BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------
NGUYỄN THỊ LIÊN
GIA TĂNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM ĐỒNG THEO
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2008
1
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Trang
Lời mở đầu ………………………………………………………………………………………………………………………………1
CHƯƠNG I: NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - NHÂN TỐ CÓ TÍNH QUYẾT
ĐỊNH CHO ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ……………………………………….……………………...…2
1.1 Tổng quan về nguồn lực tài chính …………………………………………………………………………..3
1.1.1 Khái niệm, thành phần nguồn lực tài chính ……………………………………………………3
1.1.2 Các nguồn lực tài chính …………………………………………………………………………..………………5
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế ………………………………………………….….……………..43
CHƯƠNG III: GIA TĂNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2006 -2010,ĐỊNH
HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 …………………………………………………………………………….………………..47
3.1 Đònh hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Lâm Đồng từ nay đến 2010,
tầm nhìn đến năm 2020 …………………………………………………………….………………………………...…47
3.1.1 Phương hướng chung …………………………………………………….……………………………………..47
3.1.2 Các quan điểm phát triển ………………………………………………………..……………………...51
3.2 Các chỉ tiêu kế họach chủ yếu thời kỳ 2006 – 2010 ……………..……………………52
3.2.1 Về kinh tế ………………………………………………………………………………………..……………………...52
3.2.2 Về xã hội ………………………………………………………………………………..…………………………………52
3.3 Mục tiêu về huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ……………………………..53
3
3.3.1 Huy động nguồn lực tài chính trong và ngoài nước……………………….……...…53
3.3.2 Sử dụng hợp lý vốn ngân sách nhà nước ……………………………………………………...54
3.3.3 Cơ chế và chính sách tài chính …………………………………………………………………..……..54
3.3.4 Mục tiêu đầu tư nhằm chuyển dòch cơ cấu kinh tế ……………………….……...…55
3.4 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển tại tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2006-2010, đònh hướng đến năm 2020 ……………………………………………………………….……...57
3.4.1 Vốn dài hạn để đầu tư chiều sâu phát triển các doanh nghiệp…….…….60
3.4.2 Vốn xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội………………………………………….……64
3.5 Gia tăng nguồn lực tài chính cho đầu tư và phát triển tại Tỉnh Lâm
Đồng giai đoạn 2006-2010, đònh hướng đến năm 2020 ……………………..………………..64
3.5.1 Giải pháp về vốn đầu tư nước ngoài ……………………………………………..………..……..64
3.5.2 Huy động nguồn lực tài chính của các DN đầu tư chiều sâu, đổi mới
công nghệ, thiết bò tiên tiến ………………………………………………………………..…….………………….65
3.5.3 Gia tăng nguồn vốn thu hút từ nhà đầu tư trong và ngoài nước vào
: dự án đầu tư.
- DN
: doanh nghiệp.
- DNNN
: doanh nghiệp nhà nước.
- DTTN
: diện tích đất tự nhiên.
- ĐTMH
: đầu tư mạo hiểm.
- FDI
: đầu tư trực tiếp nước ngòai.
- GDP
: tổng sản phẩm nội đòa.
- GPĐT
: giấy phép đầu tư.
: quản lý dự án.
- SXKD
: sản xuất, kinh doanh.
- TNHH
: trách nhiệm hữu hạn.
- TTCK
: Thị trường Chứng khốn.
- TW
: trung ương.
- UBND
: ủy ban nhân dân.
- VMH
: vốn mạo hiểm.
- WB
: ngân hàng thế giới.
Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững thì
trước hết phải đảm bảo đủ nhu cầu về vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội và
vốn đầu tư phát triển con người. Đồng thời muốn có vốn đầu tư lớn và dài hạn
đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm trong nước cũng như tăng cường thu hút vốn đầu
tư nước ngoài.
Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng tăng, trong khi khả năng
đáp ứng của NSNN thì có giới hạn; do vậy, nếu chỉ chú trọng đến nguồn vốn
đầu tư từ NSNN mà không có cơ chế, chính sách, giải pháp để huy động các
nguồn lực tài chính khác từ khu vực các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính
trung gian, khu vực dân cư cho đầu tư phát triển thì không thể đáp ứng được
vốn cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong thời gian gần đây, với những thành công trên nhiều lónh vực,
chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại trong năm 2006 đó là Việt Nam gia nhập tổ
chức WTO và tổ chức thành công Hội Nghò APEC 14, môi trường đầu tư của
Việt Nam ngày càng hấp dẫn và thuận lợi hơn so với các nước trong khu vực
nhờ sự ổn đònh của các yếu tố kinh tế chính trò, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn
ổn đònh và tăng qua các năm. Hoạt động kinh tế đã có nhiều đổi mới, cùng với
nhiều cải cách trong lónh vực tài chính. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho đầu
tư phát triển của nhà nước, của các tổ chức kinh tế-xã hội vẫn còn nhiều khó
khăn, phức tạp, do thiếu nhiều yếu tố quan trọng như thiếu các công cụ tài
chính hấp dẫn người đầu tư, thiếu những tổ chức tài chính trung gian để thu hút
vốn, thiếu thò trường để hoạt động mua và bán vốn, hệ thống pháp lý chưa
được đồng bộ…, nhà nước cần phải nhanh chóng hoàn chỉnh cơ chế, chính sách
và các giải pháp huy động các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi để đưa vốn
vào hoạt động, góp phần thực hiện chiến lược vốn có hiệu quả.
7
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi chọn đề tài “GIA TĂNG NGUỒN LỰC
CHƯƠNG I
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH - NHÂN TỐ CÓ TÍNH QUYẾT ĐỊNH
CHO ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Tổng quan về nguồn lực tài chính:
1.1.1 Khái niệm, thành phần nguồn lực tài chính:
Nguồn lực tài chính là một thành phần quan trọng của nguồn sức mạnh
nhà nước có tác động chủ đạo trong trong toàn bộ sức mạnh của nhà nước.
Nguồn tài chính thường được thể hiện dưới hình thức giá trò, số lượng của
nguồn lực tài chính được thể hiện bằng tiền tệ, sự luân chuyển của nguồn lực
này cũng được thể hiện bằng tiền tệ, phần tài chính được gọi là vốn tài chính.
Nguồn lực tài chính là toàn bộ quá trình tạo ra tài chính được thể hiện dưới
hình thức giá trò.
Theo “kinh tế các nguồn lực tài chính” [8], nguồn lực tài chính có thể
phân chia ra làm các loại như sau:
- Nguồn lực tài chính từ nền kinh tế nhà nước: Đó là toàn bộ nguồn lực tài
chính trong NS của chính quyền các cấp thuộc hệ thống chính quyền nhà nước,
bao gồm: NS xã, (phường, thò trấn), là nguồn lực tài chính cơ bản để nhà nước
thực hiện chức năng của mình. Nguồn lực này có tác động chủ đạo trong hoạt
động kinh tế quốc dân. Bắt nguồn từ sự phân phối và phân phối lại thu nhập
quốc dân. Có nghóa là đem một phần giá trò sản phẩm thặng dư chuyển vào thu
nhập tài chính nhà nước dưới hình thức : thuế, phí, lệ phí và các phương thức
khác. Nguồn lực tài chính này chủ yếu đầu tư cho các công trình trọng điểm
của nhà nước và các khoản chi phí về hành chính, quốc phòng, ngoại giao, chi
tiêu quân sự,ï văn hóa, giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, … đó là nguồn lực tài
chính để nhà nước tiến hành hoạt động, thực hiện chức năng nhà nước.
9
tài chính tài chính toàn xã hội là mục tiêu cuối cùng và yêu cầu cao nhất để
tăng thêm sức mạnh của nhà nước.
- Nguồn tổng lực tài chính kết hợp giữa hai nguồn lực tài chính trong nước
và ngoài nước: là nguồn lực tài chính kết hợp giữa hai nguồn tài chính trong
nước và ngoài nước, tức là cộng lại những nguồn tài chính thu được từ nước
ngoài dưới các hình thức khác nhau, kể các nguồn tài chính vay nước ngoài,
gọi là vốn vay nước ngoài, liên doanh với các hình thức hợp tác quốc tế về
buôn bán, tài chính ngân hàng. Bao gồm cả cả nguồn tài chính thu được của
nước ngoài bằng các biện pháp hoặc các hoạt động chính trò, quân sự, kinh tế
văn hoá và các cuộc viếng thăm quốc tế khác. Nguồn lực tài chính này cũng
chỉ được xem như là biện pháp hỗ trợ tạm thời vì nó không ổn đònh và mang
tính lệ thuộc vào nước ngoài rất lớn, mặt khác nguồn vốn vay chẳng qua chỉ là
khoản được chi trước về nguồn lực tài chính của thời kì sau, nên không thể sử
dụng như nguồn lực tài chính chủ yếu được.
Qua phân tích về năm loại nguồn lực tài chính trên cho thấy: nguồn lực
tài chính có tính chất tài chính là chủ đạo, nguồn lực có tính chất tài chính và
nguồn lực tài chính có tính chất ngân hàng là tổng thể nguồn lực tài chính mà
nhà nước vẫn sử dụng thường xuyên. Còn nguồn tổng lực toàn xã hội là nguồn
lực tài chính có tính chất căn bản, nó liên quan đến sự hưng thònh hoặc suy
vong của nhà nước. Việc phân loại các nguồn lực tài chính như vậy cũng đã
trực tiếp cho thấy rõ cơ cấu và sự phát triển của nguồn lực tài chính cũnh như
cơ cấu và mối quan hệ lẫn nhau của nguồn lực tài chính.
1.1.2 Các nguồn lực tài chính:
- Nguồn vốn từ NSNN : nước ta là một nước nông nghiệp, nên vốn từ NS cần
đầu tư mạnh vào lónh vực sản xuất nông nghiệp, tạo giống cây trồng và vật
nuôi theo từng vùng kinh tế nhằm chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng ; đầu
tư vào thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, phòng chống bão lụt … tích lũy từ sản xuất
11
12
trong và ngoài nước; đầu tư cải tạo chất lượng y tế, giáo dục, đầu tư thực hiện
các mục tiêu về kinh tế-xã hội như: môi trường, việc làm… đầu tư các trương
trình nghiên cứu tổng hợp nhằm tạo điều kiện khuyến kích đầu tư trong và
ngoài nước.
Việc phân phối đầu tư đúng yêu cầu, lónh vực, ngành… và phân phối hài
hòa, hợp lý giữa các phương thức đầu tư, mới chỉ đáp ứng một phần trong chiến
lược đầu tư, phần quan trọng, kết quả cuối cùng của việc đầu tư là hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư.Việc sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả sẽ tác động trở lại trong
việc thu hút vốn đầu tư. Nhằm đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả
thì việc đầu tư tránh hiện tượng chạy theo lợi nhuận của các dự án, không xét
trên phương diện tổng thể của một quốc gia, một vùng và một đòa phương, điều
nay dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế đất nước. Và đặc biệt quan trọng trong sử
dụng vốn đầu tư đảm bảo có hiệu quả là tránh lãng phí, tham ô, thất thoát
trong đầu tư và xây dựng.
1.2 Vốn đầu tư phát triển.
Khác với các yếu tố tài nguyên và lao động, các loại tài sản như máy
móc, thiết bò, nhà xưởng và các loại nguyên vật liệu bán thành phẩm dùng cho
sản xuất mặc dù cũng là những yếu tố đầu vào cần cho quá trình sản xuất ,
song bản thân chúng lại là kết quả đầu ra của quá trình sản xuất trước đó. Nói
một cách khác, đó là những tài sản được sản xuất ra để nhằm sản xuất ra các
loại hàng hoá khác, được gọi là tài sản sản xuất.
Để có được các tài sản sản xuất đó, cần phải tiến hành các hoạt động
đầu tư đối với các loại tài sản như nguyên vật liệu, bán thành phẩm, … thì hoạt
động đầu tư đơn giản chỉ việc bỏ tiền ra để mua sắm chúng. Để tạo ra các tài
sản như máy móc, thiết bò, hay chuyền sản xuất hay cả một nhà máy … thì hoạt
động đầu là một quá trình lâu dài và phức tạp hơn, đặc biệt là những nhà máy,
công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, công nghệ hiện đại.Toàn bộ số
14
Môi trường đầu tư là vấn đề cốt lõi cho phát triển bền vững: Một
môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo cơ hội và động lực cho DN – từ các DN nhỏ
cho đến các công ty đa quốc gia – đầu tư có hiệu quả, tạo công ăn việc làm, và
mở rộng hoạt động. Vì thế nó đóng góp vai trò trung tâm đối với tăng trưởng
và xóa đói giảm nghèo. Tạo việc làm và cơ hội cho giới trẻ là điều thiết yếu
để tạo ra một thế giới gắn bó, cân bằng và hoà bình hơn.
Các DN tư nhân - từ nông dân và các DN nhỏ cho đến các công ty đòa
phương và đa quốc gia - đứng ở vò trí trung tâm của quá trình phát triển. Được
động cơ tìm kiếm lợi thuận đònh hướng, chúng đầu tư vào những ý tưởng mới
và cơ sở vật chất mới, nhằm tăng cường nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế và
thònh vượng. Chúng tạo ra nhiều việc làm, mở ra cơ hội để phát huy tài năng
và nâng cao vò thế của mình. Chúng cung cấp những hàng hoá và dòch vụ cấn
thiết để duy trì cuộc sống và cải thiện mức sống. Chúng cũng là nguồn thu thuế
chủ yếu, đóng góp vào công quỹ cho y tế, giáo dục và các dòch vụ khác. Vì
thế, DN là tác nhân trọng yếu trong công cuộc tăng trưởng và giảm đói nghèo.
Sự đóng góp của DN cho xã hội chủ yếu do MTĐT quyết đònh - các yếu
tố đặc thù đòa phương sẽ đònh hình cơ hội và động lực để các DN đầu tư có
hiệu quả, tạo công ăn việc làm và mở rộng hoạt động. Hành vi của nhà nước
đóng vai trò chủ chốt trong việc đònh hình MTĐT. Mặc dù nhà nước có rất ít
ảnh hưởng đến các yếu tố như điều kiện đòa lý, nhưng lại có ảnh hưởng mang
tính quyết đònh hơn nhiều đến mức độ đảm bảo các quyền về tài sản, các
phương thức điều tiết và đánh thuế (cả thuế tại cửa khẩu lẫn trong nội đòa),
cung cấp CSHT, sự vận hành của thò trường lao động, tài chính là vấn đề có
tính chất khái quát hơn công tác quản trò như chống tham nhũng, cải thiện
những chính sách và hành vi của nhà nước liên quan đến đòa hình MTĐT sẽ
thúc đẩy tăng trưởng và giảm đói nghèo.
được đảm bảo bằng mục đích sinh lời. Vốn vừa là nhân tố đầu vào, đồng thời
16
vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình đầu tư. Vốn tồn tại với
tư cách là nhân tố độc lập không thể thiếu được. Vốn khi được đầu tư không
thể mất đi mà phải được thu hồi về để đáp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau, vốn
luôn được bảo toàn và phát triển.
Đối với nền kinh tế: Ảnh hưởng khác nhau của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế
thông qua tổng cung thể hiện ở chỗ là: vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá
trình sản xuất. Vốn được kết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá
trình sản xuất, sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Nhiều nghiên cứu đi đến
kết luận vốn là nhân tố quan trọng tạo ra tăng trưởng kinh tế. Vốn không chỉ
đóng trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế với tư cách đầu vào của sản xuất (đóng
góp về mặt lượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp thông qua việc thúc
đẩy tiến bộ kỹ thuật do các đầu tư mới mang lại, do lợi thế kinh tế nhờ quy mô
lớn (tức là với một ngành, việc đầu tư mở rộng quy mô sẽ làm giảm chi phí sản
xuất - do chuyên môn hoá… ). Đây là những đóng góp về vật “ chất” của đầu
tư, tức là hiệu quả của nguồn kinh tế tăng cao.
Mối quan hệ với cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố quan
trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế: muốn tăng trưởng kinh tế thì phải có
đầu tư, nhưng vấn đề hình thành cơ cấu đầu tư là một vấn đề gây nhiều tranh
cãi.
Theo các nhà kinh thì nền kinh tế cần có một đầu tư hợp lý, để tạo ra
một cơ cấu hợp lý. Thuật ngữ hợp lý ở đây được hiểu là cơ cấu đầu tư và cơ
cấu kinh tế là như thế nào đó để đảm bảo được tốc độ tăng trưởng nhanh và
bền vững. Nếu cơ cấu đầu tư không hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế không
hợp lý, làm giảm năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế, đến lượt nó làm
xuất mới do quá trình đầu tư tạo ra, là liên tục và đan xen nhau cùng tác động
vào quá trình tăng trưởng kinh tế.
18
Trong nội bộ nền kinh tế, việc so sánh hệ số ICOR giữa các ngành sẽ
thấy được ngành nào có hiệu quả đầu tư cao.
1.5 Tác động của nguồn lực tài chính cho đầu tư và phát triển
Nguồn lực tài chính là nguồn nhân tố không thể thiếu trong quá trình
phát triển kinh tế-xã hội của một nước, huy động, phân bố và sử dụng có hiệu
quả nguồn lực tài chính là vấn đề mang tính thời sự. Trong điều kiện nguồn lực
tài chính còn hạn chế, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính
càng trở nên quan trọng hơn.
Nguồn lực nói chung là có giới hạn, trong khi nhu cầu của nền kinh tế là
rất to lớn. Bởi vậy, cần phải ưu tiên vốn đầu tư cho những ngành, đơn vò kinh tế
mũi nhọn, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Phân phối vốn đầu tư cho từng ngành, từng đơn vò là nhằm gắn liền quá trình
đầu tư vốn với quá trình tạo vốn cho nền kinh tế từ kết quả của quá trình đầu tư
đó.
Trong phân phối, sử dụng vốn đầu tư ưu tiên cho từng đối tượng, cần
quán triệt quan điểm: chính sách đầu tư vốn phải được xây dựng nhằm gắn kết
các bộ phận hợp thành của nền kinh tế, vậy có sự đồng bộ trong việc lập quy
hoạch kinh tế-xã hội của từng vùng, từng ngành và phân phối vốn đầu tư theo
một trật tự nhất đònh.
Yêu cầu cụ thể của việc phân phối nguồn vốn đầu tư phát triển là: kết
hợp giữa đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; đầu tư theo ngành và theo
lãnh thổ, đầu tư từ NSNN và ngoài NSNN.
1.6 Vai trò của vốn đầu tư trong phát triển kinh tế đòa phương.
Vốn đầu tư có một vai trò quan trọng trong quá trình đầu tư phát triển
trong nước.
Trong thời đại kinh tế quốc gia hội nhập vào kinh tế quốc tế, xu hướng
toàn cầu hóa đang mở ra. Đó là điều kiện để các nền kinh tế rút ngắn con
đường CHN mà không phải phát triển tuần tự như các nước phát triển. TP. Hồ
20
Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai và Bình Dương là đại diện tiêu biểu trong việc
huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển kinh tế
đòa phương thuộc khu vực miền Nam và miền Trung của tổ quốc. Bốn thành
phố trên đã lựa chọn chiến lược vốn mà chủ yếu là thu hút vốn đầu tư và vay
nước ngoài kết hợp với huy động nguồn vốn trong nước. Dùng vốn nước ngoài
để tạo ra những động lực ban đầu thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tuy nhiên, để phát triển nhanh chóng và bền vững nền kinh tế, các tỉnh
này đều coi trọng chiến lược huy động vốn trong nước. Điều đó được thể hiện
trong các chiến lược vốn sau đây:
- Đẩy mạnh tiết kiệm dành vốn cho phát triển sản xuất theo hướng CHN
nền kinh tế của tỉnh.
- Huy động mọi nguồn lực, mọi tiềm năng trong các tầng lớp dân cư và
các thành phần kinh tế để tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
- Khai thác và phát huy tốt nguồn vốn nhân lực thông qua việc nâng cao
trình độ về khoa học, kỹ thuật cho đội ngũ lao động.
Cùng với chiến lược tạo vốn chung như nêu trên các tỉnh trên còn có nhiều
chiến lược tạo vốn thông qua những thế mạnh riêng của từng tỉnh.
* Kinh nghiệm huy động vốn tại TP.Hồ Chí Minh.
Để phục vụ cho đầu tư phát triển TP.Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều
giải pháp để huy động vốn như:
-Huy động vốn thông qua họat động huy động vốn của các ngân hàng
cổ phần. Cụ thể tính từ đầu năm đến nay TPHCM vốn huy động của các ngân
theo hướng giảm thời gian đầu tư, tăng chất lượng công trình…
* Kinh nghiệm huy động vốn tại Đồng Nai.
22
Thu hút vốn đầu tư thông qua hệ thống ngân hàng và mạng lưới các
qũy tín dụng nhân dân: hệ thống ngân hàng Đồng Nai đã khơi tăng nguồn
vốn tại chỗ, đặc biệt là nguồn vốn dân cư nhằm khai thác tối đa nguồn vốn
nội lực trong tỉnh để phục vụ phát triển kinh tế cả nước nói chung và đòa
phương nói riêng.
Để huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư hệ thống NH
đã đưa ra và thực hiện một số giải pháp chiến lược bền vững cùng nhiều biện
pháp, hình thức huy động vốn đa dạng cụ thể thích hợp với đòi hỏi của thò
trường và tâm lý người gửi trong đó giải pháp xuyên suốt là tổ chức tốt công
tác tiếp thò và quảng bá thương hiệu, làm tốt công tác khách hàng từ tỉnh đến
huyện, quán triệt đến từng nhân viên nhận thức về tầm quan trọng hàng đầu
của công tác khơi tăng nguồn vốn tại chỗ, có tính quyết đònh đối với kết quả
kinh doanh để cùng nhau phấn đấu làm tốt nhiệm vụ mục tiêu này.
Huy động vốn FDI cho đầu tư phát triển tại tỉnh Đồng Nai.
Tính đến 23/6/2007 Đồng Nai đã huy động thêm gần 270 triệu USD
vốn FDI. Từ đầu năm đến nay, tỉnh Đồng Nai đã cấp phép đầu tư mới cho 30
dự án có vốn nước ngoài (FDI) với số vốn đăng ký 108 triệu USD và cấp phép
điều chỉnh tăng thêm vốn cho 33 dự án FDI khác với số vốn tăng thêm hơn
161 triệu USD. Như vậy, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Đồng Nai từ đầu
năm đến nay tăng thêm gần 270 triệu USD.
Để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư FDI, Đồng Nai đã đầu
tư 204 triệu USD xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở 19 khu công nghiệp tập trung
đã được Chính phủ phê duyệt.
Với phương châm "Chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp", trong
* Kinh nghiệm huy động vốn của Bình Dương.
Hệ thống Ngân hàng Bình Dương đồng hành cùng doanh
nghiệp:Với chủ trương “Trải thảm đỏ mời gọi đầu tư” của UBND tỉnh; với
nhiều chương trình hành động, xúc tiến thương mại, tập trung tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu, mở rộng
thò trường tiềm năng. Theo đà phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, hoạt động
ngân hàng cũng không ngừng tăng trưởng, bơm vốn liên tục cho sự lớn mạnh
của các doanh nghiệp. Tăng cường huy động vốn, giải ngân, đầu tư phát triển.
Các tổ chức tín dụng đã có nhiều biện pháp tích cực để thu hút, huy động
nguồn vốn như tiết kiệm bậc thang, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu với nhiều
phương thức như trả lãi trước, tiết kiệm có dự thưởng, khuyến mãi…
24
Kinh nghiệm về huy động vốn FDI tại Bình Dương: Liên tiếp các
năm gần đây, Bình Dương nổi lên như là một điểm đến hấp dẫn của các nhà
đầu tư nước ngoài. Giá trò sản xuất kinh doanh từ khu vực FDI đã thúc đẩy kinh
tế Bình Dương phát triển vượt bậc và là một trong những tỉnh thành có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao nhất nước, đạt trên 30%/năm.
Trải chiếu hoa nâng niu nhà đầu tư
Khi đề cập đến “hiện tượng Bình Dương”, tiến só Trần Du Lòch - Viện
trưởng Viện Kinh tế TP.HCM, nói: “Về chính sách thu hút đầu tư, chính
quyền Bình Dương có một sự trọng thò thật sự. Tôi cảm nhận tỉnh rất khát
khao mời gọi các nhà đầu tư. Và, lãnh đạo tỉnh nhận thức được rằng, muốn
vậy, phải đổi mới cơ chế, thủ tục hành chính, xây dựng hạ tầng kinh tế và xã
hội tốt nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư”. (Nguồn Báo Bình Dương)
Bình Dương đã tạo được nét riêng cho mình trong thu hút vốn FDI, lãnh
đạo tỉnh luôn sát cánh cùng nhà đầu tư, coi vướng mắc của nhà đầu tư chính là
khó khăn, vướng mắc của tỉnh để cùng hợp tác cải thiện môi trường đầu tư cho