Phân tích yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN TRẦN THỊNH

PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN TRẦN THỊNH

PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRƢƠNG QUANG THÔNG

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013

nhiều tài liệu, song không tránh khỏi có những sai sót. Rất mong nhận được những
thông tin góp ý của Quý Thầy, Cô và bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn.


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.........................................................................5
1.1 Khái niệm về NHTM .......................................................................................5
1.1.1 Bản chất của NHTM .....................................................................................5
1.1.2 Vai trò, chức năng của NHTM ....................................................................5
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng ................................................................6
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán ............................................................7
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền .....................................................................................8
1.2 Khái niệm về lợi nhuận ...................................................................................9
1.2.1 Khái niệm chung ...........................................................................................9
1.2.2 Khái niệm về lợi nhuận của NHTM ..........................................................10
1.3 Điều kiện niêm yết của các NHTM trên sàn giao dịch chứng khoán Việt
Nam .......................................................................................................................10
1.4 Những yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại ...........11
1.4.1 Yếu tố nội tại của ngân hàng ..................................................................11
1.4.1.1 Rủi ro tín dụng ..................................................................................11
1.4.1.2 Tính thanh khoản ..............................................................................12
1.4.1.3 Hiệu quả quản lý ...............................................................................13
1.4.1.4 Quy mô ngân hàng ............................................................................13
1.4.1.5 Tỷ lệ vốn .............................................................................................14
1.4.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô ................................................................................15
1.4.2.1 Tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) .................................15
1.4.2.2 Tốc độ lạm phát .................................................................................16
1.4.3 Các yếu tố khác ...........................................................................................17

PHỤ LỤC 3: CÁC KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TRONG PHẦN MỀM EVIEWS
PHỤ LỤC 4: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1. NHTM

: Ngân hàng thương mại

2. NHTW

: Ngân hàng Trung ương

3. NHNN

: Ngân hàng Nhà nước

4. ROA

: Tỷ suất sinh lợi trên tài sản

5. ROE

: Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở
hữu


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỀ TÀI
Trang
Bảng 2.1: Tình hình lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết cuối năm 2011 ............ 13

trong một thập kỷ qua. Đây là hệ quả của việc ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát,
cụ thể về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước thể hiện tính kiên định trong kiểm
soát lạm phát ngay từ đầu năm 2011 qua Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 với
tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% 16%; tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa 22% và
tối đa 16% vào 31/12/2011 và tiếp tục kiên định chính sách đó cho đến nửa đầu năm
2012 trước khi giảm lãi suất điều hành lần thứ nhất vào ngày 13/03/2012. Trong bối
cảnh khó khăn như vậy, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
rất nhiều, cụ thể hàng loạt ngân hàng đã bị suy giảm lợi nhuận, cũng như không đạt
được lợi nhuận mục tiêu được đề ra từ đầu năm. Tuy nhiên, yếu tố về vĩ mô cũng
chỉ là một trong những yếu tố có thể tác động đến lợi nhuận ngân hàng, bên cạnh
đó, nhóm yếu tố nội tại ngân hàng được xem là những yếu tố quan trọng góp phần
vào việc cải thiện lợi nhuận và tình hình hoạt động của ngân hàng.
Nói khác hơn, lợi nhuận luôn là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp, trong
lĩnh vực ngân hàng, điều này cũng không là ngoại lệ. Đứng trên góc độ vi mô và vĩ
mô, lợi nhuận luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng. Ở cấp độ vi mô, lợi nhuận chính là điều kiện thiết yếu và là
nguồn vốn rẻ nhất của một tổ chức tín dụng. Lợi nhuận ngân hàng không chỉ là kết
quả của hoạt động kinh doanh mà còn là tính thiết yếu cho hoạt động thành công
của ngân hàng trong giai đoạn cạnh tranh quyết liệt trên thị trường tín dụng. Vì vậy,
mục tiêu cơ bản của các nhà quản trị ngân hàng là phải đạt được lợi nhuận như là
tính tất yếu của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Ở cấp độ vĩ mô, một hệ thống
ngân hàng tốt và làm ăn có hiệu quả có khả năng chống chọi tốt với những cú sốc
tiêu cực và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.


2

Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận
của ngân hàng nhằm đưa ra các giải pháp và kiến nghị giúp cho các ngân hàng niêm
yết nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung có thể nâng cao lợi nhuận

Đối tượng nghiên cứu chính là các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng,
cụ thể ở đây là nhóm ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Do hạn chế về việc thu thập số liệu đối với toàn hệ thống ngân hàng và bên
cạnh đó, theo số liệu thu thập đến cuối năm 2011, nhóm ngân hàng niêm yết đã
chiếm phần lớn thị phần trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, cụ thể: 44% đối với
thị phần dư nợ tín dụng và 74,8% đối với thị phần huy động, vì vậy, phạm vi nghiên
cứu của đề tài chỉ là nhóm ngân hàng hiện đang được niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Mặt khác, từ tháng 8 năm 2012, ngân hàng ngân hàng Nhà
Hà Nội (Habubank) đã chính thức sáp nhập vào ngân hàng ngân hàng Sài Gòn - Hà
Nội (SHB), do đó, để đảm bảo tính thống nhất về mặt thời gian của các mẫu khảo
sát, luận văn chỉ thu thập số liệu từ báo cáo tài chính (được công bố chính thức) của
09 ngân hàng niêm yết, bao gồm: ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), ngân
hàng Công thương Việt Nam (CTG), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (STB), ngân
hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), ngân hàng Xuất nhập
khẩu Việt Nam (EIB), ngân hàng Quân đội (MBB), ngân hàng Nam Việt (NVB),
ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB), trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011.
 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động như thời gian vừa qua, lợi
nhuận của ngân hàng đã suy giảm rất nhiều, một phần do tác động từ sự suy thoái
chung của nền kinh tế, nhưng phần còn lại vẫn là do sự điều hành của chính các
ngân hàng. Có quá nhiều yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Vì vậy, nghiên cứu sẽ là một sự xác định rõ ràng và đáng tin cậy nhằm chỉ ra
đâu là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng, để từ đó, các nhà


4

điều hành chính sách, các chuyên gia kinh tế và trên hết là các nhà quản trị tại các
ngân hàng có thể hoạch định những chiến lược kinh doanh, cũng như các giải pháp

- Về vai trò: các NHTM là lực lượng chủ yếu trong việc thực thi các quan hệ
tín dụng, biến vai trò khách quan của tín dụng thành hiện thực trong nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu vốn để phát triển kinh tế và góp phần quan trọng vào việc hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội. Các NHTM có
vai trò trung gian, chuyển các khoản tiết kiệm tiền nhàn rỗi tạm thời thành tín dụng
đầu tư; vai trò thanh toán; vai trò bảo lãnh; vai trò đại lý; vai trò thực hiện chính
sách tiền tệ.


6

- Về chức năng: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu,
thường xuyên là huy động tiền gửi của khách hàng để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Quá trình hình thành và phát triển của
NHTM gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ngày nay,
NHTM đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng và trở thành một loại
hình ngân hàng chiếm vị trí chủ yếu trong hệ thống các ngân hàng trung gian. Chức
năng cụ thể của NHTM như sau:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã
hội đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa hiện tượng vốn tiền tệ nhàn rỗi từ chủ thể kinh
tế này, trong khi chủ thể kinh tế khác có nhu cầu lại thiếu vốn, cần được bổ sung.
Giải quyết vấn đề này, NHTM đóng vai trò là trung gian tín dụng, trở thành “cầu
nối” để người có vốn và người cần vốn gặp nhau.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền
kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn.
Như vậy, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người
cho vay. Với chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
trong quan hệ. Cụ thể:

doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.
NHTM thực hiện chức năng thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung
gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi ngân hàng đã mở cho khách hàng
tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi. Đó chính là tiền để khách hàng
thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán.
Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to
lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này các NHTM cung cấp cho khách
hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,
thẻ rút tiền, thẻ thanh toán… tùy theo nhu cầu khách hàng có thể chọn cho mình
phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ


8

tiền trong túi, không phải mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người thanh toán dù ở
gần hay xa, họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản
thanh toán này. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí về thời
gian, tiền bạc, lại đảm bảo được thanh toán an toàn hơn so với thanh toán trực tiếp.
Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán,
tốc độ chuyển vốn, đồng thời việc thanh toán qua ngân hàng đã giảm được lượng
tiền mặt lưu thông, góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn,
đếm nhận, bảo quản tiền…
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng
thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay
của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức
năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và thanh toán mà các NHTM có
khả năng “tạo tiền”. Đó là khả năng mở rộng tiền gửi nhiều lần. Từ một khoản tiền
gửi ban đầu vào một ngân hàng, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một

nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm
đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học. Trong
kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0. Chính sự khác
nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán.
Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên,
cũng tức là nhỏ hơn giá bán. Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân
bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo
(xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0. Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán
có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo.
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản
lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên. Tức là doanh thu có thêm khi bán
thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản
phẩm. Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất.


10

1.2.2 Khái niệm về lợi nhuận của NHTM
NHTM có 02 nghiệp vụ chủ yếu: huy động và cho vay. Trong nghiệp vụ huy
động, ngân hàng trả lợi tức cho người nhận tiền, còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân
hàng phải thu lợi tức của người đi vay. Về nguyên tắc, lợi tức cho vay phải cao hơn
lợi tức huy động.
Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức huy động sau khi trừ đi những chi
phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh
tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng.
1.3 Điều kiện niêm yết của các NHTM trên sàn giao dịch chứng khoán Việt
Nam
Các NHTM cũng là doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, chính vì vậy
để được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, cụ thể là trên sàn Chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh và sàn Chứng khoán Hà Nội, các NHTM cần đáp ứng đầy

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam (VCB), ngân hàng Công thương Việt Nam (CTG), ngân hàng Sài Gòn
Thương tín (STB), ngân hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội
(SHB), ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (EIB), ngân hàng Quân đội (MBB),
ngân hàng Nam Việt (NVB), ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB). Tuy nhiên, đến ngày
28/8/2012 thì ngân hàng Nhà Hà Nội đã chính thức sáp nhập vào ngân hàng Sài
Gòn – Hà Nội, đồng thời cổ phiếu của ngân hàng này cũng hủy niêm yết trên sàn
giao dịch chứng khoán Việt Nam.
1.4 Những yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại
1.4.1 Yếu tố nội tại của ngân hàng
1.4.1.1 Rủi ro tín dụng
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng là một biến số quan
trọng trong nghiên cứu lợi nhuận ngân hàng. Thực tế, các tổ chức phi tài chính chịu
rủi ro tín dụng thấp hơn các tổ chức tài chính. Cooper và cộng sự (2003) thấy rằng
những thay đổi trong danh mục cho vay của ngân hàng có thể được phản ánh bởi


12

những thay đổi trong rủi ro tín dụng, do đó doanh số của các tổ chức tín dụng cũng
có thể bị ảnh hưởng. Duca và McLaughlin (1990) chứng minh rằng sự thay đổi của
rủi ro tín dụng là lý do chính trong việc giải thích các biến động trong lợi nhuận
ngân hàng, vì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên. Do đó,
chất lượng các khoản cho vay là tiêu chí quan trọng hơn số lượng. Ở một khía cạnh
nào đó thì nghiên cứu của Bourke (1989) cũng có sự tương đồng với nghiên cứu của
Duca và McLaughlin (1990) vì ông chỉ ra rằng lợi nhuận của các ngân hàng sẽ thấp
hơn khi họ phải đối mặt với các khoản vay có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Trong cùng một cách tiếp cận, Miller và Noulas (1997) đã cho thấy rủi ro tín dụng
có tác động tiêu cực đến lợi nhuận. Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi
danh mục cho vay của các ngân hàng trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích dự

tương quan âm với tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng tài sản. Mối quan hệ ngược chiều
này cho thấy sự yếu kém trong khả năng quản lý chi phí ngoài trả lãi của các ngân
hàng Ukraina. Mối quan hệ này cũng cho thấy rằng sự cạnh tranh buộc các ngân
hàng Ukraina phải tiến hành cắt giảm chi phí, thay vì tăng lợi nhuận bằng cách tăng
phí hoặc lãi suất đối với khách hàng. Davydenko cũng lập luận rằng nếu một ngân
hàng quản lý chi phí ngoài trả lãi một cách hiệu quả thì khi có sự gia tăng chi phí,
ngân hàng có thể gia tăng biên độ lãi suất, từ đó sẽ nâng cao lợi nhuận.
1.4.1.4 Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng là một trong các yếu tố nội bộ quyết định lợi nhuận vì
trên thực tế các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng kinh doanh của mình bằng cách
tăng tài sản và nguồn vốn. Nói chung, các ngân hàng lớn có thể đạt được lợi nhuận
cao từ lợi thế kinh tế theo quy mô trong hệ thống ngân hàng. Biến số quy mô cũng
bao hàm các yếu tố về chi phí, đa dạng hóa sản phẩm và rủi ro. Một mối quan hệ
cùng chiều giữa quy mô và lợi nhuận của ngân hàng là kết quả thực nghiệm từ các
nghiên cứu của Smirlock (1985).
Có một lượng lớn các nghiên cứu về ảnh hưởng của lợi thế kinh tế theo quy
mô đến lợi nhuận ngân hàng. Akhavein và cộng sự năm 1997; Bourke năm 1989;
Molyneux và Thornton năm 1992; Bikker và Hu năm 2002; Goddard và cộng sự
năm 2004 chứng minh rằng lợi thế kinh tế theo quy mô là kết quả của mối quan hệ


14

cùng chiều giữa quy mô và lợi nhuận của ngân hàng. Mặt khác, lợi nhuận của các
ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa. Các ngân hàng tận
dụng lợi thế của sự đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nó cũng có
thể làm giảm lợi nhuận. Trong một nghiên cứu khác, Boyd, J.H. và D.E. Runkle
(1993) đồng ý rằng khái niệm lợi thế kinh tế theo quy mô liên quan đến quy mô của
ngân hàng. Về lý thuyết, nếu lợi thế kinh tế theo quy mô tồn tại, các tổ chức tài
chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với chi phí thấp hơn, trong điều

Bourke chỉ ra rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận vì
thực tế cho thấy các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và
thị trường tài sản tốt hơn, vì các ngân hàng này có ít rủi ro hơn. Hơn nữa, các ngân
hàng có tỷ lệ vốn cao, duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay, cũng có thể cải
thiện lợi nhuận.
Cùng quan điểm đó, Molyneux và Thornton (1992), Williams, Molyneux và
Thornton (1994) và Molyneux và Forbes (1995) cũng cho thấy một mối quan hệ
cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận trong thị trường ngân hàng châu Âu.
Thông qua mô hình kiểm định nhân quả Granger, Berger (1995) đã chỉ ra
mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tại các ngân
hàng của Mỹ trong những năm 1980, nhưng mối quan hệ này đã đổi chiều vào năm
1990. Trong nghiên cứu của mình, Berger mở rộng sự kiểm định bằng cách sử dụng
các chi phí phá sản dự kiến. Ông lập luận rằng chi phí bảo hiểm cho các khoản nợ
(không được bảo hiểm) thấp hơn sẽ tạo ra một tỷ lệ vốn và ROE cao hơn.
1.4.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô
1.4.2.1 Tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Đã có khá nhiều nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của tốc độ tăng
trưởng GDP lên lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xem
tốc độ tăng trưởng GDP như một biến giải thích cho lợi nhuận ngân hàng. Theo các
nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992), tỷ lệ tăng trưởng
GDP tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng. Kết quả thực nghiệm này được


16

khẳng định trong một số nghiên cứu khác của Hassan và Bashir (2003), Pasiouras
và Kosmidou (2007), và Kosmidou (2008), rộng hơn, các nghiên cứu này cho rằng
hiệu quả hoạt động của ngành tài chính tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng GDP.
Tại Brazil, Afanasieff và cộng sự (2002) đã sử dụng dữ liệu mảng để tìm ra
một điều đó là cũng giống như lạm phát kỳ vọng, tốc độ tăng trưởng GDP là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status