BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________
TỪ THỊ HỒNG NHUNG
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ THÔNG TIN CHO
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG CHỨNG TỪ
CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (ASEAN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________
TỪ THỊ HỒNG NHUNG
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ THÔNG TIN CHO
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG CHỨNG TỪ
CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (ASEAN)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ................. 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN .............................................................. 6
2.1 LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ...................................................... 6
2.1.1 THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG YẾU.................................................... 6
2.1.2. THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG TRUNG BÌNH ................................... 7
2.1.3 THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG MẠNH ................................................ 7
2.2 MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH CHO LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU
QUẢ ........................................................................................................................ 8
2.2.1 MÔ HÌNH “TRÒ CHƠI CÔNG BẰNG” ..................................................... 8
2.2.2 MÔ HÌNH “TRÒ CHƠI CÔNG BẰNG CÓ ĐIỀU CHỈNH” ....................... 9
2.2.3 MÔ HÌNH BƯỚC ĐI NGẪU NHIÊN ....................................................... 10
2.3. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................................... 11
2.3.1 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG YẾU Ở CÁC
QUỐC GIA PHÁT TRIỂN ................................................................................ 11
2.3.2 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG YẾU Ở CÁC
QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN .................................................................... 13
2.3.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÍNH HIỆU QUẢ
THÔNG TIN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .................. 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 23
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .............................................................................. 23
3.2 KIỂM ĐỊNH TÍNH PHÂN PHỐI CHUẨN .................................................. 24
3.2.1 HỆ SỐ BẤT ĐỐI XỨNG .......................................................................... 24
3.2.2 HỆ SỐ NHỌN ........................................................................................... 25
3.2.3 KIỂM ĐỊNH JARQUE-BERA .................................................................. 25
3.3 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ................................................................... 26
3.3.1 KIỂM ĐỊNH AUGMENTED DICKEY – FULLER .................................. 26
3.3.2 KIỂM ĐỊNH KWIATKOWSKI, PHILLIPS, SCHMIDT VÀ SHIN .......... 27
3.4 KIỂM ĐỊNH PHƯƠNG SAI.......................................................................... 28
5.4. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO ............ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 4.1-Biểu đồ thể hiện mật độ phân phối tỷ suất sinh lợi hàng ngày của các
quốc gia ASEAN ........................................................................................................ 33
Bảng 4.1-Thống kê mô tả dữ liệu của chỉ số tỷ suất sinh lợi hàng ngày các quốc gia
ASEAN ...................................................................................................................... 35
Bảng 4.2 Tóm tắt kiểm định ADF cho các quốc gia ASEAN ...................................... 37
Bảng 4.3 Tóm tắt kiểm định KPSS cho các quốc gia ASEAN .................................... 38
Bảng 4.4 Tóm tắt kiểm định VR cho các quốc gia ASEAN ........................................ 40
Bảng 4.5 Tóm tắt kiểm định MVR cho các nước ASEAN .......................................... 42
Bảng 4.6 – Kết quả kiểm định bậc cho ASEAN .......................................................... 43
Bảng 4.7 Tóm tắt kiểm định chuỗi cho các nước ASEAN .......................................... 45
Bảng 4.8 – Kết quả kiểm định tính dừng của giá cho thị trường ASEAN .................... 46
Bảng 4.9 – Kết quả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết cho thị trường chứng
khoán khu vực ASEAN .............................................................................................. 47
1
TÓM TẮT
Mục đích của bài nghiên cứu này là để kiểm định tính hiệu quả cho thị
trường chứng khoán các quốc gia khu vực Đông Nam Á (ASEAN) giai đoạn 1/2000
đến 12/2013. Tác giả kiểm định xem những thị trường này có hiệu quả riêng và
chung hay không bằng cách sử dụng các kiểm định thống kê: kiểm định phân phối
chuẩn, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định tỷ lệ phương sai, kiểm định tỷ lệ đa
phương sai, kiểm định bậc, kiểm định đoạn mạch và kiểm định đồng liên kết. Tác
việc phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, tính hiệu quả của thị trường chứng khoán vẫn
luôn là đề tài tranh cãi giữa các học giả và nhà đầu tư trên thị trường.
Thị trường hiệu quả có ảnh hưởng quan trọng đối với những nhà đầu tư đang
tìm cách xác định tài sản để đầu tư vào thị trường chứng khoán. Nếu thị trường
chứng khoán là hiệu quả, mọi cố gắng tìm kiếm tài sản bị định giá sai để kiếm lợi
nhuận vượt trội thì không tạo ra bất kỳ lợi ích nào. Trong thị trường hiệu quả, giá cả
tài sản sẽ phản ánh ước lượng tốt nhất các nhân tố trên thị trường liên quan tới rủi ro
kỳ vọng và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản giải thích cho thông tin được biết đến
về tài sản tại thời điểm đó. Vì vậy, không có một tài sản nào định giá thấp hơn đem
3
lại mức tỷ suất sinh lợi cao hơn dự kiến và không có tài sản nào được định giá cao
hơn đem lại mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn dự kiến. Tất cả tài sản trên thị trường có
giá cả tương đối tối ưu so với rủi ro. Tuy nhiên, nếu thị trường không hiệu quả thì
các nhà đầu tư có thể nâng cao tỷ suất sinh lợi điều chỉnh sau rủi ro bằng cách xác
định các tài sản bị định giá sai. Lý thuyết thị trường hiệu quả đã lập luận để đưa ra
hai chức năng: đầu tiên, như là một mô hình lý thuyết và mô hình dự báo các hoạt
động của thị trường tài chính, và thứ hai, như là một công cụ quản lý chiến dịch ấn
tượng để thuyết phục nhiều người đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Mục đích của bài nghiên cứu này là “Kiểm định tính hiệu quả thông tin
cho thị trường chứng khoán các quốc gia khu vực Đông Nam Á (ASEAN)”cho
mẫu được lựa chọn từ các quốc gia, là thành viên của khối ASEAN. Có một số lý
do đặc biệt để lựa chọn các quốc gia trong khối ASEAN.
ASEAN là một khối kinh tế với bản sắc riêng và các nhà nghiên cứu và nhà
hoạch định chính sách đang xem xét những thị trường này như là một nhóm nền
kinh tế trong các bài nghiên cứu của họ về hội nhập thị trường và phát triển thị
trường tài chính.
Trong hai thập kỷ qua, đã có sự gia tăng trong việc phụ thuộc và hội nhập lẫn
nguồn tài sản và không có điểm nào trong việc trì hoãn đầu tư vật chất. Xem xét
rằng sự phát triển của nền kinh tế ASEAN phụ thuộc rất nhiều vào Đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài (FDI), rõ ràng sự thiếu hiệu quả của thị trường chứng khoán này có
thể làm chậm quá trình phát triển tổng thể bởi sự không khuyến khích việc đầu tư
vào các thị trường này. Mục tiêu của bài nghiên cứu này là tạo nên sự đóng góp cho
cho những tài liệu trước đó về thị trường chứng khoán tại các quốc gia mới nổi,
bằng cách xem xét các vấn đề hiệu quả liên quan tới một nhóm các quốc gia được
xem như thị trường mới nổi và các thành viên của tổ chức khu vực kinh tế.
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là kiểm định tính hiệu quả cho thị
trường chứng khoán các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Để thực hiện
mục tiêu này thì tác giả phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau.
5
1.2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thị trường chứng khoán các quốc gia trong khối ASEAN có phải là
thị trường hiệu quả hay không?
Xem xét trường hợp cụ thể tại thị trường chứng khoán Việt Nam: thị
trường chứng khoán Việt Nam có hiệu quả hay không?
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 KHÔNG GIAN NGHIÊN CỨU
Lý thuyết thị trường hiệu quả có thể được định nghĩa một cách cụ thể hơn
với các thông tin sẵn có (It) tham gia trong thị trường. Fama (1970) phân loại thông
tin thành 3 loại nhỏ và gợi ý 3 hình thức (mức độ) của lý thuyết thị trường hiệu quả,
phụ thuộc vào xác định thông tin liên quan, được đặt tên hình thức yếu, trung bình
và mạnh. Phần này nêu bật những hình thức với những tác động thực tế của chúng.
2.1.1 THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG YẾU
Hình thức yếu của thị trường hiệu quả được định nghĩa là một thị
trường hiệu quả nếu giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin chứa đựng
trong giá quá khứ. Hình thức này ngụ ý rằng giá cả trong quá khứ không thể
dùng để dự đoán cho chuyển động giá cả trong tương lai. Vì vậy, không thể
7
kinh doanh để kiếm được tỷ suất sinh lợi bất thường bằng cách chỉ sử dụng
giá cả trong quá khứ.
2.1.2. THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG TRUNG BÌNH
Hình thức trung bình của thị trường hiệu quả chỉ ra giá cả thị trường
hiện tại phản ánh một cách đầy đủ các thông tin sẵn có, ví dụ như thông tin
về cung tiền, tỷ giá hối đoái, lãi suất, công bố chia cổ tức, lợi nhuận hằng
năm, chia tách cổ tức, …Điều này có nghĩa là những người tham gia thị
trường không thể tạo ra tỷ suất sinh lợi cao liên tục bằng cách phân tích các
báo cáo thường niên hoặc những thông tin được công bố khác bởi vì giá cả
thị trường sẽ được điều chỉnh ngay lập tức cho các thông tin tốt hay xấu được
công bố trong các báo cáo cũng như thông tin họ được tiết lộ.
2.1.3 THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ DẠNG MẠNH
Nếu việc gia tăng tập hợp thông tin bao gồm thông tin riêng, thì
những người tham gia thị trường không thể kiếm được lợi nhuận vượt trội,
thì thị trường này là hình thức mạnh của thị trường hiệu quả. Nói cách khác,
trong thị trường hiệu quả dạng mạnh giá cả chứng khoán phản ánh tất cả các
thời điểm t+1, và E(rj,t+1| It) là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng dự kiến tại thời điểm
t+1 dựa trên thông tin It..
Mô hình này ngụ ý rằng giá trị thị trường vượt trội của chứng khoán j
tại thời điểm t+1 (xj,t+1) là phần chênh lệch giữa giá thực và giá kỳ vọng dựa
trên thông tin It. Tương tự, tỷ suất sinh lợi (vượt trội) không kỳ vọng của
chứng khoán j tại thời điểm t+1 (zj,t+1) được đo lường bằng chênh lệch giữa
tỷ suất sinh lợi thực và kỳ vọng trong giai đoạn đó với điều kiện thông tin có
sẵn tại thời điểm t, It. Thông qua mô hình “Trò chơi công bằng”, giá trị thị
trường vượt trội và tỷ suất sinh lợi vượt trội là 0. Nói cách khác, công thức
9
2.3 và 2.5 chỉ ra chuỗi giá trị thị trường vượt trội {xj,t+1} và {zj,t+1} là trò chơi
công bằng với chuỗi thông tin {It}.
2.2.2 MÔ HÌNH “TRÒ CHƠI CÔNG BẰNG CÓ ĐIỀU CHỈNH”
Mô hình “Trò chơi công bằng có điều chỉnh” là mô hình “Trò chơi
công bằng” với một sự điều chỉnh nhỏ trong tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Trong
mô hình này, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng được xem xét là dương thay vì bằng 0
như trong mô hình “Trò chơi công bằng”. Việc điều chỉnh ngụ ý rằng giá cả
của chứng khoán được kỳ vọng sẽ tăng theo thời gian. Nói một cách khác, tỷ
suất sinh lợi của các khoản đầu tư được dự kiến sẽ tăng do rủi ro của khoản
vốn đầu tư. Công thức toán của mô hình “Trò chơi công bằng có điều chỉnh”
được viết như sau:
E p,
E r,
I
=
phản ánh tất cả mọi thông tin sẵn có. Trong thị trường chứng khoán, giá trị
nội tại của cổ phiếu được đo bằng giá trị chiết khấu tương lai của dòng tiền
sẽ tích luỹ để đầu tư. Nếu thị trường chứng khoán là hiệu quả, giá cổ phiếu
phải phản ánh tất cả các thông tin sẵn có liên quan tới việc đánh giá thành
quả trong tương lai của công ty, và do đó giá trị thị trường của cổ phiếu phải
bằng với giá trị nội tại của nó. Với bất kỳ thông tin mới nào, với kỳ vọng sẽ
làm thay đổi lợi nhuận của công ty trong tương lai, sẽ được phản ánh ngay
lập tức vào trong giá cổ phiếu bởi vì bất kỳ sự chậm trễ trong việc thể hiện
các thông tin của giá sẽ dẫn đến bất hợp lý, vì một số thông tin phụ có thể
được khai thác để tiên đoán lợi nhuận tương lai. Vì vậy, trong một thị trường
hoàn hảo, giá cả phải phản ứng với thông tin mới. Bởi vì thông tin mới đến
ngẫu nhiên, nên giá cả cổ phiếu phải dao động không dự đoán được. Mô hình
bước đi ngẫu nhiên theo công thức sau:
P
= P +ε
Với Pt+1: giá của cổ phiếu tại thời điểm t+1;
Pt: giá cổ phiếu tại thời điểm t;
εt+1: nhiễu trắng
Công thức trên chỉ rằng giá cổ phiếu tại thời điểm t + 1 bằng với giá
của cổ phiếu tại thời điểm t cộng với giá trị phụ thuộc vào thông tin mới
(không dự đoán được) đến vào giữa khoảng thời gian t và t + 1. Nói một
cách khác, sự thay đổi của giá, ε
=P
− P thì không phụ thuộc vào sự
thay đổi giá trong quá khứ.
liệu tỷ suất sinh lợi hàng tuần của 10 quốc gia công nghiệp (Úc, Bỉ,
Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sĩ, Anh và Đức) trong giai
đoạn từ 29/12/1967 đến 21/10/1988. Kết quả cho thấy tất cả các quốc gia
ngoại trừ Úc và Bỉ tuân theo bước đi ngẫu nhiên. Điều này cho thấy tỷ
suất sinh lợi hàng tuần của 8 quốc gia là một chuỗi độc lập. Khi thời gian
nắm giữ chứng khoán đủ dài trong khoảng từ 1 đến 4 tuần thì giả thuyết
bước đi ngẫu nhiên không bị loại bỏ ở cả 10 quốc gia. Điều này ngụ ý
12
rằng tỷ suất sinh lợi hàng tháng của 10 quốc gia này là chuỗi độc lập so
với tỷ suất sinh lợi trong quá khứ.
Chan và cộng sự (1997) thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định
đồng liên kết cho chỉ số chứng khoán hàng tháng của 18 quốc gia bao
gồm Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ấn Độ, Ý, Nhật,
Hà Lan, Na Uy, Pakistan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Mỹ và Anh
trong 32 năm từ 1961 đến 1992. Kiểm định nghiệm đơn vị chỉ ra rằng giá
cả chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên, do đó, tất cả các thị trường
được kiểm định có hình thức hiệu quả dạng yếu riêng lẻ. Kiểm định đồng
liên kết Johansen cho thấy không có dấu hiệu đồng liên kết trong toàn bộ
mẫu, ngoại trừ nhóm các quốc gia châu Á (Nhật, Ấn Độ, Pakistan và Úc)
và Trung tâm tài chính châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ và Bỉ) xuất
hiện vectơ đồng liên kết trước cuộc đổ vỡ tháng 10/1987.
Gilmore và McManus (2003) thực hiện kiểm định thị trường chứng
khoán ở ba nền kinh tế chuyển đổi chính Trung tâm Châu Âu (Cộng hòa
Sec, Hungary và Ba Lan) trong giai đoạn từ tháng 7/1995 đến tháng
9/2000 bằng cách sử dụng chỉ số Đầu tư và Tổng hợp của Tập đoàn Tài
Chính Quốc Tế, với các phương pháp kiểm định như: kiểm định đơn biến
(nghiệm đơn vị) và đa biến (đồng liên kết), kiểm định tỷ lệ phương sai,
đang phát triển cũng dựa trên mô hình bước đi ngẫu nhiên với các phương
pháp kiểm định gồm: kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi, kiểm định
nghiệm đơn vị, kiểm định tính dừng, kiểm định tỷ lệ phương sai, kiểm định
quang phổ… Ngược lại với các bằng chứng từ các quốc gia phát triển, những
phát hiện của thị trường hiệu quả thông tin dạng yếu ở các quốc gia đang
phát triển cho ra nhiều kết quả khác nhau
Sharma và Kennedy (1977) sử dụng phương pháp kiểm định chuỗi và
phân tích quang phổ với dữ liệu là chỉ số giá chứng khoán hàng tháng của
chỉ số cổ phiếu ngành công nghiệp chia cổ tức biến động ở Bombay từ
1963 đến 1973. Kết quả cho thấy rằng giá chứng khoán thay đổi trên thị
trường Bombay theo bước đi ngẫu nhiên.
Tiếp theo, Barnes (1986) áp dụng các phương pháp kiểm định tương quan
chuỗi, kiểm định chuỗi và phân tích quang phổ cho chuỗi giá chứng
14
khoán hàng tháng của 30 chứng khoán riêng lẻ và 6 chỉ số ngành trên thị
trường chứng khoán Kuala Lumpur trong 6 năm kết thúc vào ngày
30/06/1980. Qua nghiên cứu cho thấy thị trường hiệu quả dạng yếu (chỉ
có một vài cổ phiếu riêng lẻ không theo bước đi ngẫu nhiên).
Năm 1994, Dickinson và Muragu kiểm tra tính hiệu quả thông tin ở thị
trường chứng khoán Nairobi trong giai đoạn từ năm 1979 đến 1989 bằng
việc sử dụng chuỗi giá hàng tuần của 30 chứng khoán riêng lẻ được niêm
yết trên sàn giao dịch, thông qua các phương pháp như kiểm định tự
tương quan chuỗi và kiểm định chuỗi. Kết luận cho thấy các chỉ số chứng
khoán chính đáp ứng điều kiện của thị trường hiệu quả dạng yếu.
Fawson và cộng sự thực hiện nghiên cứu năm 1996 dựa trên chỉ số tỷ suất
sinh lợi chứng khoán hàng tháng trên thị trường chứng khoán Đài Loan
trong suốt giai đoạn 01/1967 đến 12/1993 bằng phương pháp kiểm định
Alam và cộng sự (1999) thực hiện kiểm định tỷ lệ phương sai dựa trên dữ
liệu tỷ suất sinh lợi hàng tháng của chỉ số thị trường Hồng Kông,
Malaysia, Đài Loan, Sri Lanka và Bangaladesh từ 11/1986 đến 12/1995.
Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu được chấp nhận cho tất cả các thị
trường, ngoại trừ Sri Lanka.
Chang và Ting (2000) dựa trên tỷ suất sinh lợi hàng tuần, tháng và quý
của chỉ số thị trường từ thị trường chứng khoán Đài Loan trong giai đoạn
từ 01/09/1971 đến 06/01/1996 qua phương pháp kiểm định tỷ lệ phương
sai cho kết luận rằng giả thuyết bước đi ngẫu nhiên không bị loại bỏ cho
tất cả dữ liệu, ngoại trừ dữ liệu hàng tuần.
Cheung và Coutts (2001) thực hiện phương pháp kiểm định tỷ lệ phương
sai với chỉ số thị trường chứng khoán hàng ngày của sàn giao dịch chứng
khoán Hồng Kông trong giai đoạn từ 01/01/1985 đến 30/01/1997. Bằng
chứng thực nghiệm không bác bỏ giả thuyết H0 hình thức hiệu quả dạng
yếu của thị trường.
Buguk và Brorsen (2003) thực hiện kiểm định thị trường hiệu quả
Istanbul thông qua chỉ số thị trường hàng tuần của chỉ số tổng hợp, công
nghiệp và tài chính của sàn giao dịch chứng khoán Istanbul trong giai
đoạn từ 1992 đến 1999 thông qua phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị,
16
kiểm định liên kết phân đoạn GPH (Geweke và Porter-Hudak) và kiểm
định tỷ lệ phương sai. Kết quả thu được từ kiểm định Dickey-Fuller, liên
kết phân đoạn GPH và tỷ lệ phương sai đơn luôn chỉ ra rằng 3 chuỗi chỉ
số là bước đi ngẫu nhiên. Tuy nhiên kiểm định tỷ lệ phương sai dựa trên
xếp hạng và dấu thấy một vài bằng chứng bác bỏ giả thuyết H0 thị trường
hiệu quả dạng yếu.
Lima và Tabak (2004) thực hiện kiểm định tỷ lệ phương sai cho chỉ số
hiệu quả, mặc dù các biện pháp tự do hóa tài chính đã được thực hiện từ
những năm 80. Nhóm tác giả cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy thị
trường chứng khoán Singapore và Thái Lan trở nên hiệu quả từ sau cuộc
khủng hoảng châu Á.
Tuy nhiên, những bài nghiên cứu khác ở thị trường chứng khoán mới nổi đã
chứng tỏ giá chứng khoán có thể dự báo được.
Cụ thể, Urrutia (1995) kiểm định tính hiệu quả dạng yếu tại các thị
trường chứng khoán Argentina, Brazil, Chile và Mexico trong giai đoạn
từ 12/1975 đến 03/1991 bằng việc sử dụng các phương pháp kiểm định tỷ
lệ phương sai và kiểm định chuỗi trên dữ liệu hàng tháng chỉ số các thị
trường nêu trên. Kết quả của kiểm định tỷ lệ phương sai loại bỏ giả thuyết
bước đi ngẫu nhiên cho tất cả các thị trường. Tuy nhiên, kết quả từ kiểm
định chuỗi lại cho thấy các thị trường là hiệu quả.
Mookerjee và Yu (1999), với chỉ số giá chứng khoán hàng ngày của thị
trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến trong giai đoạn từ
19/12/1990 đến 17/12/1993 và 3/4/1991 đến 17/12/1993 qua phương
pháp kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi và kiểm định nghiệm đơn
vị. Hai tác giả cho rằng hai sàn giao dịch này không đạt được mức độ
hiệu quả dạng yếu.
Grieb và Reyes (1999) thực hiện kiểm định tỷ lệ phương sai với chuỗi giá
chứng khoán hàng tuần của chỉ số thị trường và chứng khoán riêng lẻ tại
Brazil và Mexico trong giai đoạn từ 30/12/1988 đến 30/01/1995. Kết quả
cho thấy giả thuyết thị trường hiệu quả bị bác bỏ cho tất cả các thị trường
và hầu hết các chứng khoán riêng lẻ.
18
Abeysekera (2001) thực hiện nghiên cứu tỷ suất sinh lợi hằng ngày, tuần
và tháng của 2 chỉ số thị trường của sàn giao dịch chứng khoán Colombo