, trong khi quy mô hộ gia đình có tác
15
hô gia đình gồm 331 hộ có nhập sau thuế của hộ, trình độ
chi tiêu giáo dục và 827 hộ học vấn và tuổi của cha mẹ, khu
không có chi tiêu giáo dục vực sinh sống thành thị và nông
cho trẻ cấp tiểu học và thôn của hộ gia đình.
trung học được lấy từ khảo
sát chi tiêu tiêu dùng của