BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỤY PHƯỢNG UYÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH GỬI TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2013
Trân trọng
1.5.2. Lãi suất ................................................................................................. 19
1.5.3. Thủ tục giao dịch .................................................................................. 20
1.5.4. Ảnh hưởng người thân .......................................................................... 20
1.5.5. Hình thức chiêu thị ............................................................................... 20
1.5.6. Sự thuận tiện......................................................................................... 21
1.5.7. Hình ảnh nhân viên ............................................................................... 21
1.6. Mô hình nghiên cứu đề xuất .......................................................................... 22
Kết luận chương 1: ................................................................................................ 23
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI NGÂN
HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM ................................................................ 24
2.1. Các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm tại Vietcombank .......................................... 24
2.1.1. Tiết kiệm không kỳ hạn ........................................................................ 24
2.1.2. Tiết kiệm có kỳ hạn .............................................................................. 24
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh ....................................................................... 25
2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh .............................................................. 25
2.2.2. Tình hình huy động vốn ........................................................................ 26
2.2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Vietcombank về huy động vốn......... 33
Kết luận chương 2: ................................................................................................ 35
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .. 36
3.1. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 36
3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ .................................................................................. 36
3.1.2. Nghiên cứu chính thức .......................................................................... 37
3.2. Kết quả khảo sát ............................................................................................ 40
3.2.1. Đặc điểm mẫu khảo sát ......................................................................... 40
3.2.2. Kiểm định thang đo .............................................................................. 45
3.2.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA .......................................................... 48
3.2.4. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu ........................................ 52
3.3. Đánh giá kết quả nghiên cứu ......................................................................... 59
EFA
: Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá)
EUR
: Đồng tiền chung châu Âu
KH
: Khách hàng
NH
: Ngân hàng
NHTM
: Ngân hàng thương mại
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TMCP
: Thương mại Cổ phần
TP.HCM
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động của Vietcombank qua các năm
Bảng 2.2: Tình hình Huy động tiền gửi giai đoạn 2010 - 2012
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu đánh giá tình hình huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP
Việt Nam giai đoạn 2010 - 2012
Bảng 2.4: Huy động tiền gửi theo loại tiền tệ của Vietcombank giai đoạn 2010 2012
Bảng 3.1: Kết quả thông tin cá nhân của khách hàng
Bảng 3.2: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định gửi tiết kiệm tại Vietcombank lần 1
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo Hình ảnh nhân viên lần 2.
Bảng 3.4: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha thang đo quyết định gửi tiết kiệm
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp về phân tích thang đo của các nhân tố
Bảng 3.6: Kết quả phân tích nhân tố
Bảng 3.7: Kết quả phân tích nhân tố quyết định gửi tiết kiệm tại Vietcombank
Bảng 3.8: Ma trận tương quan giữa các biến
Bảng 3.9: Kết quả phân tích hồi quy mô hình lý thuyết
Bảng 3.10: Kết quả kiểm định mô hình
Bảng 3.11: Hệ số sig. khi so sánh sự khác biệt về quyết định gửi tiết kiệm tại
Vietcombank của các nhóm khách hàng khác nhau theo yếu tố đặc điểm cá nhân
Bảng 3.12: Kết quả nghiên cứu của tác giả so với mô hình nghiên cứu trước.
-1-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng thương mại - tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng và cho vay từ số tiền huy động được, đồng thời làm các dịch vụ ngân
trong lĩnh lực kinh doanh tiền tệ, đồng thời thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh
của mình. Vietcombank được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến và ghi nhận
là một trong những ngân hàng lớn tại Việt Nam, Vietcombank đã và đang tìm kiếm
và giữ khách hàng bằng các chính sách chăm sóc, ưu đãi khách hàng, tăng cường
huy động các kênh vốn nhàn rỗi trong nhân dân, nhất là kênh tiết kiệm cá nhân.
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định gửi tiết kiệm của khách
hàng cá nhân tại Vietcombank. Đề tài sẽ góp thêm kiến thức về các yếu tố được các
khách hàng cá nhân xem xét trong việc lựa chọn gửi tiết kiệm ở Vietcombank. Từ
đó đem lại thông tin giúp Ban lãnh đạo Vietcombank xây dựng các chiến lược huy
động vốn phù hợp.
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng gửi tiết kiệm của khách hàng tại Vietcombank.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiết kiệm của khách
hàng cá nhân tại Vietcombank.
-
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng huy động vốn
quyết định gửi tiết kiệm.
Chương 2: Đánh giá thực trạng về tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Chương 4: Giải pháp và kiến nghị
-4-
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI
TIẾT KIỆM
1.1. Tiền gửi tiết kiệm
1.1.1.
Khái niệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi
tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi.
Khách hàng gửi tiết kiệm là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi
tiết kiệm. Khách hàng gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ
sở hữu hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền
gửi tiết kiệm, đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.
Khách hàng gửi tiết kiệm có thể là cá nhân người Việt Nam hoặc cá nhân
người nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam hoặc các cá
nhân người cư trú có nhu cầu gửi tiền ở ngân hàng vì các mục đích như tiết kiệm,
sinh lời, an toàn... Như vậy, khách hàng gửi tiết kiệm là các cá nhân sử dụng sản
phẩm, dịch vụ gửi tiết kiệm của các ngân hàng.
Tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm
Nghiệp vụ huy động vốn không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Một ngân hàng thương mại được cấp phép
thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho
tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ
chưa đủ vốn để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và
các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn phục vụ cho hoạt động này ngân hàng phải
huy động vốn từ khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn nói chung và huy động tiền
gửi tiết kiệm nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với
khách hàng.
1.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động vốn, trong đó tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận quan
trọng, góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng sẽ không đủ vốn tài trợ
cho hoạt động của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng
có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân
-6-
hàng. Từ đó, ngân hàng có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy
động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.
1.1.3.2. Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm không chỉ quan trọng đối với ngân hàng
mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết
kiệm cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm tiền của họ
sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thẻ gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác,
nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn
để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, nghiệp vụ huy động tiền gửi
được cũng khác nhau. Người nhận được mức lợi nhuận cao hài lòng với chất lượng
của sản phẩm đầu tư, còn người kia thì ngược lại.
Tính mau hỏng: đặc trưng của tính mau hỏng thể hiện bản chất tức thời của
sản phẩm xảy ra như là kết quả của việc sản xuất và tiêu dùng đồng thời, do vậy nhà
cung cấp dịch vụ không thể hình thành và duy trì hàng tồn kho. Năng lực sản xuất
chưa được sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ đành phải bỏ không, lãng phí trừ khi
khách hàng đến và tiếp nhận dịch vụ. Cũng tương tự, khi năng lực cung cấp của nhà
cung cấp dịch vụ thấp hơn nhu cầu của thị trường thì khách hàng lại bị “đuổi” đi với
sự thất vọng vì không có hàng tồn kho trong tình huống này.
Trách nhiệm ủy thác: về cơ bản khi khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng
là khách hàng đang mua một tổ hợp các lời hứa: ngân hàng hứa sẽ chịu trách nhiệm
quản lý, trông coi các nguồn vốn và những vấn đề tài chính của khách hàng. Do đó,
sự tín nhiệm và tin tưởng đối với ngân hàng và các nhân viên của họ là đòi hỏi có
tính bắt buộc.
Dòng thông tin hai chiều: Dịch vụ ngân hàng không đơn thuần là sự mua
sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch hai chiều thường
xuyên trong một khoảng thời gian cụ thể. Ví dụ như việc phát hành sao kê tài khoản,
quản lý tài khoản, ghé thăm chi nhánh, sử dụng máy ATM.
1.2.2.
Tiến trình mua của khách hàng ngân hàng
Nhận thức nhu cầu
Có thể dễ dàng nhận ra nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng thường phát sinh
khi người ta có những vấn đề liên quan đến tiền bạc. Các nhu cầu cơ bản mà khách
hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng như tiếp cận tiền mặt; an toàn về tài sản (an toàn
về mặt vật chất - bảo vệ khỏi bị trộm cắp, bảo vệ tài sản trước sự mất giá của đồng
tiền); chuyển tiền từ nơi này đến nơi khác; trả chậm; tư vấn tài chính...
Quyết định mua hàng
Sau khi quyết định mua một dịch vụ cụ thể nào đó, khách hàng sẽ liên hệ với
nhà cung cấp dịch vụ đã chọn, giai đoạn này thường bắt đầu với việc khách hàng
nộp giấy yêu cầu, đề nghị, liên hệ trực tiếp với nhân viên của nhà cung cấp... Khác
với các sản phẩm dịch vụ khác, ở một ngân hàng người ta chỉ có thể tìm thấy một
nhãn hiệu dịch vụ. Nếu muốn mua nhãn hiệu khác, khách hàng cần phải di chuyển
đến một ngân hàng khác, điều này khách hàng gây khó khăn cho khách hàng trừ khi
quỹ thời gian của họ cho phép và chi phí chuyển đổi nhà cung ứng dịch vụ không
lớn.
-9-
Giai đoạn sau khi mua
Trong giai đoạn này, khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài
lòng/thất vọng với sự trải nghiệm dịch vụ của họ. Kết quả của quá trình này sẽ ảnh
hưởng đến dự tính tương lai của khách hàng, họ sẽ trung thành với nhà cung cấp
dịch vụ hoặc chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ khác, họ sẽ có những bình luận tích
cực/tiêu cực cho gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp... về nhà cung cấp dịch vụ.
Khi người tiêu dùng không hài lòng với quyết định mua nào đó của mình thì
họ có thể quy sự không hài lòng cho nhiều nguồn khác nhau. Đối với các dịch vụ,
do khách hàng cũng tham gia trong quá trình dịch vụ nên có thể họ sẽ cảm thấy có
trách nhiệm hơn đối với những thất vọng của mình. Theo đó, cách thức người tiêu
dùng tham gia vào quá trình sản xuất ra dịch vụ có thể ảnh hưởng đến đánh giá của
khách hàng đến dịch vụ nhận được. Vì vậy, việc hướng dẫn khách hàng về vai trò
Sự tiếp thu (Learning)
Người tiêu dùng tùy thuộc vào mức độ hiểu biết về sản phẩm cộng với cảm
nhận khi tiêu dùng sản phẩm - thỏa mãn hay không thỏa mãn mà có những hành vi
tiêu dùng sản phẩm đó rất khác nhau. Quá trình sử dụng sản phẩm, đánh giá, tiếp
nhận nhiều sản phẩm khác nhau làm cho người tiêu dùng có những kinh nghiệm về
sản phẩm. Sự tiếp thu này thể hiện những thay đổi trong hành vi của một cá nhân từ
những kinh nghiệm mà họ trải qua. Quá trình tiếp thu này còn làm cho người tiêu
dùng có những cảm nhận khác biệt trong quá trình tiếp nhận những tác nhân kích
thích và từ đó đưa ra những phản ứng tiêu dùng khác biệt. Người tiêu dùng có thể
tích lũy thêm những quan điểm tích cực hoặc tiêu cực từ quá trình này.
Động cơ (Motivation)
Theo Philip Kotler “Động cơ là nhu cầu đã trở nên bức thiết đến mức buộc
con người phải hành động để thỏa mãn nó”. Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào,
con người cũng có nhiều nhu cầu. Nhưng không phải nhu cầu nào cũng có tác động
tạo ra động cơ giống nhau. Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không
đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức. Một nhu cầu sẽ
trở thành động cơ khi nó đạt đến một mức độ đủ mạnh, việc thỏa mãn nhu cầu sẽ
làm giảm bớt căng thẳng. Những người thiết kế sản phẩm, những người bán hàng
cần tìm cách để chuyển nhu cầu từ trạng thái chưa nhận biết thành nhu cầu chủ
động và duy trì nó nhằm gia tăng cơ hội kinh doanh. Người tiêu dùng không chỉ
quan tâm đến tính năng, công hiệu mà cả hình dáng, kích thước, trọng lượng, vật
liệu, màu sắc... của sản phẩm đều có thể gây ra những liên tưởng và cảm xúc nhất
định, giúp kích thích hay ức chế quyết định mua sắm.
người tạo ra thế ứng xử (những phản ứng đáp lại) có tính ổn định và nhất quán với
môi trường xung quanh.
Tính cách của một người liên quan đến các đặc điểm cá nhân - những đặc
điểm được bộc lộ một cách phù hợp, đặc biệt khi một đặc điểm biểu hiện trong sự
hiện diện của các đặc điểm khác. Trong đời sống hàng ngày, tính cách của chúng ta
được người khác mô tả lại cho nhau, nhưng bản thân chúng ta lại là những thực thể
có tính cách và cá tính rất khác nhau. Như vậy, tính cách có liên quan đến ý niệm về
bản thân cũng như những quan niệm của những người xung quanh về chính chúng
-12-
ta. Mỗi người có một cá tính khác nhau, có thể là tự tin, thận trọng, khiêm nhường,
tự cao, hiếu thắng, ngăn nắp, dễ dãi, năng động, cởi mở, bảo thủ... Những tính cách
khác biệt này cũng tạo ra những hành vi mua sắm khác nhau.
1.2.3.2. Các nhân tố cá nhân
Tuổi tác và các giai đoạn chu kỳ sống gia đình
Ở những lứa tuổi khác nhau, người tiêu dùng sẽ có những nhu cầu và mong
muốn khác nhau. Nhu cầu về thực phẩm của một người thay đổi theo từng thời kỳ
phù hợp cho điều kiện dinh dưỡng của cơ thể. Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ
gỗ và cách giải trí cũng tuỳ theo tuổi tác. Ở từng thời điểm của trạng thái gia đình
mà người tiêu dùng có những nhu cầu, khả năng tài chính và sở thích khác nhau, do
đó có những lựa chọn và quyết định mua sắm khác nhau.
Nghề nghiệp
tiêu dùng của họ.
Lối sống
Lối sống của một người là cách sống của họ trên thế giới được thể hiện ra
trong hoạt động, sự quan tâm cũng như ý kiến, quan điểm của người đó. Những
người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng nghề nghiệp có
thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống miêu tả sinh động toàn diện
một con người trong quan hệ với môi trường của mình. Sự lựa chọn hàng hóa của
người tiêu dùng thể hiện lối sống của họ.
Nhân cách và quan niệm về bản thân
Mỗi người đều có một nhân cách khác biệt có ảnh hưởng đến hành vi của
người đó. Ở đây nhân cách có nghĩa là những đặc điểm tâm lý khác biệt của một
người dẫn đến những phản ứng tương đối nhất quán và lâu bền với môi trường xung
quanh. Nhân cách thường được miêu tả bằng những nét như tự tin, có uy lực, tính
độc lập, lòng tự trọng, tính dễ thích nghi…
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người tiêu dùng luôn tìm kiếm những sản phẩm
và dịch vụ phù hợp với hình ảnh hòa hợp với hình ảnh của cái tôi cá nhân. Như vậy
hành vi của người tiêu dùng luôn có xu hướng thỏa mãn nhu cầu được kỳ vọng bởi
các nhân tố bên ngoài.
1.2.3.3. Các yếu tố xã hội
Gia đình
Gia đình của người mua luôn được coi là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới
tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý.
Các nhóm ảnh hưởng
Đây là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi tiêu
dùng như:
Nhóm thân thuộc: là những nhóm mà cá nhân nằm trong đó và tác động qua
lại lẫn nhau như ông bà, cha mẹ, anh chị, đồng nghiệp, bạn bè, công đoàn, đoàn thể
và các tổ chức xã hội khác.
Nhóm ngưỡng mộ: là nhóm mà cá nhân cũng chịu ảnh hưởng, tuy nhiên không
phải là thành viên nhưng có ước muốn hiện diện trong đó.
-15-
Nhóm bất ưng: là nhóm mà hành vi, ứng xử của họ không được sự chấp nhận
của cá nhân. Cá nhân thường có các hành động tẩy chay những hoạt động, hành vi
của các thành viên nhóm bất ưng này, kể cả hoạt động và hành vi mua sắm.
1.2.3.4. Các yếu tố văn hóa
Nền văn hóa: là yếu tố cơ bản quyết định mong muốn và hành vi của mỗi
người. Những đứa trẻ lớn lên tại các quốc gia khác nhau sẽ có cách nhìn khác nhau
về bản thân, mối quan hệ với mọi người và các lễ nghi xã hội.
Nhánh văn hóa: mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo
nên những đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên của nó.
Các nhánh văn hóa tạo nên những phân khúc thị trường quan trọng. Hành vi mua
sắm của một người sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm của nhánh văn hóa của
người ấy, chúng sẽ ảnh hưởng đến sở thích ăn uống, cách lựa chọn quần áo, cách
nghỉ ngơi, giải trí và tham vọng tiến thân của họ.
Tầng lớp xã hội: các tầng lớp xã hội khác nhau thì có sự ưa thích hàng hóa
gửi tiền của người dân tại tỉnh Kiên Giang. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu
được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với thuận tiện.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình Tobit để xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy
có 8 nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi tiết kiệm của người dân: tuổi, giới tính, trình độ
học vấn, nghề nghiệp, thu nhập của người gửi tiền, kỹ năng nghiệp vụ và giao tiếp
của nhân viên ngân hàng, địa điểm của ngân hàng và thời gian cho mỗi lần giao
dịch. Đặc biệt, nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng cho thấy rằng lãi suất
huy động và các chương trình khuyến mãi lại không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống
kê đến lượng tiền gửi của người dân.
Trần Việt Hưng (2012) Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiết
kiệm của khách hàng tại Vietcombank Long An. Nội dung bài viết tập trung làm
rõ các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định chọn ngân hàng để gửi tiết
kiệm của khách hàng cá nhân. Số liệu được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để hỗ trợ trong việc phân tích
số liệu. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là: Kiểm định Cronbach’s
Anpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysic), Kiểm định
các giả thuyết mô hình cấu trúc và độ phù hợp tổng thể mô hình, Kiểm định T-Test,
Phân tích ANOVA (Analysic Of Variance) giữa các nhóm đối tượng khác nhau với
thành phần của mô hình cấu trúc đã được kiểm định nhằm tìm ra sự khác biệt có ý
-17-
nghĩa của một vài nhóm cụ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của yếu tố lãi
suất ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng, kế đến lần
lượt là các yếu tố sự thuận tiện, hình thức chiêu thị, ảnh hưởng người thân, hình ảnh
ngân hàng, hình ảnh nhân viên và cuối cùng là thủ tục giao dịch.
Nguyễn Quốc Nghi (2011) “Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngân
hàng để gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân”. Kết quả của nghiên cứu cho